Trần Văn Năng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Trần Văn Năng (陳文能, 1763[1] - 1835), là tướng nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Văn Năng là người huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa.

Năm Đinh Dậu (1777), ông đầu quân chúa Nguyễn Phúc Ánh. Nhờ có sức mạnh và giỏi võ nghệ, ông được bổ làm đội trưởng, rồi thăng Thuộc nội cai đội.

Ông theo Tả quân Lê Văn Duyệt, lập nhiều chiến công, được thăng vệ úy. Sau, ông theo Tiền quân Nguyễn Văn Thành, đến khi đánh hạ được thành Bình Định, ông được thăng Phó đô Thống chế hậu doanh Thần sách, rồi Đô thống chế.

Năm 1802, chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long, ông hộ giá nhà vua ra Thăng Long đánh đổ nhà Tây Sơn. Đến khi vua Cảnh Thịnh cùng đoàn tùy tùng bị bắt hết, ông mang chiến thuyền trở về Kinh đô Huế.

Năm 1808, ông quản lãnh Thần sách ngũ dinh ở Gia Định, chưa được bao lâu, lại được triệu về kinh, cử đi mộ lính (1810).

Năm 1812, ông kiêm lãnh Chấn vũ quân phó tướng, vừa gặp lúc quân Xiêm La xâm lấn Chân Lạp, vua nước này là Nặc Chân chạy xuống Gia Định, ông được lệnh mang quân đến Tân Châu (một huyện biên giới, nay thuộc tỉnh An Giang) phòng thủ.

Năm 1813, Trần Văn Năng cùng Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt đưa Nặc Chân về nước. Sau đó ông được triệu về kinh kiêm lý Thần sách quân ngũ dinh.

Năm 1818, ở Nghệ An có nhóm người nổi lên chống nhà Nguyễn, quan quân địa phương chế ngự không nổi, vua Gia Long phái Trần Văn Năng mang quân đi tiểu trừ.

Năm Minh Mạng nguyên niên (năm 1820), ông được thăng Chưởng tiền quân ấn vụ kiêm Phù liễn sứ kiêm Thị vệ đại thần, phụ trách việc xây dựng Từ Thọ cung.

Năm 1821, nhà vua ngự giá ra Bắc để nhận dụ sắc phong của nhà Thanh, ông được sung chức Tùy giá đại thần.

Năm 1822, trời mưa to làm sụp 2.057 trượng (tức 8.228m) tường thành của kinh thành Huế. Vua Minh Mạng giao cho ông và Nguyễn Văn Vân đốc xuất công việc tu sửa.

Năm sau (1823), ông lại lãnh nhiệm vụ trùng tu nhà Thái Miếu, rồi sau nữa ông được sung Tổng lý đại thần và được cử vào Gia Định làm Phó tổng trấn. Trong thời gian ở đây, ông đã hiệp cùng Nguyễn Văn Thoại, Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Văn Tồn cùng lo việc mộ dân, và đôn đốc việc đào kinh Vĩnh Tế tại vùng biên giới tỉnh An Giang.

Năm 1824, ông lại được triệu về kinh đô Huế nhận chức Tiền quân đô thống chế quản thủ.

Từ năm 1826 trở đi, ông lần lượt trải qua các chức: Chưởng dinh kiêm lãnh Thương bạc và Quản giáo dưỡng binh, Quản đốc Tào chính quyển lãnh Tướng quân Thống chế ấn triện, Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự.

Năm 1832, xét công trạng, nhà vua ban cho ông tước Lương Tài hầu.

Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi binh chiếm thành Gia Định, rồi cho người sang cầu cứu vua Xiêm La. Vua nước này bèn cho nhiều đạo quân cùng tiến sang xâm lấn nước Việt. Để đối phó cánh quân Tây Nam của đối phương, vua Minh Mạng phong Trần Văn Năng làm Bình Khấu tướng quân để hiệp với các tướng là: Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm, Tống Phước Lương...cùng thống lãnh quân đội chống ngăn.

Sau nhiều trận giao tranh dữ dội, quan quân Việt thu phục được đồn Châu Đốc, thành Hà Tiên...rồi vượt sang biên giới đánh đuổi quân Xiêm La ra khỏi thành Nam Vang (nay là kinh đô vương quốc Campuchia).

Phần vì tuổi già, phần vì chinh chiến gian khổ, Trần Văn Năng lâm trọng bệnh phải giao binh quyền lại cho tướng Trương Minh Giảng để về nước trị bệnh. Thuyền chở Trần Văn Năng đến Bến Siêu (thuộc Cù Lao Tây, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp) thì ông qua đời (1835), thọ 72 tuổi.

Nghe tin ông mất, vua Minh Mạng ra lệnh phải mang thi hài ông về Kinh đô Huế an táng, cho truy tặng ông chức Thái phó tước Tân Thành quận công, ban tên thụy là Trung Dũng. Ngoài ra, nhà vua còn cho bãi triều ba ngày và ban cho một bài thơ ngự chế.

Năm 1858, vua Tự Đức cho thờ ông trong đền Hiền Lương. Mộ ông hiện còn ở miền núi Hoàng Long thuộc thành phố Huế[2].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đại Nam chính biên liệt truyện chép Trần Văn Năng mất năm 72 tuổi, tạm suy ra ông sinh năm 1763.
  2. ^ Theo

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]