Trận Gazala

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Gazala
Một phần của Chiến dịch Sa mạc Tây trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
AfricaMap4.jpg
Bản đồ Sa mạc Tây, trong thời gian diễn ra trận Gazala.
.
Thời gian 26 tháng 521 tháng 6 năm 1942 (25 ngày)
Địa điểm Gazala, gần Tobruk, Libya
Kết quả Phe Trục chiến thắng[Gc 1]
Tham chiến
 Anh Quốc
 Ấn Độ
 Nam Phi
 Pháp tự do
 Đức Quốc Xã
 Vương quốc Ý
Chỉ huy
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Claude Auchinleck
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Neil Ritchie
Đức Quốc Xã Erwin Rommel
Lực lượng
110.000 người[3]
843 xe tăng[4]
90.000 người[3]
560 xe tăng[4]
Tổn thất
50.000 chết, bị thương hay bị bắt[Gc 2][6]
1.188 xe tăng bị mất[Gc 3][7]
Đức: tổng cộng 3.360 người
Ý: thấp hơn quân Đức[8]
~400 xe tăng bị tiêu diệt[Gc 4]
.

Trận Gazala là một trận chiến quan trọng thuộc Chiến dịch Sa mạc Tây trong Chiến tranh thế giới thứ hai, diễn ra quanh thành phố cảng Tobruk tại Libya từ ngày 26 tháng 5 đến 21 tháng 6 năm 1942. Lực lượng tham chiến bên phía phe TrụcTập đoàn Panzer châu Phi, bao gồm các đơn vị Đức Quốc XãPhát xít Ý nằm dưới quyền chỉ huy của "Con cáo Sa mạc" Erwin Rommel; còn bên phe Đồng Minh là Tập đoàn quân số 8 Anh, do trung tướng Neil Ritchie chỉ huy dưới sự giám sát chặt chẽ của Tổng tư lệnh Trung Đông, đại tướng Sir Claude Auchinleck.

Rommel đã thúc lực lượng thiết giáp của mình vòng qua sườn phía nam Gazala để tấn công quân thiết giáp Anh nằm phía sau hệ thống phòng thủ của Đồng Minh. Mặc dù giành thắng lợi trong lần giao tranh này, nhưng Rommel đã nhận thấy mình đang ở tại một tình trạng bấp bênh: sự kháng cự của Lực lượng Pháp Tự do tại Bir Hakeim vẫn tiếp diễn, giữ chặt đầu phía nam trận tuyến của Đồng Minh tại Gazala, quấy nhiễu đường tiếp tế khiến cho xe tăng của ông bị thiếu nhiên liệu và đạn dược. Ritchie đã không kịp tận dụng lợi thế này và Rommel liền tập trung lực lượng đánh về phía tây, mở hành lang tiếp tế qua trận tuyến Gazala ở phía bắc Bir Hakeim. Trận đánh kết thúc với thắng lợi vang dội của phe Trục mặc dù cái giá số xe tăng phải trả là khá cao. Mất đi những lực lượng thiết giáp hiệu quả trong các trận đánh sau đó, Rommel đã không thể đánh bại triệt để Tập đoàn quân số 8 khi họ rút về Ai Cập[Gc 5] và cuộc truy kích của ông đã bị chặn đứng lại trong Trận El Alamein thứ nhất.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực tiến quân của Rommel từ El Agheila đến El Alamein, 21 tháng 1-21 tháng 6 năm 1942

Rommel một lần nữa tiến quân từ El Agheila[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối năm 1941, Chiến dịch Crusader kết thúc với thắng lợi của quân Đồng Minh, phe Trục buộc phải lui quân trở lại điểm xuất phát ở El Agheila. Tuy nhiên, Auchinleck, cho rằng các lực lượng của Rommel đã kiệt sức, vội vàng ra lệnh tiến công thần tốc từ Cyrenaica đến El Agheila với ý định tiêu diệt các toán quân Đức và Ý đang phân tán trên nhiều tuyến phòng thủ dọc bờ biển Libya, việc ra lệnh tiến quân này làm cho tuyến tiếp tế của Tập đoàn quân số 8 Anh bị căng quá mức. Trong khi đó, sau 1-2 tháng trì hoãn, các lực lượng phe Trục ở Libya bắt đầu được tăng viện thêm binh lính, xe tăng và máy bay, và cứ tiếp tục đến cuối tháng Giêng năm 1942, khi Tập đoàn quân số 2 Đức được rút ra khỏi mặt trận Xô-Đức.

Trong khi ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của việc tiếp tế cho Tập đoàn quân số 8 đang đóng tại El Agheila, Bộ chỉ huy Tối cao Anh ở Cairo đã đánh giá thấp sức chiến đấu của phe Trục, có rất nhiều phóng đại về thương vong của các bên trong chiến dịch Crusader, tướng Auchinleck cho rằng quân số Đức và Italy hiện tại chỉ có 35.000 người, tuy nhiên con số thực có thể lên 80.000, vượt xa ước tính ban đầu của Anh. Quân đoàn 8 dự kiến sẽ sẵn sàng tấn công vào tháng 2 và Bộ Tư lệnh Anh tin rằng quân đội phe Trục quá yếu ớt và thiếu chuẩn bị cho một cuộc phản công. Ngày 21 tháng 1, Rommel sử dụng ba đơn vị thiết giáp mạnh từ hai sư đoàn Panzer 15 và 21 làm nhiệm vụ trinh sát chiến thuật, bằng việc tìm kiếm khu vực mỏng nhất của tuyến phòng ngự, Rommel lập tức ra lệnh tấn công, chiếm lại Benghazi vào ngày 28/1 và Timimi vào ngày 3/2. Đến ngày 6/2, quân Anh bị đánh bại và bị đẩy lùi về tuyến Gazala-Bir Hakeim, vài dặm về phía Tây Tobruk, cũng từ đó quân Đức và Ý bắt đầu kiệt sức, quân Anh có 1.309 thương vong từ ngày 21, 41 xe tăng bị phá hủy, 30 chiếc khác bị mất do tai nạn và hư hỏng cùng 40 khẩu pháo.

Thống chế Erwin Rommel cùng các trợ lý trong chiến dịch tại sa mạc, năm 1942

Tập đoàn quân số 8 đóng quân trên tuyến Gazala[sửa | sửa mã nguồn]

Ở giữa Gazala và Timimi, Tập đoàn quân số 8 có thể tập trung lực lượng để củng cố và chiến đấu. Đến ngày 4 tháng 2, trước mắt thì phe Trục đã bị chặn đứng và mặt trận đi vào ổn định, từ tuyến Gazala trên 1 bãi biển rộng 30 dặm về phía Tây Tobruk đến 1 pháo đài cũ của Đế quốc Ottoman tại Bir Hakeim, 50 dặm về phía Nam. Tuyến Gazala là một loạt các ''hộp'' phòng ngự, bên trong mỗi hộp quân Anh bố trí 1 lữ đoàn bộ binh bao bọc dây kẽm gai và mìn xung quanh. Phòng tuyến ở Bir Hakeim do 2 lữ đoàn của Lực lượng Pháp Tự do gồm Lữ đoàn Bộ binh 150 và Lữ đoàn 69 trấn giữ trong phạm vi gần 20 dặm.

Thiếu tướng Neil Ritchie nói chuyện với các viên chỉ huy của mình, 31 tháng 5 năm 1942.

Cơ cấu binh lực hai bên[sửa | sửa mã nguồn]

Đồng Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Phe Trục[sửa | sửa mã nguồn]

Kế hoạch của Rommel[sửa | sửa mã nguồn]

Xe tăng M13/40 đang tiến qua sa mạc.

Trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch tấn công của Rommel.

Đòn bọc sườn của Rommel[sửa | sửa mã nguồn]

Thất bại nặng nề của lực lượng thiết giáp Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đoàn quân số 8 rút khỏi tuyến Gazala[sửa | sửa mã nguồn]

Tobruk thất thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Tù binh Anh rời khỏi Tobruk

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Rommel tại cảng Tobruk

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Churchill tuyên bố, "Đây là một trong những đòn nặng nề nhất mà tôi có thể nhớ trong chiến tranh. Không chỉ là những hệ quả nặng nề về quân sự, mà nó còn tác động đến uy tín của quân đội Anh."[1] Sử gia Ducan Anderson, trong công trình nghiên cứu về trận đánh, đã cho biết: "Trận Gazala là một thất bại tai hại của Tập đoàn quân số 8, gây nên những tổn thất nặng nề, sự thất thủ của Tobruk và một cuộc rút lui trong hỗn loạn về El Alamein....Trận đánh này đã bắt đầu khi quân Anh mạnh hơn về số lượng và chất lượng trang bị, đặc biệt là xe tăng Grant, so với đối thủ của họ....Tuy nhiên, từ đầu đến cuối Bộ chi huy Đức đã thể hiện tài chỉ huy quân sự vượt trội."[2]
  2. ^ ~35.000 tù binh tại Tobruk[5]
  3. ^ Quân Anh đã nhận được hàng trăm xe tăng tiếp viện trong cuộc chiến. Nhiều chiếc chỉ bị thương nhưng không thể phục hồi được do tập đoàn quân 8 phải rút lui. Phía Anh mất gần như toàn bộ số xe tăng của họ, mặc dù có một số chiếc bị thương di tản được.
  4. ^ Không rõ con số chính xác. Trong trận chiến sức mạnh xe tăng của phe Trục thậm chí còn không đến 100 chiếc hoạt động. Một số lượng đáng kể xe tăng đã được sửa chữa trong và sau trận đánh.
  5. ^ Cuối trận đánh này các sư đoàn Panzer 15 và 21 chỉ còn tổng cộng 44 xe tăng.[9]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Barr, tr. 1
  2. ^ Anderson, tr. 75
  3. ^ a ă Barr, tr. 13
  4. ^ a ă Carver, tr. 167
  5. ^ Barr, tr. 16
  6. ^ Ford, Ken. El Alamain 1942. Oxford: Osprey Publishing. ISBN 1-84176-867-7, tr. 10
  7. ^ Barr, tr. 39
  8. ^ Carver, tr. 249
  9. ^ Ellis, tr. 57

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]