Trần Thị Ngọc Hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trần Thị Ngọc Hòa, là một hoàng phi của Trần Duệ Tông, được biết đến trong dân gian với cái tên Hoàng hậu Bạch Ngọc.

Bà là mẹ của Huy Chân công chúa Trần Thị Ngọc Hiền, là mẹ đẻ của con gái duy nhất của Lê Thái Tổ, Trang Từ công chúa.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Bà là con gái ông Trần Công Thiệu ở làng Tri Bản (nay là xã Hòa Hải huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh), người tài sắc đoan trang, đức hạnh. Từ khi được tuyển vào cung, bà sinh được cho vua một người con gái đặt tên là Trần Thị Ngọc Hiền (còn có tên khác là Ngọc Dung, Ngọc Huyên), có hiệu là công chúa Huy Chân.

Biến chuyển cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Chạy loạn[sửa | sửa mã nguồn]

Vua Duệ Tông tử trận, triều đình lập con trưởng của ông là Trần Nghiễn nối ngôi nhưng được ít năm thì bị phế truất rồi giết chết nên sử gọi là Trần Phế đế. Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông bèn đưa con út của mình lên ngai vàng, tức Trần Thuận Tông.

Nhưng cuối năm Giáp Tuất (1394), Thượng hoàng qua đời, quyền hành trong triều rơi cả vào tay bố vợ vua Trần Thuận Tông là Lê Quý Ly.

Nhiều quan tướng trung thành biết Lê Qúy Ly có mưu đồ đoạt ngôi nhà Trần nên bí mật bàn mưu diệt trừ nhưng bị bại lộ, hơn 370 người bị giết chết, việc truy bắt những người có liên quan tiến hành ráo riết, các lệnh cấm tụ tập, trò chuyện được ban bố làm không khí cả nước trong trạng thái ngột ngạt, căng thẳng, lo lắng, sợ hãi…

Trước nguy cơ biến động triều chính, cung phi Bạch Ngọc từ khi chồng chết thì đau buồn, sầu muộn chốn hoàng cung, nay biết rằng khó mà yên ổn được nữa, sợ tai họa sẽ ập đến bèn bàn bạc với hai anh là Trần Đạt, Trần Duy cùng gia thần thân tín là Trần Quốc Trung, Nguyễn Thời Kính đem con gái là công chúa Huy Chân và người hầu thân thuộc, tổng cộng 572 người âm thầm rời khỏi kinh thành Thăng Long lánh về quê cha ở phủ Đức Quang, lộ Nghệ An tránh nạn.

Chuyện kể rằng sau khi rời khỏi Thăng Long, mẹ con bà hoàng Bạch Ngọc, Huy Chân có một chuyến hành trình gần 50 ngày đêm đầy gian khổ, nhiều người kiệt sức, ốm đau mà chết dọc đường. Khi đến nơi chỉ còn lại 172 người, họ chọn một ngọn núi trong vùng thâm sơn cùng cốc thuộc dãy Trà Sơn để dựng trại (núi này về sau được gọi là núi Vua để tỏ lòng ghi ơn bà).

Khai hoang, lập ấp[sửa | sửa mã nguồn]

Từ đó, mọi người cùng nhau khai khẩn đất hoang, chiêu mộ dân nghèo được gần 3.000 người rồi dần dần đất hoang thành đất ruộng ngày càng nhiều, khai hoang đến đâu, lập làng đến đó. Kết quả có 45 xã thôn, trang ấp được thiết lập trên địa bàn 6 tổng của huyện Đức Thọ, với 3.965 mẫu ruộng cùng nhiều kho lẫm dự trữ lương thực. Gia nhân, thuộc hạ của mẹ con Bạch Ngọc, Huy Chân có đến nghìn người, vừa lao động sản xuất, vừa rèn đúc vũ khí, luyện tập võ nghệ để bảo vệ trang trại, xóm làng và cũng để mưu đại sự về sau.

Mọi việc điều hành công việc của bà Bạch Ngọc có sự hỗ trợ đắc lực của con gái là công chúa Huy Chân. Ngoài khai phá đất hoang, lập làng, lấy đất cày cấy, mẹ con bà còn cho mở chợ đặc biệt là theo lòng mộ đạo Phật, họ đã cho dựng hai ngôi chùa là chùa Diên Quang (chùa Am) và Tiên Lữ (chùa Lã)…

Với những cố gắng không ngừng, thực lực của mẹ con bà hoàng Bạch Ngọc, Huy Chân trở thành một thế lực không nhỏ ở đất Nghệ An, nhưng họ rất khôn khéo che giấu, giảm bớt tiếng tăm để ẩn nhẫn chờ thời nên tránh được sự chú ý của quân Minh.

Giúp đỡ Lê Thái Tổ[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc kháng chiến của nhà Hồ thất bại, và liên tiếp các cuộc khởi nghĩa nổ ra trong đó đáng chú ý là nhà Hậu Trần của Trần Ngỗi. Tiếc rằng sự nghiệp của các vua triều Hậu Trần không hoàn thành được, lần lượt vua Giản Định đế bị quân Minh bắt được vào ngày 17 tháng 7 năm Kỉ Sửu (1409), đưa về phương Bắc giết hại; sau đó đến tháng 11 Quý Tị (1413) Trùng Quang đế bị bắt, tháng 4 năm Canh Ngọ (1414), trên đường bị giải về Bắc Kinh, vua nhảy xuống nước tự vẫn.

Thời kỳ này, trang ấp của mẹ con bà Bạch Ngọc bị bọn giặc cướp quấy phá, quân Minh cũng dò biết được nên cho người theo dõi hành động của nữ chủ nhân ở đây. Tình thế đó, buộc bà Bạch Ngọc đưa gia thuộc chuyển sang bờ bắc sông La lập trang trại mới trên đất Thịnh Quả, gần dãy núi Thiên Nhận, sông Lam Giang, núi Trà sơn, sông Ngàn Sâu địa thế hiểm yếu.

Năm 1418, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn. Năm 1424, từ căn cứ địa Thanh Hóa, Bình Định Vương Lê Lợi đã đưa quân vào Nghệ An chiếm được thành Trà Long (Tương Dương) và Đỗ Gia (Hương Sơn).

Đầu năm Ất Tị (1425), Đỗ Gia trở thành căn cứ quân sự chủ yếu của nghĩa quân Lam Sơn, sở chỉ huy của Bình Định Vương Lê Lợi đóng tại thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn.

Phụng mệnh của Lê Lợi, tướng Bùi Bị đem quân truy quét quân Minh ở vùng Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ (ngày nay), trong quá trình làm nhiệm vụ, đã phát hiện ra trang trại Bạch Ngọc.

Bùi Bị mời bà yết kiến Lê Lợi. Tương truyền khi đó, bà Bạch Ngọc hỏi con gái nên làm thế nào, công chúa Huy Chân có nói rằng: Nợ nước lớn hơn thù nhà, nay họ Trần nhà ta không còn ai có thể gánh vác nổi trọng trách nặng nề ấy. Mệnh trời dường như trao về tay Lê vương ở đất Lam Sơn, ta nên giúp một tay mong vầng dương lại sáng tỏ, nước Việt lại về tay người Việt chúng ta.

Bà đã cùng Công chúa Huy Chân đến thành Lục niên gặp Lê lợi. Tại cuộc gặp mặt này, bà Bạch Ngọc đã xin hiến toàn bộ tiền, lương thực, thực phẩm đã tích trữ được cho cuộc kháng chiến chống quân Minh; và đồng thuận gả Công chúa Huy Chân cho Lê Lợi.

Để đáp lại tấm thịnh tình này, Bình Định vương liền cho sắm sửa lễ vật, chọn ngày lành tháng tốt dẫn tùy tùng đến xin hỏi cưới Huy Chân về làm thứ thiếp. Sau đó ông cho lính xây điện Phượng Hoàng tại làng Kính Kỵđiện Ngũ LongHoà Yên làm nơi cư ngụ cho bà Bạch Ngọc và công chúa Huy Chân.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi sự nghiệp "bình Ngô" hoàn thành, Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, sáng lập ra nhà Hậu Lê, đó chính là Thái Tổ Cao hoàng đế - Lê Thái Tổ. Nhớ đến công lao của những người đã cùng mình nếm mật nằm gai trong 10 năm kháng chiến gian khổ, vua đã định công phong tước, cấp tiền tài bổng lộc, ban nhiều hậu đãi.

Riêng đối với bà Bạch Ngọc, Lê Thái Tổ định tìm danh hiệu đẹp để tôn phong nhưng bà một mực chối từ mọi bổng lộc, ân sủng của triều đình xin lại quê nhà tu hành, chọn chùa Am (còn gọi là chùa Diên Quang ở xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay) làm nơi tu tập, ngày ngày tụng kinh niệm Phật cầu cho Quốc thái dân an, cầu cho vong linh các quân sĩ đã hy sinh cho đất nước được siêu thoát.

Không có tài liệu nào cho biết về năm mất của họ, chỉ biết rằng ngày mất của bà hoàng Bạch Ngọc là ngày 22 tháng 6, khoảng niên hiệu Hồng Đức (1460 - 1497) đời Lê Thánh Tông.

Đền thờ Bạch Ngọc hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thể theo nguyện vọng của bà lúc sống, vua Lê Thánh Tông giao các tướng sĩ đưa thi hài của bà về an táng tại quê nhà. Nhưng không hiểu sao trên đường về thuyền bị gió bão và nước lũ cuốn trôi, thi thể Hoàng Hậu dạt vào vùng đất hai thôn Yên Mỹ, Yên Phú, nay thuộc xã Liên Minh, Đức Thọ, Hà Tĩnh.

Nhân dân trong vùng ghi nhớ công ơn đã an táng và lập miếu thờ Hoàng Hậu tại đó, rồi xây cất thành ngôi đền như ngày nay. Tương truyền, đến đất thiêng, người đi qua không dám chỉ tay vào đền, trẻ con nếu dứt cây bẻ cành trong khu vực đền liền bị đau bụng. Dân trong vùng thường hương khói phụng thờ hàng ngày, đặc biệt trong những ngày tiết thì người đến lễ rất đông.

Cũng không biết có phải là nhờ sự linh thiêng này mà ngôi đền vẫn tương đối vẹn nguyên qua sự tàn phá của thời gian và bom đạn chiến tranh. Cầu Thọ Tường nối con đường huyết mạnh Bắc Nam suốt những năm chông chiến tranh bị định đánh phá rất ác liệt nhưng ngôi đền mẫu Bạch ngọc rất gần đó vẫn không hề suy suyển.

Hiện tại, Đền cùng với các tài liệu vật gốc có giá trị lịch sử vẫn được lưu truyền qua bao thời đại như các bức đại tự, hoành phi, sắc phong câu đối, bài vị, thần vị. Đây là những tư liệu hết sức quý giá. Cùng với các giá trị về lịch sử, các di sản vật thể và phi vật thể đã trở thành chứng tích ghi dấu một phần cuộc đời và sự nghiệp công lao của Hoàng hậu Bạch Ngọc Trần Thị Hào trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc ta.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]