Trần Lựu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Lựu (?_?) là khai quốc công thần nhà Lê Sơ trong lịch sử Việt Nam. Ông là một trong các thủ lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn. Ông nổi tiếng trong chiến dịch Chi Lăng-Xương Giang và đã góp công lớn trong việc chém đầu Liễu Thăng ở ải Chi Lăng năm 1427.

Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Sử sách không chép rõ Trần Lựu gia nhập nghĩa quân Lam Sơn năm nào. Hiện nay chúng ta chưa biết Trần Lựu sinh và mất năm nào. Theo một số tư liệu cho biết ông là con của nghĩa sĩ Trần Lượng, đời Hậu Trần, quê ở xã Lỗ Tự, huyện Thượng Nguyên (nay là huyện Thiệu Hóa - tỉnh Thanh Hóa). Trần Lựu được theo họ của vua Lê nên cũng gọi là Lê Lựu. Cha ông giúp vua Trần Trùng Quang chống giặc Minh và hy sinh(12). Không biết ông theo Lê Lợi khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của quân Minh từ năm nào. Căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư thì đến năm 1426 - khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn tổng phản công mới thấy chép đến những hoạt động của ông trong trận đánh thành Khâu Ôn (Lạng Sơn): “Tháng 12 năm Bính Ngọ (1426) vua sai các tướng chia quân đi đánh các thành: Quốc Hưng đánh hai thành Điêu Diêu và Thị Cầu, Lê Khả và Lê Khuyển đánh thành Tam Giang, Lê Sát, Lê Thụ, Lê Lý, Lê Lãnh và Lê Triện đánh thành Xương Giang, Lê Lựu, Lê Bôi đánh thành Khâu Ôn (thuộc tỉnh Lạng Sơn - TG)(13).

Mặc dù trong chính sử đề cập đến việc Lê Lựu (tức Trần Lựu) tham gia đánh các trận lớn chống quân xâm lược Minh khá muộn, nhưng có lẽ ông phải là người tham gia vào nghĩa quân Lam Sơn từ khá sớm. Là người tài ba lão luyện trong việc cầm quân, nên Lê Lợi mới giao cho ông cùng Lê Bôi đánh đồn Khâu Ôn (Lạng Sơn) - một thành có vị trí quan trọng trong việc trung chuyển tiếp quân lương từ Trung Quốc sang. Không chỉ có vậy, đến năm 1427 Lê Lựu được giao một trọng trách rất lớn là trông coi việc quân đội ở toàn bộ phía biên giới Đong bắc của tổ quốc từ Lạng Sơn đến An Bang (tức Quảng Ninh ngày nay). Đại Việt sử ký toàn thư cho biết rõ: “Tháng riêng, mùa xuân, năm Đinh Mùi (1427): “hạ lệnh cho viên tổng tri coi việc quân dân Lạng Sơn và An Bang là Nhập nội Thiếu bảo Lê Lựu đem quân đi đánh giặc, cho quyền tiền trảm hậu tấu”(14). Mục đích của quân ta vào những ngày cuối năm 1426 - 1427 là tiêu diệt các thành Tam Giang, Điêu Diêu, Thị Cầu, Xương Giang, Khâu Ôn. Lê Lợi đã phái các tướng giỏi tiến công các thành này. Thành Tam Giang (vùng Việt Trì - Phú Thọ) do Trịnh Khả và Lê Khuyển phụ trách, thành Khâu Ôn (thuộc Lạng Sơn) do Lê Bôi và Trần Lựu chỉ huy, thành Xương Giang do Lê Sát và Lê Thụ chỉ huy, thành Thị Cầu (Bắc Ninh) do Nguyễn Chích chỉ huy: Tất cả những thành này vào năm cuối 1426 đã bị quân ta xiết chặt vùng vây. Tháng 3 năm 1427 quân địch ở thành Thị Cầu do Đường Bảo Trinh cầm đầu đã xin đầu hàng.

Riêng với thành Khâu Ôn vào cuối năm 1426, đầu 1427 do tướng Trần Lựu và Lê Bôi chỉ huy đã kiên trì vây hãm lâu ngày, lương thực cạn nên quân địch hoang mang, đa số bỏ trốn. Việc đánh thành Khâu Ôn có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn ứng viện của địch từ phía Quảng Tây sang. Nhận thức được vai trò của vị trí này nên tướng địch là Từ Lân và Thái Ngung phải tử thủ thành này. Kết quả là ngày 13, tháng giêng, năm 1427, Lê Lợi, Lê Bôi sau bao ngày đêm đánh thành, quân Minh chống đỡ không nổi đang đêm phải chạy trốn(15). Theo Lam Sơn thực lục, năm Bính Ngọ (1426), sau khi đại phá quân Minh ở trận Tốt Động-Chúc Đông,Lê Lợi sai ông cùng Lê Bôi đánh thành Khâu Ôn. Trong một thời gian ngắn, ông đã hạ được thành.

Phá quân Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đinh Mùi (1427), ngày 10 tháng 6 tướng Minh là Trấn Viễn Hầu đem năm vạn quân và một nghìn ngựa từ Quảng Tây sang cứu viện các thành. Đến cửa Pha Lũy, ông cùng Lê Bôi phá tan quân giặc, chém hơn ba nghìn đầu, bắt năm trăm ngựa, rồi rút về. Nhằm cứu vãn tình thế, vào ngày 10 tháng 6 năm 1427, Cố Hưng Tổ nhà Minh đem theo 5 vạn quân cùng 5 ngàn cỗ ngựa từ Quảng Tây sang cứu viện các thành. Đến cửa ải Pha Lũy (tức cửa Nam Quan hay còn gọi là Hữu Nghị Quan), đã bị tướng Trần Lựu, Lê Bôi đón ngay tại cửa ải, phá tan quân giặc, chém trên 3000 thủ cấp, bắt được hơn 500 ngựa, Hưng Tổ thua to phải chạy về nước(16).

Chém đầu Liễu Thăng[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1427, vua Minh cử hai mươi vạn binh, ba vạn ngưa, chia làm hai đường sang cứu viện thành Đông Đô. Liễu Thăng tiến quân theo đường Khâu Ôn, còn Mộc Thạnh tiến quân theo đường Vân Nam. Ngày 18 tháng 9 đều đến đầu địa giới.

Trước Trần Lựu giữ cửa Pha Lũy, thấy giặc đến, lui về cửa Ải Lưu. Giặc lại tiến đánh, ông lại bỏ cửa Ải Lưu mà lui giữ Chi Lăng. Giặc lại tiến bức Chi Lăng. Lê Sát vàlê Nhân Chú ngầm sai ông ra đánh, giả thua mà chạy. Giặc cả mừng. Liễu Thăng thân đem đại cbinh tiến vào chỗ có phục binh. Sát và Chú tung cả phục binh bốn mặt đều dậy xông đánh. Quân giặcvỡ to. Chẽm được Liễu Thăng và Lý Khánh cùng hơn vạn đầu quân giặc, chiến khí của giặc một lúc bị đốt hết. Trần Lựu, Lê Bôi và nghĩa quân không chỉ có công đánh bại đoàn quân tiếp viện của Cố Hưng Tổ với những chiến công lẫy lừng ngay khi chúng mới bước chân vào bờ cõi nước ta mà vị tướng lão luyện này đã thể hiện một nghệ thuật nhử địch vào trận địa của ta với cách đánh chủ động, bất ngờ và mưu trí: Tại Ải Lưu: một cửa ải từ Khâu Ôn đến Chi Lăng vùng giáp hai xã Nhân Lý và Sao Mai (huyện Chi Lăng ngày nay) do tướng Trần Lựu chỉ huy.Vào ngày 8 tháng 10 năm 1427 (tức ngày 18 tháng 9 năm Đinh Mùi) đại quân của Liễu Thăng tiến vào cửa ải Pha Lũy, thấy giặc đến cửa ải Pha Lũy, Trần Lựu bỏ ải Pha Lũy lui vào đóng ở Chi Lăng. Giặc lại tiến quân uy hiếp Chi Lăng. Trần Lựu giả vờ thua chạy. Giặc tỏ ra kiêu ngạo vui mừng, cùng đoàn quân ồ ạt tiến thẳng vào ải Chi Lăng. Chúng thật không ngờ rằng chúng đã lọt vào trận địa mai phục của ta. Liễu Thăng cùng hơn 100 kỵ binh hung hăng tiến lên đuổi theo Trần Lựu. Ngày 20 tháng 10 số kiếp của đội quân hiếu chiến đã được định đoạt. Lúc này, đội quân mai phục của Lê Sát, Lưu Nhân Chú tung hết ra, bốn mặt đều nổi dậy xông vào đánh giặc. Quân giặc thua to. Chém được Liễu Thăng ở núi Mã Yên và hơn một vạn thủ cấp quân giặc. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã mô tả về chiến thắng này như sau:

“Tháng 10 cùng năm ấy, Mộc Thạch cũng chia đường từ Vân Nam kéo đến.

Ta trước đó chẹn hiểm bẻ mũi tiên phong. Rồi sau lại chặn đường cắt nguồn lương giặc.

Ngày 18 tháng ấy, Liễu Thăng bị quân ta tấn công, rừng Chi Lăng mưu đồ đổ sập.

Ngày 20, Liễu Thăng bị quân ta đánh bại, núi Mã Yên tử trận phơi thây(17).

Chỉ trong thời gian chưa đầy 1 tháng, với số quân đông (chưa đầy 4 vạn) dưới sự lãnh đạo tài tình như Trần Lựu, Lê Bôi, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú, chiến cục Chi Lăng, Xương Giang đã nhanh chóng đẩy quân địch vào thế bị động, lúng túng và thất bại. Ngược lại nghĩa quân của ta ngày càng giành thế chủ động, gây cho địch bất ngờ không kịp trở tay. Nhận định về chiến thuật của Trần Lựu, các tác giả sách Khởi nghĩa Lam Sơn có nhận xét rất chính xác. “Về những nhận xét của Trần Lựu, sử cũ ghi chép rất sơ lược. Nhưng rõ ràng Trần Lựu đã nhử địch rất tài tình, Liễu Thăng thực sự đã “thua kế” quân ta. Với số quân rất ít, Trần Lựu vừa chống đỡ, vừa “thua chạy” liên tiếp rút lui. Các trận đánh nhử địch của Trần Lựu diễn ra từ Pha Lũy đến ải Chi Lăng, trên quãng đường độc đạo hiểm trở dài trên 60km, hai bên là núi đá dựng đứng. Liễu Thăng cứ thúc quân ào ạt đuổi theo, những trận rút lui tài tình của Trần Lựu thật sự đã mở đường cho đại thắng Chi Lăng ngay sau đó”(18).

Có thể nói rằng, với nghệ thuật nhử địch tài tình của Trần Lựu ở cửa ải Pha Lũy, Chi Lăng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thế kỷ XV, giúp ta liên tưởng đến chiến thuật nhử địch vào bãi cọc của Ngô Quyền trong trận Bạch Đằng ở thế kỷ thứ X. Những chiến công trên của tướng quân Trần Lựu đã minh chứng cho tài thao lược dũng cảm, đóng góp đáng kể vào kho tàng nghệ thuật quân sự nước ta.

Những đóng góp của Trần Lựu về mặt quốc phòng sau cuộc kháng chiến chống quân Minh toàn thắng[sửa | sửa mã nguồn]

ThaCuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược sau 10 năm bền bỉ, kiên trì, gian khổ “nếm mật nằm gai” đã toàn thắng, đất nước sạch bóng quân thù. Nói như Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo...[sửa | sửa mã nguồn]

"Để mở nền thái bình muôn thuở

Để rửa mối sỉ nhục ngàn thu (...)

Một gươm đại định, nên công oanh liệt vô song

Bốn biển thanh bình, ban chiếu lệnh duy tân khắp nước."

Các vị tướng có công trong cuộc kháng chiến đều được trọng thưởng. Sử chép ngày 3 tháng 5 năm Kỷ Dậu (1429) ban biên ngạch cho 93 công thần nhưng không thấy có tên Trần Lựu (nay Lê Lựu), chỉ biết rằng ông được ban quốc tính (họ vua)(19). Sau chiến thắng ấy, những nhân vật làm nên lịch sử được thưởng công với các phẩm trật khác nhau, nhưng cũng sau đó không lâu, nhiều người bị sát hại, hoặc bỏ tù như Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi... Còn Trần Lựu, trong một thời gian dài kể từ năm 1427 đến năm 1436 (10 năm) không thấy chính sử chép đến những hoạt động của ông. Đại Việt sử ký toàn thư có 5 lần nhắc đến các hoạt động, những công việc của Trần Lựu vào các năm sau cuộc kháng chiến: 1436, 1456 (2 lần), 1459, 1460. Có thể nhận thấy rằng những thông tin về ông tuy ít ỏi, rời rạc, thời gian gián đoạn nên chúng ta không thể biết được nhiều hơn. Nhưng qua những dòng sử này, cho ta thấy Trần Lựu vẫn là một “người lính”, một “lưu quan” trên mặt trận quân sự bảo vệ tổ quốc ở trấn Tuyên Quang và Thanh Hóa xa xôi. Sử chép: “năm Bính Thìn [Thuận Bình] năm thứ 3 (1436), mùa thu, tháng 7 (...) lấy Tuyên phủ đại sứ Thái Nguyên hạ bạn là Lê Lôi làm Xã kỵ đồng Tổng quản kiêm Đô tổng quản phủ lộ Thanh Hóa, Tuyên úy đại sứ trấn Tuyên Quang là Trần Lựu làm Kim ngô vệ đồng Tổng quản kiêm Đô tổng quản lộ Thanh Hóa”(20).

Không biết ông đảm nhận chức này trong thời gian bao lâu, chỉ biết rằng 20 năm sau (1456) Trần Lựu giữ chức quan trông coi việc an ninh trong kinh thành. Quốc sử còn ghi: tháng 2 năm Bính Tý (1456): “Ra lệnh cho bọn Nhập nội Tư đồ Bình chương sự Lê Hiệu, Nhập nội Đô đốc Bình chương sự Lê Lựu trông coi việc giữ thành trì, ngày đêm nghiêm ngặt tuần phòng trong ngoài theo đúng phép”(21). Nhưng sau đó, một tháng sau không biết vì lý do gì ông phải tiếp tục đi làm lưu quan ở Tây Đạo (gồm vùng Tam Giang, Hưng Hóa, Tuyên Quang và Gia Hưng). Qua lời tâu từ chối nhận bổng lộc của ông, cho thấy ông là một người khí khái, bộc trực và lúc này có lẽ ông đã già, chán ghét bọn hoạn quan chuyên quyền, bọn xiểm nịnh được tin dùng, kẻ đao bút được tiến cử: ngày 23 tháng 3 năm Bính Tý (1456) Diên Ninh thứ 3: cấp tiền lương bổng hàng năm cho các thân vương, công chúa đại thần và các quan võ theo thứ bậc khác nhau, Tây đạo Đô đốc Lê Lựu tâu rằng: “Thần đã thấy dân chúng khốn khổ quẫn bách, dẫu một đồng nhỏ nhoi cũng coi bằng 10 đồng. Do vậy, thần xin không nhận tiền lương hàng năm. Bệ hạ không coi thần có tội, ban riêng cho thêm 50 hộ, lại thêm tiền lương bổng 1 năm, thì thu nhập tất lại tăng rất nhiều. Nay đương cấp tiền lương hàng năm cho các quan, thần xin được từ chối không nhận”(22). Và sự kiện cuối cùng viết về ông trong Đại Việt sử kí toàn thư là việc ông đi đánh giặc ở Bồn Man vùng Tây Bắc: “Tháng 12 năm 1460, sai Thái phó Lê Lựu, Thái bảo Lê Lăng dẫn các quân chia đường đi đánh họ Cầm (Tức họ Lai Cầm, tù trưởng Bồn Man)(23).

Có thể nói rằng, Trần Lựu là một người từng trải, cả cuộc đời ông gắn với binh nghiệp. Ông đã có công lao lớn, một vị tướng có tài trong cuộc kháng chiến chống quân Minh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc những năm hòa bình độc lập. Cuộc đời của ông trải qua những năm tháng kháng chiến chống quân xâm lược Minh gian khổ và tiếp đó ít nhất là bốn đời vua: Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông với những đóng góp nổi bật. Ta có thể tạm chia làm hai giai đoạn: giai đoạn trai trẻ trước cuộc kháng chiến chống Minh ông luôn gắn bó với miền Đông Bắc từ Tuyên Quang đến Quảng Yên (Quảng Ninh) và giai đoạn còn lại của cuộc đời (sau cuộc kháng chiến toàn thắng), ông lại gắn bó nhiều năm với vùng Tây Đạo - phía tây bắc - nơi biên giới xa xôi của Tổ quốc.

Từ những vấn đề trình bày ở trên chúng tôi cho rằng, văn bản thần tích về Trần Lựu đã được người đời sau biên soạn thêm vào những chi tiết không đúng với sự thật lịch sử. Và Trần Lựu được thờ làm thành hoàng ở đình Thanh Hà, phố Ngõ Gạch (Hà Nội) là một nhân vật có thật - một vị tướng tài ba có đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đầu thế kỷ XV. Hơn nữa, qua những tư liệu viết về Trần Lựu, cho chúng ta biết ông còn một vị tướng - một nhà quân sự suốt đời gắn bó với mảnh đất vùng Đông Bắc và Tây Bắc của Tổ quốc trong suốt cuộc kháng chiến và những thập kỷ đầu của vương triều Lê sơ (nửa đầu thế kỷ XV).m khảo[sửa | sửa mã nguồn]