Trần Thị Dung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh Từ Quốc mẫu
靈慈國母
Hoàng hậu Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng hậu nhà Lý
Tại vị 1216 - 1224
Tiền nhiệm An Toàn hoàng hậu
Kế nhiệm Không có
Hoàng hậu cuối cùng nhà Lý
Thông tin chung
Phu quân Lý Huệ Tông
Trần Thủ Độ
Hậu duệ
Tước hiệu Thái tử phi
Nguyên phi
Ngự nữ
Thuận Trinh phu nhân
Hoàng hậu
Thái thượng hoàng hậu
Quốc mẫu
Thụy hiệu Linh Từ quốc mẫu
靈慈國母
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Nguyên Tổ
Thân mẫu Tô phu nhân
Sinh ?
hương Tức Mặc, Hải Ấp
Mất tháng 1, 1259
Thăng Long

Linh Từ quốc mẫu (chữ Hán: 靈慈國母, ? - tháng 1, 1259), hay thường được dân gian gọi với tên dã sử Trần Thị Dung (陳氏容), hoặc Kiến Gia hoàng hậu (建嘉皇后), là Hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý, chính hậu của hoàng đế Lý Huệ Tông, mẹ ruột của Lý Chiêu HoàngHiển Từ Thuận Thiên hoàng hậu. Bà cùng em họ là Điện tiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ đồng mưu trong việc soán ngôi nhà Lý, nhượng ngôi cho cháu trai là Trần Thái Tông, lập ra nhà Trần. Con gái bà là Chiêu Hoàng được sắc lập làm Hoàng hậu, trở thành Hoàng hậu thứ nhất của Thái Tông.

Sau khi nhà Trần được thiết lập, bà được tôn phong làm Quốc mẫu (國母), hưởng quy chế ngựa, xe, nghi trượng ngang hàng với Hoàng hậu. Khi đó, bà tái hôn với Trần Thủ Độ, lúc này đang giữ chức Thái sư, nắm trọn quyền hành. Trong vai trò giành được Hoàng vị của họ Trần, bà cùng Trần Thủ Độ có vai trò to lớn nhất.

Năm 1237, bà cùng Trần Thủ Độ ép Thái Tông phế truất Lý hoàng hậu (tức Chiêu Hoàng), giáng làm Chiêu Thánh công chúa. Sau đó đưa Thuận Thiên công chúa, phu nhân của Hoài vương Trần Liễu, anh ruột của Thái Tông, đang có thai 3 tháng và lập làm Hoàng hậu kế vị, tức Hiển Từ hoàng hậu. Việc này khiến Hoài vương nổi dậy ở sông Cái, song sau đó bị thất bại, và dưới áp lực của Trần Thủ Độ nên Thái Tông an trí cho Hoài vương ở đất An Sinh[1], cải phong An Sinh vương.

Đến khi người nhà Nguyên tắt đường vào cướp (năm 1258), kinh thành thất thủ, bà đang ở Hoàng Giang, giữ gìn Hoàng thái tử, cung phi, công chúa và vợ con các tướng soái thoát khỏi giặc cướp. Bà lại khám xét thuyền các nhà chứa giấu quân khí đều đưa dùng vào việc quân. Công của bà giúp nhà Trần trong việc nội trị thì nhiều, mà phần báo đáp nhà Lý thì không được bằng.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Linh Từ quốc mẫu theo dã sử vốn có tên là Trần Thị Ngừ [2][3]. Do họ Trần xuất thân chài lưới nên thường đặt tên theo tên các loài cá. Về sau dã sử thông dụng tên gọi Trần Thị Dung (陳氏容). Chính sử chỉ chép bà là Trần thị (陳氏), tên gọi riêng của bà không được tiết lộ.

Quốc mẫu sinh vào khi nào đều không được truyền lại, người thôn Gia Lưu, Hải Ấp (nay là làng Lưu Xá, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Bà là con gái của Nguyên Tổ hoàng đế Trần Lý, em gái của Thái Tổ hoàng đế Trần Thừa và Kiến Quốc đại vương Trần Tự Khánh, chị họ của Trung Vũ đại vương Trần Thủ Độ.

Theo vai vế, quốc mẫu là cô ruột của Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế Trần Cảnh và Khâm Minh An Sinh đại vương Trần Liễu.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thái tử phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1209, đời Lý Cao Tông, khi xảy ra loạn Quách Bốc, Lý Huệ Tông khi ấy còn là Hoàng thái tử đã chạy về miền Hải Ấp quê bà, nương nhờ cha bà là Trần Lý. Huệ Tông nhìn thấy Trần thị có nhan sắc nên rất thích, biết ý nên cha bà tạo cơ hội để bà gần gũi với Thái tử hơn.

Trần Lý và cậu ruột bà là Tô Trung Từ muốn nhân cơ hội giúp nhà Lý để phát triển thế lực nên gả bà cho Thái tử và tập hợp lực lượng tham gia dẹp Quách Bốc. Trong lần chiến dẹp loạn này, cha bà là Trần Lý bị thiệt mạng, quân đội họ Trần đều nằm trong tay Tô Trung Từ.

Sắc phong Nguyên phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1210, mùa xuân, tháng 3, Cao Tông hoàng đế được rước về kinh thành Thăng Long, không lâu sau thì bệnh nặng, muốn đón Hoàng thái tử về kinh. Cậu của Trần thị là Tô Trung Từ bèn giả mang quân bản bộ đi đánh quân phiến loạn ở Khoái Châu, nhân đó Trung Từ về Hải Ấp nắm lấy Thái tử, gạt bỏ khỏi tay hai anh em Trần Tự KhánhTrần Thừa khiến họ Tô và họ Trần có hiềm khích từ đó. Vì Thái tử bị cướp đi đột ngột, Trần phi cũng theo đó bị bỏ lại ở Hải Ấp.

Năm 1210, mùa đông, tháng 10, Cao Tông hoàng đế qua đời lúc 38 tuổi. Thái tử lên ngôi, tức Huệ Tông Hoành Hiếu hoàng đế, lúc ấy mới 16 tuổi. An Toàn hoàng hậu Đàm thị được tôn làm Hoàng thái hậu, cùng Hoàng đế nghe việc chính sự. Huệ Tông hoàng đế vừa lên ngôi thì sai người đi đón Trần phi về kinh sư, nhưng anh trai bà là Trần Tự Khánh lại không cho, vì hiềm khích với Tô Trung Từ vẫn còn đó.

Khi ấy, Tô Trung Từ trong triều nắm binh quyền thế lực, giết chết Thái úy phụ chính Đỗ Kính Tu. Các tướng Đỗ Quảng, Đỗ Thế QuiPhí Lệ cùng nhau mưu lập đánh Trung Từ. Trung Từ biết thế quân của mình nhỏ hơn liên quân của họ, bèn lập mưu kế lừa gạt, vờ hòa hoãn với họ mà đang đêm tăng cường binh sĩ mưu trừ. Rồi ông cho tùy tướng Đào Phán bất ngờ ùa binh đánh lên diệt bọn Đỗ Quảng, Phí Lệ. Bọn họ xung phong tiến đánh quân của Đào Phán và chạy thoát được, Phán bèn đánh úp Đỗ Thế Qui, bắt được Qui và Qui bị tùng xẻo ở giữa chợ trời.

Huệ Tông hoàng đế và Thái hậu nghe tin, phong Trung Từ làm Thái úy phụ chính, ban tước Vương. Bên cạnh đó, Huệ Tông lại sai người đi đón Trần phi. Lần này thì Trần Tự Khánh đồng ý để bà về triều, sai hai tỳ tướng Phan Lân, Nguyễn Ngạnh cầm quân hộ tống. Khi quân hộ tống bà tới Thăng Long, đúng lúc Tô Trung Từ đang đánh nhau to với Đỗ Quảng. Trung Từ hợp binh với hai tướng Phan, Nguyễn phá tan quân của Quảng và bắt giết Quảng.

Năm 1211, tháng 2, Trần phi vào triều được phong làm Nguyên phi (元妃), ban cho anh của Trần thị là Trần Tự Khánh làm Chương Thành hầu (章成侯), cậu là Tô Trung Từ nắm đại binh triều đình.

Phế lập ngôi vị[sửa | sửa mã nguồn]

Giáng phong Ngự nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1211, tháng 6, Thái úy Tô Trung Từ bị giết hại tại Gia Lâm, kinh sư thế lực của họ Tô rối loạn. Huệ Tông hoàng đế nhân lúc ấy dùng cậu là Đàm Dĩ Mông làm Thái úy phụ chính, Hoàng thái hậu cũng vì thế trực tiếp xen vào việc chính sự.

Hai lực lượng lớn nhất tranh quyền lúc đó là họ Trần bởi Trần Tự Khánh và họ Đoàn bởi Đoàn Thượng. Huệ Tông hoàng đế lo ngại ngoại thích nhà vợ họ Trần thế lực lớn, nên cùng ngoại thích nhà mẹ là cậu Đàm Dĩ Mông muốn dựa vào họ Đoàn. Khi ấy Trần Tự Khánh đánh to với Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôiải Quảng Điểm, bị thua trận. Sau khi chiến thắng, họ Đoàn thu nạp dân Khoái Châu, sai sứ giả vào chầu triều đình.

Tháng 7, mùa thu, nghe họ Đoàn gièm pha Trần Tự Khánh muốn phế lập, Huệ Tông hoàng đế tức giận hạ chiếu cho các đạo binh đánh Trần Tự Khánh, và giáng Trần Nguyên phi xuống làm Ngự nữ (御女), thuộc hàng tiếp cấp thứ 3. Đoàn ThượngĐoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư, được phong tước Hầu. Lúc bấy giờ, Trần Tự Khánh dẫn quân đi đánh khắp nơi, thu phục được nhiều đất, vùng từ Lạng Châu đến núi Tam Trĩ hết thảy đều là đất của họ Trần. tháng chạp năm ấy, Tự Khánh kéo quân đến gần kinh sư, vì để gần hơn với Trần Ngự nữ đã bị phế trong cung. Thái hậu nghe tin ấy, ý càng ngờ và tỏ ra ghét Tự Khánh.

Năm 1214, tháng giêng, Đoàn Thượng phối hợp với quân triều đình đụng độ với Trần Tự Khánh. Tuy nhiên, lực lượng họ Trần mạnh hơn, có nhiều tướng giỏi hơn; trong khi đó quân nhà Lý do Huệ Tông hoàng đế và Thái sư Đàm Dĩ Mông không có tài làm tướng chỉ huy nhanh chóng bị thua trận. Cánh quân Đoàn Thượng cử đi do Đoàn CấmVũ Hốt chỉ huy bị bộ tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn (阮嫩) đánh bại. Huệ Tông phải đưa Trần Thị Dung và Thái hậu bỏ chạy lên Lạng Châu, quân họ Đoàn rút khỏi kinh đô trở về Hồng Châu.

Trần Tự Khánh cố thuyết phục Lý Huệ Tông trở về kinh không được, bèn lập một hoàng thân nhà Lý là Lý Nguyên vương lên ngôi.

Đăng cơ Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hàng loạt biến cố khác, thế lực của Chương Thành hầu Trần Tự Khánh ngày càng mạnh hơn, buộc Huệ Tông hoàng đế phải di tản từ Lạng ChâuNam Sách rồi lại về Đại Thất. Cuối năm, Trần Tự Khánh dẫn binh đánh được Đinh KhảBùi ĐôĐại Hoàng, chiếm luôn vùng đất này. Đến cuối năm 1215, xa giá về lại kinh sư, sửa sang cung điện và ngự ở đó.

Năm 1216, mùa xuân, Huệ Tông hoàng đế lập Trần ngự nữ làm Thuận Trinh phu nhân (順貞夫人). Hoàng thái hậu cho Trần Tự Khánh là kẻ phản trắc, thường chỉ phu nhân mà nói là bè đảng của giặc, bảo Huệ Tông đuổi bỏ đi. Sau đó, Thái hậu lại sai người nói với bà, bảo phải tự sát. Huệ Tông biết bèn ngăn lại. Hoàng Thái hậu bỏ thuốc độc vào món ăn uống của phu nhân. Mỗi bữa ăn Huệ Tông thường chia cho bà một nửa và không lúc nào cho rời bên cạnh.

Tháng 5, trước sức ép muốn giết con dâu của Thái hậu, Huệ Tông hoàng đế cùng với phu nhân lẻn đi đến chỗ quân của Tự Khánh ở bãi Cửu Liên. Từ đấy, Huệ Tông lại dựa vào Trần Tự Khánh. Tự Khánh bèn phế bỏ Lý Nguyên vương, do muốn tiến thân và bảo toàn quyền lực cho dòng họ, Tự Khánh vẫn kính cẩn phò trợ Huệ Tông tiêu diệt các phiên vương bạo loạn như Hiển Tín vương Lý Bát, Bắc Giang vương Nguyễn Nộn, Hồng Châu Đoàn Văn Lôi cùng Qui Hóa Hà Cao.

Cũng vào năm này, vào tháng 6, tại bãi Cửu Liên, phu nhân sinh ra trưởng công chúa cho Huệ Tông, tên là Oanh (鶯), hiệu là Thuận Thiên công chúa (順天公主).

Tháng 12, mùa đông cùng năm đó, Huệ Tông hoàng đế chính thức sắc phong phu nhân làm Hoàng hậu. Anh trai hoàng hậu là Trần Thừa được phong Nội thị Phán thủ, tước Liệt hầu. Chương Thành hầu Trần Tự Khánh được dùng làm Thái úy phụ chính, nắm toàn bộ binh quyền triều đình.

Năm 1218, tháng 9, Hoàng hậu sinh tiếp cho Huệ Tông công chúa thứ 2, hiệu là Chiêu Thánh công chúa (昭聖公主).

Thái thượng hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1223, tháng chạp, Thái úy Trần Tự Khánh qua đời ở nhà riêng tại Phù Liệt, được truy phong làm Kiến Quốc vương (建國王), anh thứ Trần Thừa tiếp nhận quyền Thái úy phụ chính. Em họ bà là Trần Thủ Độ được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, quản lý quân đội trong ngoài cấm thành.

Năm 1224, mùa xuân, Huệ Tông hoàng đế bệnh đến phát điên, không quản được chính sự. Thái úy Trần Thừa, Điện tiền Trần Thủ Độ cùng Hoàng hậu quản lý hết mọi việc trong Hoàng cung. Bấy giờ, uỷ nhiệm cho một mình chỉ huy sứ Trần Thủ Độ quản lĩnh các quân điện tiền hộ vệ cấm đình.

Mùa đông, tháng 10, Chiêu Thánh công chúa được lập làm Hoàng thái nữ (皇太女), rồi lên kế vị, sử gọi là Chiêu hoàng đế (昭皇帝). Huệ Tông truyền ngôi trở thành Thái thượng hoàng, rồi xuất gia ở chùa Chân Giáo trong đại nội hoàng cung, gọi là Huệ Quang thiền sư.

Hoàng hậu Trần thị được tôn làm Thái thượng hoàng hậu (太上皇后), cùng Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ tham dự triều chính. Khi đó, Trần Cảnh - con thứ của Thái úy Trần Thừa, tức là cháu ruột của Thái thượng hoàng hậu và Chỉ huy sứ, được sắp xếp đưa vào hầu hạ Chiêu Hoàng. Vào lúc ấy, Chiêu Hoàng tỏ ra yêu mến Trần Cảnh, khiến Thủ Độ nảy ra ý định đưa Hoàng vị họ Lý về cho họ Trần.

Quốc mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1225, tháng 10, Chỉ huy sứ Trần Thủ Độ sắp đặt để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, tức Thái Tông Nguyên Hiếu hoàng đế, còn Chiêu Hoàng lại được phong thành Hoàng hậu, tức Chiêu Thánh hoàng hậu (昭聖皇后). Thái thượng hoàng hậu bị giáng thành Thiên Cực công chúa (天極公主), nhưng Thái Tông không nỡ gọi bà là công chúa, do bà từng là Hoàng hậu của triều Lý, nên phong bà là Quốc mẫu (國母), biệt danh khác của Hoàng hậu. Cho chế nghi trượng, kiệu xe đều đúng nghi thức của Hoàng hậu. Không lâu sau, bà lấy Trần Thủ Độ, khi ấy đang là Thái sư Thượng phụ. Hai con gái bà, ngoài Lý Chiêu Hoàng lấy Thái Tông, còn Thuận Thiên công chúa lấy anh của Thái Tông là Trần Liễu.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, vào năm 1237, xảy ra sự kiện Lý Phế hậu. Khi ấy, do Thái Tông hoàng đế cùng Hoàng hậu không có con, Thái sư cùng bàn với Quốc mẫu, ép quan gia lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa, đã có mang 3 tháng với Hoài vương Trần Liễu. Hoài vương tức giận nổi loạn ở sông Cái, Thái Tông hoàng đế cũng chán nản bỏ lên núi Yên Tử. Sau do sự cứng rắn của Thái sư và sự can ngăn, khuyên giải của Quốc mẫu, Thái Tông hoàng đế trở về kinh sư, Hoài vương đầu hàng, bị cải thành An Sinh vương với đất phong nay thuộc hai huyện Đông TriềuYên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay.

Trong cuộc chiến với quân Mông Cổ xâm lược vào cuối năm 1257, Quốc mẫu đã lập nên công lao rất lớn. Trong lúc Hoàng đế và quân nhà Trần đang đánh nhau với quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, phải rút khỏi Bình Lệ Nguyên. Thì ở kinh thành Thăng Long, Quốc mẫu đã tổ chức thực hiện mưu kế "vườn không nhà trống" do nhà Trần định sẵn một cách thành công, bảo vệ các vương tôn, quý tộc nhà Trần. Rồi lại cho khám xét thuyền các nhà chứa giấu quân khí đều đưa dùng vào việc quân.

Năm 1259, mùa xuân, tháng 1, Quốc mẫu qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi, thụy là Linh Từ Quốc mẫu (靈慈國母). Tại tỉnh Thái Bình ngày nay còn nhiều địa điểm, địa danh lưu dấu tích công trạng này của bà. Dân địa phương quê bà thường gọi bà theo tên khi mới sinh là bà chúa Ngừ.

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Có giai thoại kể rằng, Linh Từ quốc mẫu từng yêu một người đàn ông trước khi trở thành Hoàng hậu của Lý Huệ Tông. Đó là Phùng Tá Chu, sau trở thành quan Thái phó vào cuối đời Lý, giúp cơ nghiệp nhà Trần buổi đầu thành lập.

Phùng Tá Chu hơn Linh Từ 2 tuổi, khi đó là một chàng trai khỏe mạnh, có tư chất thông minh hơn người, lại là bạn thân và là em kết nghĩa của Trần Tự Khánh, anh ruột của Linh Từ. Trần Thủ Độ cũng thích Linh Từ, nên luôn tìm cách nói xấu Phùng Tá Chu trước mặt Trần Lý. Tuy nhiên, khi đó binh biến triều đình xảy ra, Huệ Tông hoàng đế chạy đến Hải Ấp, và Linh Từ phải chấm dứt mối tình đầu của mình. Sau khi nhà Lý sụp đổ, Phùng Tá Chu theo nhà Trần, lập nhiều công trạng và được nhà Trần trọng dụng.

Năm 1226, Trần Thái Tông cử ông đi trấn thủ Nghệ An, được quyền tự ý ban chức vị cho người dưới quyền, ban trước rồi tâu sau. Năm 1233, ông lại được cử đi duyệt định các sắc mục ở Nghệ An, rồi được phong tước Hưng Nhân vương.

Năm 1239, ông làm Nhập nội thái phó, trông coi việc xây dựng cung điện, rồi làm quản đốc công trình xây dựng 5 sở hành cung ở Thanh Hóa. Phùng Tá Chu mất năm 1241, được phong Phúc Thần. Dân chúng thờ ông làm Thành Hoàng ở đình làng Quảng Bá, cùng thờ chung với Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, Từ Tống quân Từ mục.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết về bà như sau:

"Linh Từ (hiệu do nhà Trần ban cho Trần Thị Dung) trước lấy Lý Huệ Tông là bất chính, sau lấy Trần Thủ Độ là thất tiết, thế nhưng con gái bà là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần và người con gái khác là Thuận Thiên là hoàng hậu của vua Trần Thái Tông, thân mẫu của vua Trần Thánh Tông. An Sinh Vương có hiềm khích với Thái Tông, nhưng Linh Từ đã ra sức hòa giải, nhờ đó mà anh em lại tình nghĩa như xưa".

Cuộc đời Trần Thị Dung gắn chặt với sự chuyển đổi quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần. Bà nhiều lần thay ngôi đổi vị, do sự biến đổi của thời thế. Lấy và tác động tới Huệ Tông, từ thái hậu xuống làm công chúa, lấy người trong họ tộc, tái giá với kẻ sát hại chồng mình, cùng sắp đặt để con gái lớn lấy em rể, hoà giải 2 cháu là con rể... Những việc làm của Trần Thị Dung trước sau đều vì sự tồn tại và phát triển cơ nghiệp của họ Trần.

Ban đầu, Lý Huệ Tông nghe mẹ đã phế bà làm ngự nữ, nhưng sau đó vì quá yêu thương bà nên đã ra sức che chở cho bà, ngay cả khi vua đang đối đầu với Trần Tự Khánh (khi đó Tự Khánh đã lập hoàng thân khác làm vua Càn Ninh) vẫn phong bà lên làm phu nhân. Tha thiết hơn, Huệ Tông không phải vì chạy loạn mà vì muốn bảo vệ bà đã cùng bà bỏ cung điện đi tìm đến chỗ Tự Khánh. Tuy nhiên, những việc làm của Huệ Tông không được Trần Thị Dung đền đáp tương xứng. Dẫu việc nước trong tay Trần Thủ Độ phán quyết, nhưng bản thân bà, trước cái chết của Huệ Tông do tay Thủ Độ, dù không chết theo cũng không giữ tiết chung thuỷ với chồng cũ; không tái giá với ai khác lại tái giá với chính người vừa hại chồng mình.

Vì cơ nghiệp của họ Trần, bà trở thành người lạnh lùng với họ Lý, hy sinh hết quyền lợi và tình cảm của người họ Lý, dù đó là những người thân thuộc. Những việc làm của bà khác hẳn với Tôn phu nhân - em gái Tôn Quyền khi đã làm vợ Lưu Bị, và Tào hoàng hậu - em gái Tào Phi khi đã làm vợ Hán Hiến Đế thời Tam Quốc[4].

Dường như phẩm chất năng động ở Trần Thị Dung khiến bà không thể lui vào hậu cung sau cái chết của Huệ Tông như hành động theo "đạo" thường thấy của người phụ nữ thời phong kiến. Bà tham gia chính sự và còn góp tay chống ngoại xâm. Những công lao với nước Đại Việt của bà được người đời sau ghi nhận.

Trần Thị Dung được nhân dân tạc tượng lập đền thờ phụng tại động Thiên Hươnghành cung Vũ Lâm - đền Thái Vi thuộc khu du lịch Tam Cốc - Bích Động tỉnh Ninh Bình.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thuộc hai huyện Đông Triều và Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
  2. ^ Vũ Ngọc Khánh - Nhà Lý, NXB Phụ nữ, 2002
  3. ^ Trang Thông Tin Về Khu Lăng Mộ Đền Thờ Các Vua Trần
  4. ^ theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tôn Thượng Hương em gái Tôn Quyền được gả cho Lưu Bị, sau nghe tin Lưu Bị bị chết trong trận Hào Đình (tin đồn nhầm, thực ra Lưu Bị không chết) đã tự sát (trong thực tế, em gái Tôn Quyền không rõ tên, chỉ được ghi trong sử sách là Tôn phu nhân, cũng không tự sát khi nghe tin Lưu Bị chết); Tào Thị em gái Tào Phi được Tào Tháo gả cho Hán Hiến Đế làm hoàng hậu, đã phản đối Tào Phi cướp ngôi của Hiến Đế

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]