Trần Pháp Lạp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trần Pháp Lạp
Fala Chen
FalaChen cropped.jpg
Trần Pháp Lạp vào năm 2005
Thông tin nghệ sĩ
Phồn thể陳法拉 (phồn thể)
Giản thể陈法拉 (giản thể)
SinhTrần Pháp Lạp
24 tháng 2, 1982 (37 tuổi)
Thành Đô, Tứ Xuyên,  Trung Quốc
Cư trú Hồng Kông
 Trung Quốc
Tên khácFala Chen
Dân tộcHoa
Mỹ
Nghề nghiệpDiễn viên truyền hình
Diễn viên điện ảnh
Diễn viên lồng tiếng
Diễn viên kịch nói
Người mẫu
Người mẫu ảnh
Người viết tiểu thuyết
Người dẫn chương trình
Ca sĩ
Năm hoạt động2005 - nay
Quốc tịch Hồng Kông
 Trung Quốc
 Mỹ
Công ty quản lýTVB (2005 - 2013)
Stars Shine International (2010 - 2012)
Zhong Zhen (2013 - nay)
Hãng phim Đường Nhân (2014 - ?)
Thể loạiCantopop
Nhạc cụGiọng hát
Hãng đĩaTVB (2005 - 2013)
Stars Shine International (2010 - 2011)
Phối ngẫuDaniel Sit (2008 - 2013)
Emmanuel Straschnov (2019 - nay)
QuêThành Đô, Tứ Xuyên,  Trung Quốc
WebsiteTrần Pháp Lạp

Trần Pháp Lạp có tên tiếng Anh là Fala Chen (sinh ngày 24 tháng 02 năm 1982 tại Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc) là một nữ diễn viên truyền hình-diễn viên điện ảnh, diễn viên lồng tiếng, diễn viên kịch nói, người mẫu, người mẫu ảnh, người viết tiểu thuyết, người dẫn chương trình kiêm ca sĩ nổi tiếng người Mỹ gốc Trung Quốc. Cô từng là diễn viên độc quyền của hãng TVB. Trần Pháp Lạp được khán giả biết đến qua các vai chính trong các bộ phim truyền hình ăn khách của Hồng Kông như: Điệu vũ cuộc đời, Công chúa giá đáo, Sức mạnh tình thân, Đông cung tây lược, Tiềm hành truy kích, Nghĩa hải hào tình, Bao la vùng trời 2,...... Những bộ phim truyền hình có sự tham gia diễn xuất của cô đã mang lại nhiều giải thưởng nổi bật về điện ảnh như: Nữ diễn viên được yêu thích nhất, Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất, Nữ diễn viên tiến bộ nhất, Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất,..... Bên cạnh công việc đóng phim, Trần Pháp Lạp còn "tấn công" sang lĩnh vực âm nhạc với vai trò là ca sĩ. Cô cho ra mắt một số các ca khúc khá nổi tiếng và cũng gây nhiều tiếng vang "không hề nhỏ" trên thị trường âm nhạc Hồng Kông thời bấy giờ như: Một nửa, Chuộc tội, Yêu chim, Phi luyến chi tình (ft Mã Tuấn Vỹ), Ai shang niao, Shu zui, Yi ban, .... Ngoài ra, Trần Pháp Lạp còn thể hiện một số các ca khúc nhạc phim của TVB và cũng đạt được nhiều thành công ngoài mong đợi, mà điển hình là ca khúc Vẻ đẹp khiếm khuyết (OST Đông cung tây lược) của cô khá thành công khi chỉ vừa mới ra mắt khán giả những ngày đầu phát sóng bộ phim. Ca khúc đánh dấu bước đầu sự nghiệp ca hát và đã đem lại cho cô giải thuởng "Ca khúc nhạc phim được yêu thích nhất". "Thừa thắng xông lên", cô cho phát hành album đầu tay - và cũng là album duy nhất của cô "Beautiful Life" do công ty âm nhạc vô cùng chuyên nghiệp và danh giá nhất ở xứ Cảng Thơm "Stars Shine International" đồng thực hiện và sản xuất. Đồng thời, cô cũng "ưa ái" và xuất sắc nhận được nhiều giải thưởng danh giá về âm nhạc như: Ca sĩ tiềm năng, Ca sĩ mới, Ca sĩ triển vọng, Ca sĩ có lượng đĩa tiêu thụ nhiều nhất,...., trong đó đáng chú ý nhất phải kể đến là giải thưởng "Album của năm" được Hội đồng Âm nhạc Hồng Kông bình chọn và trao giải vào năm 2012. Đây chính là giải thưởng khẳng định phần nào tên tuổi và tài nghệ ca hát của cô vô cùng nổi trội trong ngành công nghiệp giải trí Hoa ngữ nói chung và Hồng Kông nói riêng đầy khắc nghiệt thời bấy giờ. Album "vàng" này của cô còn giúp cô nhận thêm giải thưởng "Album có lượng tiêu thụ nhiều nhất châu Á". Để có thể lọt vào "mắt xanh" của những vị giám khảo vô cùng khắc khe và tinh vi thì đó là một điều không hề dễ dàng, đặc biệt là đối với những ai như cô khi mới bước chân vào làng nhạc xứ Hương Cảng này. Nhưng Trần Pháp Lạp không hề ngại khó khăn, gian lao mà tự lực cánh sinh, tự đi bằng đôi chân của mình. Chính như những nỗ lực ấy "động viên" và "khuyên nhủ" mà giờ đây cô đã trở thành một ngôi sao hạng A rất được khán giả yêu mến và dành nhiều trân trọng đối với bản thân của mình. Không những thế, cô còn được mời về lồng tiếng cho nhân vật Lucy Wilde trong bộ phim điện ảnh thiếu nhi vô cùng "hot" "Despicable 3" của phiên bản tiếng Quảng Đông vào năm 2017. Lần đầu được trải nghiệm và thử thách với vai trò mới là diễn viên lồng tiếng, cô chia sẻ rằng đây là một trong những lĩnh vực mà cô yêu thích nhất, và Trần Pháp Lạp còn chia sẻ rằng cô hứa sẽ cố gắng hoàn thiện nhiều khuyết điểm của những lĩnh vực mà cô đã và đang "lấn sân" để rút ra nhiều kinh nghiệm cho bản thân, để có thể trở thành một nghệ sĩ "đa năng" có thể thực hiện nhiều dự án nghệ thuật khác nữa. Nhờ lối diễn đúng đắn, thẳng thắn pha lẫn một chút "nhẹ nhàng" và "ma mị" nhưng đầy "xuất thần" cùng với giọng hát trong trẻo, dịu êm "đôi tai" người nghe và khuôn mặt đầy nét đẹp tự nhiên và trẻ trung, cô được khán giả cũng như giới truyền thông hâm mộ xếp vào hàng ngũ "Ngũ Đại Hoa Đán" cùng với Dương Di, Chung Gia Hân, Từ Tử San và Hồ Hạnh Nhi. Năm 2013, Trần Pháp Lạp rời hãng TVB.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Pháp Lạp sinh ra và lớn lên ở Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc. Năm 14 tuổi cô di cư sang Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ cùng với gia đình.[1] Cô tốt nghiệp Đại học Emory ngành Quản trị kinh doanh vào tháng 5 năm 2005.

Năm 2002, Trần Pháp Lạp đại diện bang Georgia tham gia và đăng quang tại cuộc thi Hoa hậu Miss Asian America Pageant.[2][3] Năm 2003, Trần Pháp Lạp giành giải Á hậu thứ nhất tại cuộc thi hoa hậu Miss Chinatown USA được tổ chức tại San Francisco.[2] Năm 2004, cô đăng quang tại cuộc thi hoa hậu Miss NY Chinese và giành cơ hội tham dự cuộc thi Hoa hậu Hoa Kiều thế giới được tổ chức tại Hồng Kông. Tại cuộc thi này Trần Pháp Lạp giành giải Á hậu thứ nhất và cô bắt đầu nổi tiếng hơn.[2][4][5]


Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

2005–2006: Bước chân vào lĩnh vực truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tốt nghiệp đại học Emory năm 2005, Trần Pháp Lạp chuyển đến Hồng Kông để bắt đầu sự nghiệp điện ảnh. Nhờ vào thành tích Á hậu cuộc thi hoa hậu Hoa Kiều thế giới 2005, cô ký được hợp đồng 8 năm với TVB. Cô tham gia nhiều show truyền hình trên kênh TVB8 trước khi bắt đầu tham gia vai diễn đầu tiên trong bộ phim Bằng chứng thép với vai diễn kẻ sát nhân.

2007–2009: Bước ngoặt sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, cô lần đầu giành giải Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất với phim Điệu vũ cuộc đời. Bộ phim này cũng giúp cô được đề cử giải "Nữ nhân vật được yêu thích" và "Nữ diễn viên tiến bộ nhất". Ngoài ra cô cũng nhận được đề cử "Nữ diễn viên tiến bộ nhất" cho vai diễn trong phim Sóng gió gia tộcThử thách hôn nhân

Năm 2008 là năm bước ngoặt đối với Trần Pháp Lạp với vai cô gái câm Cam Vĩnh Khanh trong bộ phim Sức mạnh tình thân. Bộ phim được khán giả đánh giá cao và nhận được điểm số trung bình là 47 điểm và điểm cao nhất là 50 điểm.[2][6][7] Đề hoàn thành tốt vai diễn này cô phải học ngôn ngữ ký hiệu dành cho người câm. Vai diễn này giúp cô giành được đề cử cho hai hạng mục "Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất" và "Nữ nhân vật được yêu thích nhất" năm thứ hai liên tiếp.

Năm 2009, cô một lần nữa được đề cử giải "Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất" và "Nữ nhân vật được yêu thích nhất" với bộ phim Gia vị cuộc đời.

2010 - nay: Được giao cho vai chính và tấn công sang lĩnh vực ca hát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Trần Pháp Lạp giành được giải Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại Giải thưởng thường niên TVB 2010 với bộ phim Nghĩa hải hào tình. Bộ phim này cũng giúp cô giành giải Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất tại Asian Television Award được tổ chức tại Singapore. Cô là một trong số ít diễn viên tham gia nhiều phim trong cùng một năm với tổng cộng 5 phim trong năm 2010.

Sau những thành công đó Trần Pháp Lạp bắt đầu được trao cho vai diễn chính trong các bộ phim Tiềm hành truy kích (2011), Đông cung tây lược (2012) và Bao la vùng trời 2 (2013).

Năm 2013, hợp đồng của Trần Pháp Lạp và TVB kết thúc và cô tự nguyện không gia hạn thêm hợp đồng với TVB.Sau đó cô sang Đại Lục để đóng phim và không còn nhiều hoạt động diễn xuất tại Hồng Kông như trước đây nữa.

Năm 2014, cô tham gia bộ phim truyền hình của Trung Quốc "Phong trung kỳ duyên" với vai diễn Tần Nương.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2009, Trần Pháp Lạp đã bắt đầu tham gia vào lĩnh vực âm nhạc. Cô là ca sĩ thể hiện các ca khúc nhạc phim cho các bộ phim truyền hình của TVB như: Gia vị cuộc đời, Sự cám dỗ nguy hiểm, và Đông cung tây lược. Năm 2010, Trần Pháp Lạp ký hợp đồng với công ty âm nhạc Stars Shine International và phát hành album đầu tay "Beautiful Life" vào ngày 31 tháng 7 năm 2012. Cô cũng là ca sĩ khá ăn khách trên thị trường âm nhạc Hồng Kông thời bấy giờ.

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Tên phim tiếng Anh Vai diễn Ghi chú
2006 Bằng chứng thép Forensic Heroes Dung Tuệ Khách mời
2007 Tuyệt thế anh tài The Ultimate Crime Fighter Ada Khách mời
Sóng gió gia tộc Heart of Greed Đường Chí Hân Đề cử – Nữ diễn viên tiến bộ nhất
Quan hệ đồng nghiệp Best Selling Secrets Đỗ Băng Băng Guest Star ep. 28
Thử thách hôn nhân The Family Link Angela Đề cử – Nữ diễn viên tiến bộ nhất
Điệu vũ cuộc đời Steps Trình Gia Mân Đoạt giải - Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử – Nữ nhân vật được yêu thích nhất (Top 20)
Đề cử – Nữ diễn viên tiến bộ nhất
2008 Đường sinh mệnh A Journey Called Life Thành Mĩ Tâm
Tình hiệp đạo Catch Me Now Khang Mĩ Lệ
Sức mạnh tình thân Sức mạnh tình thân Cam Vĩnh Khánh Đề cử – Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử – Nữ nhân vật được yêu thích nhất
Tình yêu tuyệt vời Colours Of Love Trần Hộ Sĩ Khách mời
2009 Gia vị cuộc đời The Stew of Life Ngô Thái Ni Đề cử – Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đề cử – Nữ nhân vật được yêu thích nhất
2010 Những trái tim si tình In the Eye of the Beholder Chu Đình Ngọc
Ân tình hồ ly Ghost Writer Lệnh Hồ Tiểu Thúy Đề cử - Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Công chúa giá đáo Cant Buy Me Love Tư Đồ Ngân Bình Đề cử - Nữ nhân vật được yêu thích nhất
Nghĩa hải hào tình No Regrets Lưu Tình Đoạt giải - Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
Đoạt giải - Asian Television Award for Best Actress in a Supporting Role
Sự cám dỗ nguy hiểm Links to Temptation Hùng Lãng Kiều
2011 Nữ quyền bảo chi lâm Grace Under Fire Quỳ Hoa
Tiềm hành truy kích Lives of Omission Chu Vọng Tình Đề cử — Giải thưởng thường niên TVB cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử — Giải thưởng thường niên TVB cho Nữ nhân vật được yêu thích nhất
My Astro On Demand Awards for My Favorite Characters
2012 Đông cung tây lược Queens of Diamonds and Hearts Chung Vô Diễm Đề cử - Giải thưởng thường niên TVB cho Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất
Đề cử - Giải thưởng thường niên TVB cho Nữ nhân vật được yêu thích nhất
2013 Bao la vùng trời 2 Triumph in the Skies II Hà Niên Hi
Pháp ngoại phong vân Will Power Thẩm Duyệt Cần
2014 Phong trung kỳ duyên Sound of the Desert Tần Tương Phim truyền hình Trung Quốc

Màn ảnh rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm phát hành Tiêu đề Vai Ghi chú
2009 Turning Point
《Laughing Gor之变节》
Karen and Jodie Đề cử - HKFA Diễn viên mới xuất sắc nhất
2010 Black Ransom
《撕票風雲》
Superintendent Koo
72 Tenants of Prosperity
《72家租客》
Xiu Tou Hung
小桃紅
2011 I Love Hong Kong
《我愛HK 開心萬歲》
Lee Kei (Nikki)
李琪
The Fortune Buddies
《勁抽褔祿壽》
Sister Man
蚊姐
2013 Tales from the Dark II
《奇幻夜》
Chow Jing Ee
2015 Secret Treasure[8]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên album Thông tin
2012 Beautiful Life
Ngày phát hành: 31 tháng 7 năm 2012
Công ty quản lý: Star Shine International
Album đầu tiên

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng thường niên TVB

Asian Television Awards

  • Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
    • 2011: Nghĩa hải hào tình

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên straithardlyint
  2. ^ a ă â b Yan, Seto Kit (ngày 9 tháng 3 năm 2010). “The right moves: Fala Chen discovers her love for ballroom dancing in Steps”. The Star Online (Malaysia). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ “A county of beauties: Confidence carries contestants to top of competitions”. The Atlanta Journal-Constitution. Ngày 25 tháng 7 năm 2003. 
  4. ^ Hauser, Brooke (ngày 12 tháng 8 năm 2007). “The Rainbow Runway”. The New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2013. 
  5. ^ “Miss NY Chinese 2004”. 纽约华裔小姐. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2008. 
  6. ^ “《溏心風暴》收視飄紅 有望勝過《大長今》”. 新浪娛樂. Ngày 1 tháng 6 năm 2007. 
  7. ^ 《溏心風暴》收視超高 結局收視創近5年新高 (bằng tiếng Trung). 騰訊娛樂. Ngày 6 tháng 6 năm 2007. 
  8. ^ Kevin Ma (ngày 16 tháng 7 năm 2014). “Bona launches Secret Treasure”. Film Business Asia. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và thành tích
Giải thưởng thường niên TVB
Tiền nhiệm:
Dương Tư Kỳ
với phim Đội cứu hộ trên không
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
2007
với phim Điệu vũ cuộc đời
Kế nhiệm:
Dương Di
với phim Sức mạnh tình thân
Tiền nhiệm:
Tuyết Tâm
với phim Xứng danh tài nữ
Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất
2010
với phim Nghĩa hải hào tình
Kế nhiệm:
Trần Mẫn Chi
với phim Tòa án lương tâm
Miss Chinese International Pageant
Tiền nhiệm:
Mandy Cho
1st runner up
2005
Kế nhiệm:
Ginney Kanchanawat