Trần Văn Nhựt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
TRẦN VĂN NHỰT
Tiểu sử
Sinh 17 tháng 12, 1935
Sài Gòn, Việt Nam
Mất 5 tháng 1, 2015 (80 tuổi)
California, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Republic of Vietnam Marine Division SSI.png Thủy quân Lục chiến
ARVN 2nd Division SSI.svg Sư đoàn 2 Bộ binh
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ III[1]
Công việc khác Tỉnh trưởng

Trần Văn Nhựt (1935-2015), nguyên là một tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ trường Võ bị Liên quân vào thời kỳ cuối của Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ra trường, ông được phân bổ vào đơn vị Bộ binh, nhưng ngay sau đó được chuyển qua Lực lượng Thuỷ bộ (Bộ binh Hải quân) và đã phục vụ ở đơn vị này một thời gian dài. Sau này, ông trở lại đơn vị Bộ binh và lên đến chức vụ chức vụ chỉ huy cấp Sư đoàn.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 17 tháng 12 năm 1935, là con thứ 4 trong một gia đình tư thương trung lưu tại Sài Gòn. Từ năm 1948 đến năm 1953, ông học ở các trường Lasan Taberd, Đồng Nai và Trung học Tư thục Huỳnh Khương Ninh, Đakao, Sài Gòn. Đậu bằng Brevet Élémentaire Pháp, tương đương văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 9 năm 1953, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 55/ 700.743. Theo học khóa 10 Trần Bình Trọng tại trường Võ bị Liên Quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1953. Ngày 1 tháng 6 năm 1954 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[2] Ra trường, ông được điều động đến Tiểu đoàn 68 Việt Nam với chức vụ Đại đội phó Đại đội 1 do Trung úy Thạch Khay làm Đại đội trưởng. Tháng 12 cùng năm, ông trúng tuyển vào Lực lượng Thuỷ bộ (Marine Infantry), tiền thân của Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến. Đến cuối tháng 7 năm 1954, ông được cử làm Đại đội trưởng Biệt động đội, đồn trú tại Nha Trang.

Quân đội Việt nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối tháng 10 năm 1955, sau khi đơn vị ông từ Quân đội Quốc gia chuyển sang phục vụ cơ cấu mới là Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông chỉ huy đơn vị tăng phái cho Tiểu đoàn 1 Thuỷ bộ[3] tham gia chiến dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây Nam phần do Đại tá Dương Văn Đức làm Chỉ huy trưởng. Ngày 26 tháng 10 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Trung úy tại mặt trận. Cuối tháng 11, sau khi đơn vị Biệt động đội giải tán, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 1 kiêm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Thuỷ bộ do Đại úy Bùi Phó Chí làm Tiểu đoàn trưởng. Ngày 6 tháng 12 cùng năm tham dự trận Giồng Riềng, Rạch Giá. Đến giữa năm 1956, ông được cử đi du học lớp Không yểm tại Okinawa, Nhật Bản. Cuối năm 1958, tiếp tục được cử đi du học lớp căn bản Binh chủng dành cho sĩ quan tại căn cứ Thuỷ quân Lục chiến Quantico, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Tháng 6 năm 1959 mãn khóa về nước, ông giữ chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Thuỷ quân Lục chiến do Đại úy Nguyễn Văn Tài làm Tiểu đoàn trưởng.

Tháng 11 năm 1960, ông được thăng cấp Đại úy, và được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 thay thế Đại úy Lê Nguyên Khang. Đầu năm 1961, ông được đi du học lớp Chỉ huy Tham mưu tại căn cứ Quantico, Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Tháng 6 năm 1962 về nước, ông tái nhiệm lần thứ 2 làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 thay thế Đại úy Nguyễn Bá Liên.

Đầu tháng 11 năm 1963, ông tham gia trong cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngày 1 tháng 11). Ngày 2 tháng 11, ông được đặc cách thăng cấp Thiếu tá tại mặt trận và được cử giữ chức Tư lệnh phó kiêm Tham mưu trưởng Lữ đoàn Thuỷ quân Lục chiến thay thế Trung tá Nguyễn Bá Liên được cử làm Tư lệnh Lữ đoàn.

Tháng 3 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý nội bộ ngày 30 tháng 1 của tướng Nguyễn Khánh, ông nhận lệnh bàn giao chức vụ Tư lệnh phó Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến lại cho Thiếu tá Nguyễn Thành Yên và chức vụ Tham mưu trưởng Lữ đoàn lại cho Đại úy Bùi Thế Lân, sau đó ông được cử đi làm Tùy viên Quân lực đặt cạnh Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Manila, Philippines.

Ngày lễ Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1966, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Tháng 2 năm 1967, rời Philippines về nước, ông được giữ chức Phụ tá Đổng lý Văn phòng Bộ Quốc phòng. Tháng 9 cùng năm, ông chuyển trở về Bộ binh được bổ nhiệm chức vụ Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn 18 Bộ binh đặt tại Long Giao, Long Khánh. Tháng 4 năm 1968, ông chuyển ra đơn vị tác chiến giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 43 thuộc Sư đoàn 18 Bộ binh. Đầu năm 1969, chuyển sang làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 cùng Sư đoàn.

Tháng giêng năm 1970, biệt phái sang lĩnh vực Hành chính, ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long. Ngày lễ Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1971, ông được thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Hạ tuần tháng 8 năm 1972, sau trận chiến Mùa hè đỏ lửa giữ vững An lộc. Chuyển ra miền Trung, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, sau khi bàn giao chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long lại cho Đại tá Phạm Văn Phúc. Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 cùng năm, ông được đặc cách tại mặt trận thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 3, di tản Sư đoàn 2 Bộ binh ra đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), sau đó chiều ngày 1 tháng 4 được tàu Hải quân chở vào Bình Tuy. Tại đây Sư đoàn được bổ sung quân số và tái trang bị. Ngày 13 và 14, Sư đoàn 2 được điều động ra mặt trận Phan Rang. Ngày 16 tháng 4, địch quân chọc thủng phòng tuyến Phan Rang, ông cùng Sư đoàn di tản vào miền Nam.

Trưa ngày 29 tháng 4, tại Vũng Tàu cùng với Phó Đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại dùng phi cơ trực thăng cơ hữu UH-1 bay ra biển. Tiếp theo được di tản đến Căn cứ Hải quân "Subic Bay" của Hoa Kỳ tại Philippines.

Sau đó sang định cư tại Houston, Tiểu bang Texas. Thời gian sau di chuyển về Orange County, Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Ngày 5 tháng 1 năm 2015, ông từ trần tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 80 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • - Huy chương VNCH:
    - Chương mỹ Bội tinh đệ nhất hạng.
    - Trên 60 huy chương Quân sự và Dân sự.
  • - Huy chương Hoa Kỳ:
    - 2 Huy chương ngôi sao bạc - (Silver Star).
    - 1 Danh dự Bội tinh (Legion of Merit).
    - 2 Huy chương ngôi sao đồng vơi V (Valor).
    - 1 Lục quân Vinh công Bội tinh với V (Valor).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (ân thưởng).
  2. ^ Tốt nghiệp khoa 10 Trần Bình Trọng, sau này lên tướng còn có:
    -Thiếu tướng Lê Minh Đảo (SN 1933, nguyên Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến)
    -Chuẩn tướng Vũ Văn Giai (SN 1934, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ binh)
    -Chuẩn tướng truy thăng Nguyễn Trọng Bảo (SN 1930, nguyên Chỉ huy Chiến đoàn 52 Đặc nhiệm)
  3. ^ Tiểu đoàn 1 Thủy bộ về sau đổi tên là Tiểu đoàn 1 Quái Điểu, Thủy quân Lục chiến

Gia tộc và Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • -Tổ tiên của ông nguyên gốc họ Tô, quê ở miền Trung. Đầu thế kỷ 19 vào Nam lập nghiệp tại Ba Tri, Bến Tre. Đến đời thân phụ ông cải tộc thành họ Trần và lên định cư ở Sài gòn.
  • Thân phụ: Cụ Trần Văn Ngọ
  • Thân mẫu: Cụ Huỳnh Thị Liên
- Hai cụ có 7 người con gồm 6 trai, 1 gái.
  • Phu nhân: Bà Trần Kim Lan
- Ông bà có 4 người con trai.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.