Trần Tử Oai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRẦN TỬ OAI
Tiểu sử
Sinh Tháng 11 năm 1921
Sài Gòn, Việt Nam
Mất 2001 (80 tuổi)
Paris, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1940-1965
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Đơn vị ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Hiệu kỳ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.png TTHL Quang Trung
Cờ Bảo quốc an dân.png Đ.P.Quân và N.Quân
VNNMA-Emblem.svg Võ bị Đà Lạt
Chỉ huy Flag of France.svg QĐ Thuộc địa Pháp
Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Công việc khác Tổng trưởng Thông tin

Trần Tử Oai (1921-2001), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị do Chính quyền Bảo hộ Pháp mở ra ở miền Bắc Việt Nam, nhằm huấn luyện người bản xứ trở thành quân nhân phục vụ cho Quân đội Thuộc địa. Dù được đào tạo căn bản là một sĩ quan Bộ binh, nhưng hầu hết thời gian tại ngũ của ông lại đảm trách về lãnh vực Tham mưu Văn phòng mà không phải trải qua lãnh vực chỉ huy đơn vị tác chiến. Ông là một trong số ít sĩ quan được phong cấp tướng ở Chính thể Đệ nhất Cộng hòa (Thiếu tướng 1962).

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 11 năm 1921 tại Sài Gòn, miền Đông Nam phần Việt Nam trong một gia đình khá giả.[1]Thời niên thiếu, ông học Tiểu và Trung học theo giáo trình Pháp tại Sài Gòn. Năm 1939, ông tốt nghiệp Trung học Đệ nhất cấp với văn bằng Thành chung.

Quân đội Thuộc địa Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1940, ông nhập ngũ vào Quân đội của Chính quyền Thuộc địa Pháp tại Đông Dương, mang số quân: 41/101.232. Theo học tại trường Võ bị Tông, Sơn Tây. Đầu năm 1941 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Ra trường, ông được về phục vụ trong Lực lượng Vệ binh bản xứ với chức vụ Trung đội trưởng.

Năm 1945, khi quân Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, Lực lượng Vệ binh bản xứ được người Nhật tổ chức lại thành Lực lượng Bảo an binh. Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đã tổ chức lại Lực lượng Bảo an binh thành Cộng hòa Vệ binh, còn gọi là Đệ nhất Sư đoàn. Ông cùng với Kiều Công Cung, Trương Văn Giàu, Nguyễn Văn Quan trở thành những chỉ huy của Cộng hòa Vệ binh.

Quân đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1946, sau khi quân Pháp tái chiếm Nam kỳ, ông trở lại phục vụ trong Quân đội Pháp, được thăng cấp Thiếu úy và được cử làm Đại đội trưởng. Khi Chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1948, ông được thăng cấp Trung úy, chuyển biên chế sang Quân đội Liên hiệp, ông được cử làm Phụ tá Văn phòng trưởng cho Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 12 năm 1950, Quốc gia Việt Nam chính thức thành lập Quân đội, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Tháng 7 năm 1953, ông được thăng cấp Thiếu tá, chuyển nhiệm vụ sang Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia và được chỉ định vào chức vụ Tham mưu phó Bộ Tổng tham mưu kiêm Trưởng phòng Tác động Tinh thần[2]thay thế Trung tá Trần Đình Lan.[3]Ông từng tiếp đón phái đoàn của tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) tại trụ sở của Đệ nhất Đại đội Võ trang Tuyên truyền khi tướng Ba Cụt vào Sài Gòn. Cuối năm này, ông được lệnh bàn giao chức vụ Tham mưu phó Tác động Tinh thần lại cho Thiếu tá Nguyễn Phước Đàng[4]

Tháng Giêng năm 1954, ông được thăng cấp Trung tá, chuyển sang lĩnh vực Quân huấn làm Chỉ huy trưởng đầu tiên Trung tâm Huấn luyện số 1 tại Quán Tre.[5] Khoảng giữa năm 1954, Thiếu tá Đỗ Mậu đến vận động ông ủng hộ Thủ tướng Ngô Đình Diệm nhưng vấp phải sự phản đối quyết liệt của ông.[6]

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Vị tướng "không quân" và những cuộc đảo chính

Mặc dù vậy, nhưng khi Chính thể Việt Nam Cộng hòa được thành lập vào năm 1955, ông tiếp tục phục vụ cho Quân đội Việt Nam Cộng hòa ở chức vụ cũ. Tuy nhiên, ông không được Tổng thống Ngô Đình Diệm tín nhiệm do trong quá khứ ông đã ủng hộ tướng Nguyễn Văn Hinh. Tháng 12 năm 1956, sau khi được lệnh bàn giao Trung tâm Huấn luyện Quán Tre lại cho Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ, ông được thăng cấp Đại tá và được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Bảo an và Dân vệ (một chức vụ không có thực quyền) thay thế ông Tôn Thất Trạch.

Tháng 8 năm 1962, ông được thăng cấp Thiếu tướng và lần lượt được bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm Huấn luyện Chiêu hồi, Tổng Giám đốc Chương trình diệt trừ sốt rét, Giám đốc Nha Chiến tranh tâm lý (những vị trí chẳng liên quan gì đến quân sự).

Giữa năm 1963, biến cố Phật giáo nổ ra, làm căng thẳng thêm tình hình chính trị của Chính thể Việt Nam Cộng hòa do những cáo buộc độc tài gia đình trị đối với Tổng thống Diệm. Trong giới quân sự, ông tham gia nhóm các tướng lĩnh gây áp lực đòi Tổng thống Diệm cải tổ Chính phủ. Trong những yêu cầu cải tổ đó, ông được dự kiến cho chức vụ Tổng trưởng Công dân vụ.[7][8] Tuy nhiên, những đề nghị đều bị Tổng thống Diệm bác bỏ. Tuy nhiên, ông được Tổng thống Diệm chỉ định làm một thành viên tham gia điều trần của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước phái đoàn Liên Hiệp Quốc sang Nam Việt Nam để điều tra tình hình Tôn giáo. Dù những lời điều trần của ông được cho là mang tính chất bênh vực cho Chính phủ, nhưng ông vẫn tham gia vào âm mưu đảo chính lật đổ Tổng thống Diệm không lâu sau đó. Trớ trêu thay, một người đồng mưu đảo chính lại chính là Đại tá Đỗ Mậu, người vận động ông bất thành năm 1954.

Cuộc đảo chính thành công và 2 anh em Tổng thống Diệm chết trong một hoàn cảnh bí ẩn. Ngày 4 tháng 11 năm 1963, Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ được thành lập, ông được cử làm Tổng trưởng Thông tin trong Nội các kiêm phát ngôn viên của Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Trên cương vị này, ngày 6 tháng 11 ông có một tuyên bố gây tranh cãi trong một cuộc họp báo về cái chết của 2 anh em ông Diệm và Nhu là do một “tai nạn tự tử” sau khi Cố vấn Ngô Đình Nhu cố gắng cướp khẩu súng từ một sĩ quan tham gia bắt giữ.[9]

Ngày 5 tháng 1 năm 1964, ông bàn giao chức vụ Tổng trưởng Thông tin lại cho Thiếu tướng Đỗ Mậu. Sau đó chuyển ra Cao nguyên Trung phần ông được giữ chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Cuối tháng Giêng cùng năm 1964, tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc "Chỉnh lý" để cướp quyền lãnh đạo, ông được lệnh bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng trường Võ bị Quốc gia lại cho Đại tá Trần Văn Trung. Tháng 5 cùng năm, ông tham dự Hội đồng chất vấn các tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn KimMai Hữu Xuân về tội "trung lập".[10] Sau đó ông được cử đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu cao cấp tại Học viện Chỉ huy và Tham mưu Fort Leavenworth, thuộc Tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ trong thời gian 6 tháng.

Năm 1965, sau cuộc đảo chính bất thành của tướng Lâm Văn Phát, các tướng trẻ quyết định tự mình nắm quyền. Tướng Khánh được sắp xếp đẩy đi làm "Đại sứ lưu động". Ông cùng nhiều tướng lãnh bị xếp vào nhóm tướng già và bị buộc phải giải ngũ với lý do đã phục vụ quân đội trên 20 năm, dù khi đó ông chỉ mới 44 tuổi.

Giã từ binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khi trở về đời sống dân sự, trong những năm sau đó, ông tham gia hoạt động trong Hiệp hội Chiến sĩ do cựu tướng Trần Văn Đôn làm Chủ tịch, vận động cho một số cựu tướng lĩnh đã giải ngũ tham gia chính trường.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Những ngày cuối tháng 4, ông cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó được sang định cư ở Pháp.

Năm 2001, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 80 tuổi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo Nguyên Hùng trong "Nguyễn Bình, Huyền thoại và Sự thật", tướng Trần Tử Oai là cháu nội của Đốc phủ sứ Trần Tử Ca. Tuy nhiên, điều này chưa có tài liệu kiểm chứng.
  2. ^ Tiền thân của Phòng 5 Bộ Tổng Tham mưu, Nha Chiến tranh Tâm lý và sau cùng là Tổng cục Chiến tranh Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu.
  3. ^ Tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Liên quân Viễn Đông Đà Lạt. Đầu năm 1964 giải ngũ ở cấp Đại tá.
  4. ^ Sau giải ngũ ở cấp Trung tá.
  5. ^ Tiền thân của Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung.
  6. ^ Hoành Linh Đỗ Mậu, Việt Nam máu lửa quê hương tôi. Chương IV: Những ngày cuối cùng của thực dân Pháp.
  7. ^ Lương Khải Minh - Cao Thế Dung, Làm thế nào để giết một Tổng thống?. Chương 11: Bảy năm sau cuộc phong trần.
  8. ^ Điện báo cáo của phân bộ CIA tại Sài Gòn ngày 17 tháng 9 năm 1963 đã được giải mật
  9. ^ Jones, Howard (2003). Death of a Generation. New York City, New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-505286-2. p. 430
  10. ^ Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.