Trận Maysalun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trận Maysalun
معركة ميسلون
Một phần của the Chiến tranh Pháp-Syria
Gouraud inspecting troops at Maysalun.jpg
Tướng Pháp Henri Gouraud đang duyệt quân đội của ông tại dãy núi Đối Diện Liban trước ngày Trận Maysalun diễn ra
Thời gian24 tháng 7 năm 1920
Địa điểm
Kết quả Pháp chiến thắng
Tham chiến

Pháp Pháp

Flag of Kingdom of Syria (1920-03-08 to 1920-07-24).svg Vương quốc Ả Rập Syria

  • Arab Army and volunteer militias
Chỉ huy và lãnh đạo
Pháp Henri Gouraud
Pháp Mariano Goybet

Flag of Kingdom of Syria (1920-03-08 to 1920-07-24).svg Yusuf al-'Azma 
Flag of Kingdom of Syria (1920-03-08 to 1920-07-24).svg Hassan al-Hindi

Chỉ huy dân quân:
Flag of Kingdom of Syria (1920-03-08 to 1920-07-24).svg Muhammad al-Ashmar
Flag of Kingdom of Syria (1920-03-08 to 1920-07-24).svg Yasin Kiwan 
Lực lượng
12,000 quân (hậu thuẫn bởi xe tăng và máy bay) 1,400–4,000 quân chính quy, kỵ binh Bedouin, dân tình nguyện
Thương vong và tổn thất
42 tử trận
152 bị thương
14 mất tích (Pháp công bố)[1]
~150 tử trận (Pháp công bố)
~1,500 bị thương (Pháp công bố)[1]

Trận Maysalun (tiếng Ả Rập: معركة ميسلون‎), còn được gọi là Trận Maysalun Pass hoặc Trận Khan Maysalun, là trận chiến giữa lực lượng Vương quốc Ả Rập SyriaQuân đoàn Levant của Pháp vào 24 tháng 7 năm 1920 gần Khan Maysalun tại Dãy núi Đối Diện Liban, cách phía tây Damascus 25 km.

Trận đánh này có ý nghĩa lịch sử vô cùng lớn với người Syria cũng như các nước Ả Rập khác. Trong khi nó đã hoàn toàn bị quên lãng ở các nước phương Tây và các nơi khác, trận đánh này có một ảnh hưởng lâu dài với những nước Ả Rập. Thất bại của Syria khiến người Ả Rập lần đầu tiên tin rằng các nước phương Tây mang đến chủ nghĩa bành trướng, đàn áp, không tôn trọng các thỏa ước đã ký với người Ả Rập, và rằng các nước phương Tây sẽ chỉ gieo mầm tai họa bằng cách xâm lăng và xẻ đôi các nước trong vùng. Yusuf Al-Azma, người chỉ huy và là bộ trưởng quốc phòng Ả Rập duy nhất tử trận, vẫn được người dân Syria ghi nhớ như anh hùng dân tộc và hàng năm rất nhiều người Syria đến viếng mộ ông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Khoury 1987, p. 97.