Trần Anh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Trần Thuyên)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Anh Tông
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Trần Anh Tông TLĐSXSĐ.jpg
Hình vẽ Trần Anh Tông trong tác phẩm Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 12931314
Tiền nhiệm Trần Nhân Tông
Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông
Kế nhiệm Trần Minh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp Bảo Từ Thuận Thánh hoàng hậu
Chiêu Từ hoàng hậu
Tên húy Trần Thuyên (陳烇)
Niên hiệu Hưng Long (興隆)
Thụy hiệu Ứng Thiên Quảng Vận Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu hoàng đế
應天廣運顯文睿武欽明仁孝皇帝
Miếu hiệu Anh Tông (英宗)
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Nhân Tông
Thân mẫu Bảo Thánh hoàng hậu
Sinh 25 tháng 10 năm 1276
Mất 21 tháng 4, 1320 (43 tuổi)
Cung Trùng Quang, Thiên Trường
An táng 10 tháng 1 năm 1321Thái lăng, Yên Sinh
Tôn giáo Phật giáo

Trần Anh Tông (chữ Hán: 陳英宗; 25 tháng 10 năm 127621 tháng 4 năm 1320), là vị hoàng đế thứ tư của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi từ tháng 4 năm 1293 đến tháng 4 năm 1314, rồi làm Thái thượng hoàng từ năm 1314 đến khi qua đời. Trong thời gian trị vì ông chỉ có một niên hiệuHưng Long (興隆), nên cũng có thể gọi là Hưng Long Đế (興隆帝).

Trần Anh Tông là con trưởng của Trần Nhân Tông, vua thứ 3 triều Trần. Năm 1293, Nhân Tông truyền ngôi cho Anh Tông và lên ngôi Thái thượng hoàng. Anh Tông được sử cũ ca ngợi là một hoàng đế anh minh, biết lắng nghe sự khuyên bảo của thượng hoàng Nhân Tông, đồng thời tin dùng những nhân tài như Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài (ban văn) và Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật (ban võ).[1] Trong thời kỳ trị vì của ông, Đại Việt phát triển hưng thịnh.[2][3] Anh Tông cũng đánh bại các đợt xâm lấn của Ai Lao trên hướng phía Tây, ngăn chặn sự lấn chiếm của người Nguyên ở biên giới phía Bắc, và mở rộng lãnh thổ Đại Việt về phương Nam thông qua cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa (em gái ông) với vua Chiêm Thành.[4][5] Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Mạnh (tức vua Trần Minh Tông) vào năm 1314, thượng hoàng Anh Tông tiếp tục hỗ trợ Minh Tông cai quản quốc gia.

Giống như các tiên đế, Trần Anh Tông là một Phật tử mộ đạo. Năm 1299, thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia và sáng lập Thiền phái Trúc Lâm – giáo hội thống nhất đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Anh Tông đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của giáo hội này. Ông cũng hay sáng tác thơ ca, nhưng ngày nay chỉ còn 12 bài chép trong Việt âm thi tập.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Anh Tông tên húy là Trần Thuyên (陳烇), là con trưởng Trần Nhân Tông Trần Khâm và là cháu nội đích tôn của Trần Thánh Tông Trần Hoảng. Ông sinh vào ngày 17 tháng 9 năm Bính Tý (tức ngày 25 tháng 10 năm 1276), chỉ khoảng 7 tháng trước khi ông cố nội của ông là Thái thượng hoàng Trần Thái Tông qua đời. Mẹ ông là con gái của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu[6][7] Ngay sau khi sinh ra, cha ông là Trần Nhân Tông vẫn còn là Hoàng thái tử, vì vậy Trần Thuyên được Trần Thánh Tông lập làm Hoàng thái tôn[6].

Ngày 22 tháng 10 âm lịch năm Mậu Dần (tức 8 tháng 11 năm 1278), Trần Thánh Tông truyền ngôi cho con là Thái tử Trần Khâm, tức Trần Nhân Tông[8]. Mẹ của Trần Thuyên là Trần phi được lập làm Hoàng hậu[9].

Tuy nhiên, mãi đến ngày 3 tháng 2 âm lịch năm Nhâm Thìn (1292), Trần Nhân Tông mới phong Thái tôn Trần Thuyên làm Hoàng thái tử, khi ấy ông đã 16 tuổi. Ngay dịp đó, triều đình chọn con gái của Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng lập làm Thái tử phi[10][11].

Về lý do ông không được lập ngay làm Đông Cung Thái tử[12], có lẽ là vì cái chết của ông cố nội (Trần Thái Tông mất năm 1277) và ông nội (Trần Thánh Tông mất năm 1290) liên tiếp xảy ra. Theo lệ để tang thông thường ít nhất 3 năm. Tuy nhiên đây vẫn chỉ là giả thiết suy đoán tạm thời, vì đáng lẽ việc lập Thái tử phải bỏ qua lệ để tang thông thường.

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 9 tháng 3 âm lịch năm Quý Tỵ (tức ngày 16 tháng 4 năm 1293), Trần Nhân Tông truyền ngôi cho thái tử Trần Thuyên, tức hoàng đế Trần Anh Tông. Anh Tông tự xưng là Anh Hoàng (英皇) và tôn vua cha làm Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế.[13] Nhà vua lấy niên hiệuHưng Long (興隆) và sử dụng nó cho đến hết thời trị vì của mình.[14] Ông cũng được triều thần tặng tôn hiệu Ứng Thiên Quảng Vận Nhân Minh Thánh Hiếu Hoàng Đế.[13]

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới lên nối ngôi, Trần Anh Tông thích rượu chè và thường đi chơi thâu đêm, có lần bị một số người "vô lại" ném gạch trúng đầu.[15] Do vậy, ông bị thượng hoàng Trần Nhân Tông quở trách rất nghiêm khắc.[16][17] Từ đó Anh Tông trở nên minh mẫn hơn, không những thế ông còn không ưa những người nghiện rượu. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, khi thượng hoàng gợi ý Anh Tông chọn Nội thị Chánh chưởng Nguyễn Quốc Phụ làm Hành khiển, Anh Tông từ chối: "Nếu lấy ngôi thứ mà bàn, thì Quốc Phụ được rồi, chỉ hiềm hắn nghiện rượu thôi!".[18]

Anh Tông cũng là người bãi bỏ tục xăm hình rồng vào đùi của các vua Đại Việt.[19] Toàn thư ghi lại, thượng hoàng Nhân Tông đã triệu Anh Tông đến cung Trùng Quang và bảo rằng: "Dòng dõi nhà mình vẫn vẽ mình để nhớ gốc ngày xưa, nay nhà vua phải theo tục ấy mới được". Khi đó thợ xăm đã chờ sẵn trước cổng cung; nhưng thừa lúc thượng hoàng nhìn sang hướng khác, Anh Tông lẩn trốn về cung Trùng Hoa. Thượng hoàng biết ý và không bắt Anh Tông phải xăm mình nữa.[16]

Bên cạnh đó, Trần Anh Tông đã chấp hành nghiêm túc nề nếp, kỷ cương của vương triều. Tháng 3 âm lịch năm 1296, ông sai đánh quan thượng phẩm Nguyễn Hưng đến chết vì tội mê bài bạc.[20] Ông cũng ban chiếu cấm phạm húy tên của 8 vua nhà Lý, cùng với các tổ phụ nhà Trần là Trần Lý, Trần Thừa, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông.[7][21] Ngoài ra, Toàn Thư còn chép lại: có lần Anh Tông đi cùng thứ phi là Huy Tư; bà này không phải chính cung hoàng hậu nên không được đi kiệu. Thuận Thánh hoàng hậu lấy kiệu của mình cho Huy Tư đi, nhưng Anh Tông ngăn cản: "Có yêu quý Huy Tư thì cho cái khác, chứ cái kiệu ngồi còn điển chế cũ, không thể cho được".[18]

Trần Anh Tông cũng chú trọng đến việc chiêu hiền đãi sĩ. Trong thời gian đầu trị vì, ông tỏ ra phóng khoáng trong việc bổ nhiệm quan chức. Nhưng sau khi nghe thượng hoàng phê bình rằng: "Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế", Anh Tông dùng người cẩn thận hơn[22]. Ông đã trọng dụng những văn thần giỏi như Bùi Mộc Đạc[21], Trương Hán Siêu,[23] Trần Thì Kiến,[24] hay Đoàn Nhữ Hài[25], cùng với những tướng lĩnh tài ba như Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn hay Phạm Ngũ Lão.[26][19] Đặc biệt, Đoàn Nhữ Hài còn trẻ nhưng đã được Anh Tông phong chức Ngự sử trung tán, khiến có người châm chiếm bằng 2 câu thơ: " Ôn câu chữ cổ: Đài ngự sử,/Miệng sữa còn hôi: Trung tán Đoàn".[27] Trái lại, người kém tài đức như Bảo Hưng (1 tôn thất mà Anh Tông yêu mến), Nguyễn Sĩ Cố và Chu Bộ (cận thần của Anh Tông từ khi ông còn nhỏ) đều không được giữ các chức lớn.[25][18][28] Tháng 3 âm lịch năm 1301, ông mở khoa thi Thái học sinh tìm người hiền giúp nước. Khoa thi này lấy được 48 người gồm trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, bảng nhãn Bùi Mộ, thám hoa Trương Phóng, hoàng giáp Nguyễn Trung Ngạn cùng 44 thái học sinh, đều được nhà vua phong chức tước.[29][30][19] Nhờ sự giúp đỡ của thượng hoàng và bề tôi, Anh Tông đã giữ vững sự hưng thịnh về chính trị, kinh tế và văn hóa của Đại Việt.[2][3][19][28]

Tôn sùng Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Anh Tông còn là một tín đồ Phật giáo thuần thành.[31] Năm 1299, thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tại núi Yên Tử (Quảng Ninh), lấy đạo hiệu là Giác hoàng Điều ngự và lập ra Thiền phái Trúc Lâm.[32] Đây được xem là giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật ở Việt Nam.[33] Đến năm 1308, Điều ngự viên tịch; đệ tử Điều ngự là Pháp Loa trở thành Tổ thứ hai của Phái thiền Trúc Lâm. Anh Tông hỗ trợ tích cực cho Điều ngự và Pháp Loa trong việc phát triển giáo hội.[34] Sách Tam Tổ thực lực có chỗ mô tả Anh Tông là "đại thí chủ của Phật pháp".[35][36]

Mùa đông năm 1304, Anh Tông thỉnh cầu Điều ngự về Thăng Long để truyền tâm Tâm giới Bồ tát tại gia cho ông.[37] Theo giải thích của Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, với việc thực hành giới Bồ tát Tại gia, Anh Tông đã lập nguyện dùng vương quyền của mình như một phương tiện cho việc "cứu nhân độ thế" trên tinh thần Phật giáo Đại thừa. Việc Anh Tông thực hiện Tâm giới Bồ tát đã khuyên khích nhiều tôn thất, quan lại quy y Phật-Pháp-Tăng và thọ trì ngũ giới.[31]

Theo sách Thánh đăng ngữ lục (một tác phẩm Phật giáo khuyết danh ra đời cuối thế kỷ 14), trong thời kỳ trị vì của mình, Trần Anh Tông đã khuyến khích các cao tăng như Nhị tổ Pháp Loa, Quốc sư Liễu Minh thuyết giảng kinh sách Phật giáo nói chung – và Thiền tông nói riêng – tại nhiều nơi như chùa Tư Phúc (Thăng Long) và am Thường Lạc (Thiên Trường).[37] Cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận còn cho biết, Trần Anh Tông đã chu cấp thợ xây và vật liệu cho giáo hội để xây cất tự viện, tịnh thất. Đồng thời, ông cho đắp nhiều tượng Phật lớn và kêu gọi vương hầu, cung nhân cống hiến hàng trăm mẫu ruộng cho các trung tâm tu học. Nhà vua cũng dâng tặng tàu thuyền và dân phu cho Pháp Loa nhưng sư không lấy.[34]

Vào các năm 1313 và 1319, khi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, Trần Anh Tông đã lấy vàng bạc từ quốc khố và dâng cho Pháp Loa, sau đó sư phân phát cho dân nghèo.[37]

Các vua đầu thời Trần đều là hành giả Thiền Tông; nhưng đến đời Anh Tông, Mật tông bắt đầu ảnh hưởng tới giới Phật tử Đại Việt – kể cả nhà vua. Năm 1318, Trần Anh Tông đã thỉnh cầu nhà sư người Nam Á là Ban Để Đa Ô Sa Thất Lợi dịch Bạch Tán Thần Chú kinh – một văn bản Phật giáo Mật tông.[34] Sử cũ cũng ghi nhận sự hiện diện của một nhà sư Mật Tông người Ấn tên Du Chi Bà Lam "tự nói là 300 tuổi, có thể ngồi xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên ngực, làm cho trong bụng lép kẹp, chỉ còn da bụng và xương sống thôi" (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Con gái sư là Đa La Thanh đã trở thần phi tần của Anh Tông.[38][34]

Quan hệ với Nguyên Mông[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Anh Tông lên ngôi trong bối cảnh quan hệ Đại Việt-Nguyên Mông đang căng thẳng. Mặc dù nhà Trần đã đánh bại 3 cuộc xâm lược của Mông Nguyên vào các năm 1285, 1285 và 1287, người Nguyên vẫn chưa dứt bỏ tham vọng thôn tính Đại Việt.[39] Năm 1293, hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt sai Thượng thư Bộ binh Lương Tằng ép Anh Tông sang chầu. Anh Tông cáo bệnh không đi, đồng thời cử Đào Tử Kỳ đi triều cống.[40] Hốt Tất Liệt sai giảm Tử Kỳ tại Giang Lăng và chuẩn bị xâm lược Đại Việt. Tuy nhiên, công việc chuẩn bị chưa hoàn tất thì Hốt Tất Liệt chết; tháng 1 âm lịch năm 1294, tân hoàng đế Nguyên Thành Tông ra lệnh bãi binh và trả Tử Kỳ về nước. Quan hệ Nguyên-Việt trở lại bình thường.[41]

Tháng 2 âm lịch năm 1295, nhà Nguyên cử Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai đi sứ sang Đại Việt. Sứ bộ này đã được thượng hoàng Trần Nhân Tông và vua Trần Anh Tông đón tiếp tử tế.[35][42][28] Sau khi hai sứ Nguyên về nước, Anh Tông sai Nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng cùng Phạm Thảo sang Nguyên để xin thỉnh ấn bản mới nhất của Đại tạng kinh Phật giáo. Triều đình nhà Nguyên chấp thuận.[43][20][44][34]

Kế tục chính sách của các vua trước, Trần Anh Tông cống nạp đều đặn cho nhà Nguyên vào các năm 1308, 1311 và 1312.[44] Toàn thư có chép lại chuyến đi sứ của Mạc Đĩnh Chi năm 1308 và những diễn biến tích cực của hoạt động ngoại giao này.[45]

Bên cạnh thái độ mềm dẻo đó, Trần Anh Tông cũng kiên quyết không để người Nguyên xâm phạm Đại Việt. Trước khi Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn mất năm 1300, Anh Tông đã học hỏi vị tướng lão thành này về kinh nghiệm chống xâm lược từ phương Bắc.[46] Dựa trên dữ liệu từ Nguyên sử loại biên (Trung Quốc), sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục có mô tả một cuộc tranh chấp giữa hai nước vào năm 1313:[4]

"Lúc ấy, viên Tri châu Trấn An nhà Nguyên là Triệu Giác bắt người châu Tư Lang nước ta, lấy mất một lọ vàng, và lấn hơn một nghìn khoảng ruộng. Nhà vua bèn sai quân sang đánh châu Quy Thuận và châu Dưỡng Lợi nhà Nguyên, nói rõ là cốt sang đánh để báo thù. Nhà Nguyên sai viên thiên hộ Lưu Nguyên Hanh sang dò xét... rồi đưa công điệp sang ta nói: "Trước kia, nhà Hán đặt ra chín quận, danh giáo hóa của Trung Quốc đã tràn lan tới. Huống chi, An Nam đối với Trung Quốc, nào là dâng địa đồ, nào là nộp lệ cống, danh phận trên dưới đã phân minh, Trung Quốc đối với An Nam, thì ban cho một cách đầy đặn không kể đến việc đáp lại đơn sơ, cái ơn huệ yên ủy người phương xa thật là hết sức. Như thế thánh triều có phụ bạc gì quý quốc đâu! Thế mà bây giờ sao lại tự nhiên gây ra sự không yên lành, dùng sức ngông cuồng để mở rộng bờ cõi…""

Cương mục cũng thuật lại sự hồi đáp của Anh Tông, làm nhà Nguyên phải xuống nước:[4]

"Nhà vua trả lời: "Đấy là những người nhỏ mọn ở ngoài biên giới tự làm việc không yên lành, nước tôi biết thế nào được việc ấy". Nhân thế, Nguyên Hanh dâng thư lên nói với vua Nguyên: "Trước kia An Nam đã từng xâm phạm vào đất Vĩnh Bình, nay lại quen thói cũ; nghĩ nên sai quan đến tuyên truyền dụ bảo, định lại bờ cõi và nghiêm sức quan lại ở biên giới không được xâm phạm lẫn nhau như thế mới giữ được sự yên ổn lâu dài ở ngoài biên giới". Vua Nguyên y theo lời tâu, sai người đem sắc thư đến dụ bảo. Do đấy nhà vua mới cho bãi binh."

Chiến tranh với Ai Lao[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1294, tình hình biên giới phía Bắc tương đối ổn định; nhưng ở phía Tây Nam, hai vua Nhân Tông và Anh Tông phải đối mặt với các cuộc xâm lấn của Ai Lao.[47] Tháng 8 âm lịch năm 1294, thượng hoàng Trần Nhân Tông thân chinh đi dẹp. Mở màn trận đánh, đội quân tiên phong của Đại Việt đã bị quân Ai Lao vây đánh khốn đốn. Tướng Phạm Ngũ Lão đã thúc quân phá vây, sau đó đánh tan quân Ai Lao và "bắt được người và súc vật nhiều không kể xiết" (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Vua Anh Tông đã thưởng binh phù bằng vàng (kinh phù) cho Phạm Ngũ Lão.[40]

Năm 1298, quân Ai Lao tràn tới chiếm sông Chàng Lang. Quân Đại Việt do Phạm Ngũ Lão chỉ huy đã phản công và lấy lại lãnh thổ. Sau trận đánh đó, Trần Anh Tong tặng binh phù hình đám mây (vân phù) cho Phạm Ngũ Lão.[7][48]

Tháng 10 âm lịch năm 1298, quân Ai Lao lại sang quấy phá, Anh Tông điều quân đi đối phó. Hàng tướng nhà Nguyên là Trương Hiển đã tử trận; Anh Tông sai lập bài vị thờ Trương Hiển trong Thái miếu.[49] Đến tháng 3 âm lịch năm 1301, người Ai Lao tấn công Đà Giang. Vâng lệnh Anh Tông, Phạm Ngũ Lão đem quân tới Mường Mai (nay thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình) và phá tan quân Ai Lao.[50] Do chiến công này, Phạm Ngũ Lão được nhà vua phong chức Thân vệ đại tướng quân. Sau trận Mường Mai, sử cũ không còn ghi lại một cuộc xâm lấn nào của Ai Lao trong thời Anh Tông nữa.[24][47]

Mở rộng lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng tháng 3 âm lịch năm 1301, Điều ngự Trần Nhân Tông sang viếng thăm Chiêm Thành, được vua Chiêm là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu và ở lại Chiêm Thành gần 9 tháng. Trong chuyến đi này, Điều ngự đã hứa gả con gái là Huyền Trân (em Trần Anh Tông) cho Chế Mân.[51][35] Sau đó Chế Mân đã nhiều lần sai sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng các đại thần nhà Trần đều phản đối, chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chấp nhận.[40]

Tháng 6 âm lịch năm 1306, Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân.[25] Huyền Trân về Chiêm Thành và được phong làm hoàng hậu. Chế Mân dâng hai châu Ô, (còn gọi là Lý) cho Đại Việt làm hồi môn. Trần Anh Tông đã đổi tên châu Ô thành châu Thuận và châu Lý thành châu Hóa. Dân Chiêm ở hai châu này không chịu phục tùng, nên Anh Tông sai Đoàn Nhữ Hài đến thu phục nhân tâm. Thông qua các biện pháp như bổ nhiệm quan tước, phân phát ruộng đất và xá thuế nhiều năm cho người bản địa, Nhữ Hài đã duy trì được ổn định tại vùng đất địa đầu phía Nam.[52]

Một năm sau hôn lễ của Huyền Trân, Chế Mân qua đời vào tháng 5 âm lịch năm 1307. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo phong tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Trần Anh Tông biết tin, sai Hành khiển Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, cứu được Huyền Trân đưa xuống thuyền và rước bà về Đại Việt bằng đường biển.[52][53]

Sau khi Chế Mân chết, em là Chế Chí lên ngôi vua Chiêm Thành. Theo sách Việt Nam sử lược, Chế Chí "hay phản trắc, không giữ những điều giao ước trước" với Đại Việt.[47] Tháng 12 âm lịch năm 1311, Trần Anh Tông quyết định tấn công Chiêm Thành. Dưới sự chỉ huy của nhà vua cùng Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn và Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, quân đội Đại Việt đã chia làm 3 cánh thủy, bộ tiến vào phương Nam, đánh bại quân Chiêm và bắt Chế Chí đem về nước.[38] Anh Tông lập em Chế Chí là Chế Đà A Bà Niêm làm vua chư hầu đất Chiêm.[47] Tháng 6 âm lịch năm 1312, vua Trần chiến thắng trở về kinh sư. Anh Tông không làm lễ phong thưởng công thần vì ông quan niệm "công lao của các quan ở lại giữ nước và các tướng theo ta đi đánh trận là ngang nhau".[54] Chế Chí được phong tước Hiệu Thuận vương, không lâu sau thì chết ở hành cung Gia Lâm (Thăng Long) và được hỏa táng.[55]

Theo sách An Nam chí lược của Lê Tắc bên nhà Nguyên, mùa đông năm 1311, nhà Nguyên sai Thượng thư Bộ Lễ Nãi Mã Thái đi sứ sang Đại Việt, để báo việc đăng quang của Nguyên Nhân Tông, nhưng Trần Anh Tông bận đánh Chiêm nên không thể đón tiếp. Giữa năm 1312, Anh Tông về đến kinh đô, liền sai sứ sang chúc mừng Nguyên Nhân Tông và tạ lỗi về việc không tiếp sứ Nguyên.[44]

Năm 1313, quân Xiêm La sang xâm lấn Chiêm Thành. Trần Anh Tông chỉ định Đỗ Thiên Hư làm Kinh lược sứ Nghệ AnLâm Bình, giúp người Chiêm chiến đấu giữ đất.[56][57]

Truyền ngôi và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 âm lịch năm 1305, Trần Anh Tông lập con thứ 4 là Trần Mạnh làm thái tử.[25] Ngày 18 tháng 3 âm lịch năm Giáp Dần (nhằm ngày 3 tháng 4) năm 1314, ông nhường ngôi cho Trần Mạnh, tức hoàng đế Trần Minh Tông. Anh Tông lui về Thiên Trường (Nam Định) làm Thái thượng hoàng, được tặng tôn hiệu là Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế (光尧睿武太上皇帝).[58][59] Trên danh nghĩa Thượng hoàng, Trần Anh Tông vẫn tham gia công việc triều chính.[22] Ông đã khuyên bảo Minh Tông phải tin dùng những người tài đức như Bùi Mộc Đạc hay Huệ Vũ Đại vương Quốc Chẩn, và phải hiểu biết kinh nghiệm từ các thời vua trước. Đại Việt tiếp tục thịnh trị dưới sự cai quản của hai vua Anh Tông, Minh Tông cùng các đại thần tài năng.[60]

Cuối năm 1318, thượng hoàng Trần Anh Tông đau nặng. Theo Toàn thư Bảo Từ hoàng hậu đã cho gọi sư Pháp Loa (Phổ Tuệ) về để làm lễ xem sự sinh tử, Anh Tông gạt đi mà bảo rằng: "Sư hãy đến đây, ta chết rồi, Quan gia có sai bảo gì, thì cứ việc làm. Còn như chuyện sau khi chết, thì sư cũng chưa chết, biết đâu mà trình bày việc chết với ta?".[61] Tuy nhiên, căn cứ trên sự thân hữu của Anh Tông đối với Pháp Loa, tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận đã nghi vấn câu chuyện này như sau:[34]

"Lời nói hắt hủi Pháp Loa gán cho Anh Tông có lẽ được một sử thần nho gia ghét đạo Phật thêm vào. Có thể vì Anh Tông mệt quá không thể nói chuyện được với Pháp Loa muốn được nghĩ yên dôi chút trước khi nhắm mắt nên đã lắc đầu không muốn Pháp Loa vào, thế thôi. Trong trạng thái đó, bảo người ra nhắn một câu nói vô lễ, đó không phải là phong độ của một người như Anh Tông."

Sách Thánh đăng ngữ lục kể rằng thượng hoàng đã đàm đạo với Pháp Loa ngay trước khi mất:[37]

"Năm Canh Thân niên hiệu Đại Khánh thứ bảy (1320) vua bệnh, ra chiếu mời Tôn giả Phổ Tuệ đến gặp và hỏi:
Bồ tát làm những hạnh nghiệp gì để vào lại trần lao, độ thoát cho chúng sanh?
Phổ Tuệ đáp:
Người xưa sau khi được chánh kiến rồi, hằng ngày nhồi thành một mảnh, nên hay lấy sanh tử làm nơi du hí, qua lại chẳng ngại, thân tùy theo ý sanh, tùy chỗ tạm gá. Kinh Viên Giác nói: “Bồ tát trở lại trần lao, chẳng phải do ái làm gốc”.
Vua hỏi thêm:
Thế nào là dụng tâm chặt thẳng?
Phổ Tuệ đáp:
Nhân Tông Điều Ngự có nói: “Buông xuống! Buông xuống! Buông chẳng xuống, liền chính là kẻ ấy”. Lại, người xưa nói: “Một niệm chẳng sanh tức Phật như như”.
Ngày hôm sau, vua lại mời ngài Phổ Tuệ vào nói về đạo lý “Buông xuống”. Phổ Tuệ dẫn chỗ chặt thẳng của người xưa, vua mỉm cười, nói: “Đệ tử đối với lẽ này rất có sở đắc, thật chẳng dối vậy!”
Phổ Tuệ bảo:
Dừng! Dừng! Chẳng cần nói, việc tốt chẳng bằng không.
Vua mỉm cười, trở mình nằm lại, liền thăng hà, hưởng 45 tuổi đời."

Ngày 16 tháng 3 âm lịch năm Canh Thân (nhằm ngày 21 tháng 4 năm 1320), Trần Anh Tông qua đời ở cung Trùng Quang (thuộc phủ Thiên Trường), hưởng dương 44 tuổi.[22] Ngày 12 tháng 12 âm lịch năm 1320 (tức 10 tháng 1 dương lịch năm 1321), ông được chôn cất vào Thái lăng tại Yên Sinh (nay thuộc huyện Đông Triều, Quảng Ninh). Triều đình truy tôn ông miếu hiệuAnh Tông (英宗), thụy hiệuỨng Thiên Quảng Vận Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu hoàng đế (應天廣運顯文睿武欽明仁孝皇帝).[61]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Trần Anh Tông có Thủy vân tùy bút (Tùy bút nước mây) gồm 2 quyển, trong đó ông vẽ nhiều bức họa và dưới mỗi bức hoạ đều có thơ đề. Tuy nhiên, Anh Tông đã sai đốt tập thơ này trước khi ông mất. Nay thơ ông chỉ còn lại 12 bài chép trong Việt âm thi tập.[62][63] Có bài làm trên đường đi chinh chiến, có bài vịnh sử, có bài bàn về đạo Thiền. Đáng chú ý là những bài tả cảnh như các bài "Vân tiêu am", "Đông Sơn tự". Tập thơ này được Phan Huy Chú khen là "bài nào cũng là thanh tân và có lực lượng" (Văn tịch chí). Ngoài ra ông còn có bài "Thạch dược châm" (Bài châm về những lời can ngăn trung trực), sáng tác để răn dạy cho thái tử Trần Mạnh.[25][63]

Theo nhận xét trong cuốn Thơ văn Lý Trần (tập 2, quyển thượng) do Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn, thơ của Trần Anh Tông "giản dị, trong sáng, giàu tình cảm và trau chuốt. Niềm hào hứng của người chiến thắng, mang lại yên vui cho dân cũng như niềm tự tin, sự tỉnh táo của một nhà lãnh đạo tối cao phản ánh trong thơ ông. Đặc biệt, Anh Tông đã mở đầu cho dòng thơ vịnh sử của nước nhà. Trong số thơ này, thái độ khen chê những nhân vật lịch sử thể hiện sự tiếp thu có phê phán với quá khứ, đồng thời bày tỏ những quan điểm trị nước và cũng là nhân sinh quan của tác giả..."[64]

Sách Thơ văn Lý-Trần cũng chép lại một số thi phẩm của Trần Anh Tông như sau:

東山寺
風搖解虎秋蟬過,
月瀉軍持夜澗寒。
休向五臺勞夢寐,
看來天下幾東山。
Đông Sơn tự
Phong dao giải hổ thu thiền quýnh,
Nguyệt tả quân trì dạ giản hàn.
Hưu hướng Ngũ Đài lao mộng mị,
Khan lai thiên hạ kỷ Đông San.
Chùa Đông Sơn
Gió lay thiền trượng ve im tiếng,
Tràng chảy trong bình, suối lạnh hơn.
Mơ ước Ngũ Đài chi nữa nhỉ?
Trên đời hồ dễ mấy Đông Sơn.
Bản dịch của Huệ Chi[64]
冬景
蒼描翠抹削晴峰,
紫府樓臺倚半空。
幾度碧桃先結實,
洞天三十六春風。
Đông cảnh
Thương miêu thuý mạt tước tình phong,
Tử phủ lâu đài ỷ bán không.
Kỷ độ bích đào tiên kết thực,
Động thiên tam thập lục xuân phong.
Cảnh đông
Vẽ thắm, tô xanh sáng đỉnh non,
Lưng trời phủ tía dựa chon von.
Bích đào chín sớm bao nhiêu bận?
Ba sáu cung trời gió ấm tuôn.
Bản dịch của Huệ Chi và Phạm Tú Châu[65]
宋度宗
邊風瑟瑟逼人寒,
正是東風盡醉間.
一日權歸師相手,
太平天子十年閒.
Tống Độ Tông
Biên phong sắt sắt bức nhân hàn,
Chính trị đông phong tận tuý gian.
Nhất nhật quyền quy sư tướng thủ,
Thái bình thiên tử thập nhiên nhàn.
Tống Độ Tông
Biên cương gió vút lạnh ghê người,
Ấy lúc xuân về say lả lơi.
Quyền bính một ngày sư tướng nắm,
Thái bình, thiên tử mười năm chơi.
Bản dịch của Huệ Chi[66]

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư đã ca ngợi Trần Anh Tông là vị vua "sáng suốt, thận trọng về hình phạt"" tính tình khiêm tốn hoà nhã, hoà mục với người trong họ, mọi việc của triều đình đều tự mình quyết đoán".[1] Tuy nhiên, với nhãn quan Nho giáo, Toàn thư vẫn phê phán ông là quá mộ đạo Phật:[7]

Trong bộ Việt giám thông khảo tổng luận (biên soạn vào thời Hậu Lê), sử gia Lê Tung cũng bàn rằng:[67]

Trong sách Việt Nam Phật giáo Sử luận (tập 1, chương XII), tác giả Nguyễn Lang - thiền sư Thích Nhất Hạnh có nhận xét:[31]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Văn Đức phu nhân Trần thị (文德夫人陳氏), nguyên phối, cháu nội Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, con gái trưởng của Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng. Lập làm Thái tử phi năm 1292. Khi Anh Tông kế vị lại lập làm Văn Đức phu nhân rồi lại phế đi. Không rõ kết cục.
  2. Bảo Từ hoàng hậu Trần thị (保慈皇后陳氏; ? - 1330), con gái Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng, em gái Văn Đức phu nhân. Anh Tông kế vị phong làm Thánh Bà Phu nhân (聖婆夫人) rồi Thuận Thánh Hoàng hậu (順聖皇后). Minh Tông kế vị tấn tôn làm Thuận Thánh Hoàng thái hậu (順聖皇太后).
  3. Chiêu Từ hoàng hậu Trần thị (昭慈皇后陳氏; ? - 1359), nguyên là Huy Tư hoàng phi (徽思皇妃), con gái của Bảo Quốc vương Trần Bình Trọng, mẹ sinh Trần Minh Tông. Khi Minh Tông kế vị, bà được tôn làm Huy Tư hoàng thái phi (徽思太皇妃). Thụy hiệu của bà là Chiêu Từ hoàng thái hậu (昭慈皇太后).
  4. Tĩnh Huệ phi Phạm thị (静惠妃范氏), con gái Phạm Ngũ Lão, không con, xuất gia năm 1309.
  5. Đa La Thanh, con gái sư người Hồ là Du Chi Bà Lam.
  6. Cung tần Trần Thị Thái Bình (宮嬪陳氏太平).
  7. Nữ quan Vương thị (女官王氏).
  • Con:
  1. Ba người con trai mất sớm, không rõ tên.
  2. Trần Mạnh [陳奣], tức vua Trần Minh Tông, con của Chiêu Từ Hoàng hậu.
  3. Thiên Chân Công chúa [天袗公主], con gái Bảo Từ Hoàng hậu, lấy Huệ Chính Vương.
  4. Ý Trinh Công chúa [懿貞公主].
  5. Huy Chân Công chúa [徽袗公主], con gái Cung tần Trần Thị Thái Bình, lấy Uy Giản Hầu.
  6. Huệ Chân Công chúa [惠袗公主], con gái Nữ quan Vương thị.
  7. Thánh Chân Công chúa [聖袗公主].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 229-230.
  2. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 215-220.
  3. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 205-207.
  4. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 260-261.
  5. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 64-66.
  6. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 183.
  7. ^ a ă â b Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 205.
  8. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 185.
  9. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 222.
  10. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 202.
  11. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 240.
  12. ^ Thực ra, Đại Việt sử ký toàn thư có nói: "...皇長孫烇七遠歹生立為皇太孫未幾立為東宫皇太子";...hoàng trưởng tôn Thuyên sinh, lập làm hoàng thái tôn, ít lâu sau lập làm Đông cung hoàng thái tử. Tuy nhiên về sau lại ghi lập Đông cung Thái tử Thuyên làm Hoàng thái tử, rất mâu thuẫn.
  13. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 203.
  14. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 64.
  15. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 247.
  16. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 208-210.
  17. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 86.
  18. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 230.
  19. ^ a ă â b Trần Trọng Kim 1971, tr. 65.
  20. ^ a ă Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 244.
  21. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 217.
  22. ^ a ă â Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 229.
  23. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 220.
  24. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 215.
  25. ^ a ă â b c Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 218.
  26. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 216.
  27. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 209.
  28. ^ a ă â Nhiều tác giả 1988, tr. 566-567.
  29. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 226.
  30. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 215.
  31. ^ a ă â Nguyễn Lang 1979, chương XII: "Trần Nhân Tông và Thiền phái Trúc Lâm"
  32. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 451–455.
  33. ^ Hoàng Độ (14 tháng 9 năm 2016). “Hướng tới kỷ niệm 35 năm thành lập GHPGVN: Kỳ 1: Những dấu ấn trên con đường vận động thống nhất Phật giáo VN”. Giác Ngộ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Truy cập 5 tháng 12 năm 2016. 
  34. ^ a ă â b c d Nguyễn Lang 1979, chương XIII: "Thiền sư Pháp Loa (1284-1330)"
  35. ^ a ă â Lê Mạnh Thát 1999, chương VI: "Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia"
  36. ^ Nguyễn Tài Thư 1988, tr. 148.
  37. ^ a ă â b Hòa thượng Thích Thanh Từ (phiên dịch) (1999). Thánh Đăng Lục Giảng Giải (PDF). Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh. Truy cập 27 tháng 12 năm 2016.  các trang 75-78.
  38. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 223.
  39. ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 63.
  40. ^ a ă â Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 242-243.
  41. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 85.
  42. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 458–459.
  43. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 206.
  44. ^ a ă â Lê Tắc 1961, tr. 106.
  45. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 220-221.
  46. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 210.
  47. ^ a ă â b Trần Trọng Kim 1971, tr. 66.
  48. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 245.
  49. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 208.
  50. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 252.
  51. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 208–216.
  52. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 219.
  53. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 255-256.
  54. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 224.
  55. ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1998, tr. 259.
  56. ^ Lê Quý Đôn 1959, tr. 7-8..
  57. ^ Maspéro 2002, tr. 90.
  58. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 225.
  59. ^ Ngô Thì Sĩ 1991, tr. 91.
  60. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 228.
  61. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 231-239.
  62. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 229=230.
  63. ^ a ă Theo Trần Thị Băng Thanh, mục từ "Trần Thuyên" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004, tr. 1807.
  64. ^ a ă Nhiều tác giả 1988, tr. 566-568.
  65. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 569.
  66. ^ Nhiều tác giả 1988, tr. 576-577.
  67. ^ Lê Tung. Việt giám thông khảo tổng luận. Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm. tr. 13b-14a. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngô Sĩ Liên (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Ngô Thì Sĩ; Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu (phiên dịch) (1991). Việt sử tiêu án. Nhà xuất bản Văn Sử. 
  • Lê Quý Đôn; Ngô Lập Chí (phiên dịch) (1959). Phủ biên tạp lục. Khoa Xã hội - Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. 
  • Lê Tắc; Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam (phiên dịch) (1961). An Nam chí lược. Viện Đại Học Huế. 
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục 
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục 
  • Nguyễn Lang (1979). Việt Nam Phật giáo sử luận 1. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học. 
  • Nguyễn Huệ Chi; Trần Thị Băng Thanh; Đỗ Văn Hỷ; Trần Tú Châu (1988). Thơ văn Lý Trần (PDF). II—Quyển thượng. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 
  • Nguyễn Tài Thư (1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội, ISBN 1565180984 
  • Lê Mạnh Thát (1999). Trần Nhân Tông: Con người và tác phẩm. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. 
  • Nguyễn Hiền Đức (1973). Lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài. Đại học Văn khoa Sài Gòn. 
  • Chapuis, Oscar (1995), A history of Vietnam: from Hong Bang to Tu Duc, Greenwood Publishing Group, ISBN 0-313-29622-7 
  • Maspéro, Georges (2002), The Champa Kingdom: The History of an Extinct Vietnamese Culture, White Lotus Press, ISBN 9747534991