Trận Thái Thạch (1161)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Thái Thạch
Một phần của Chiến tranh Kim-Tống
Song Dynasty river ship with a catapult on its top deck
Chiến hạm được trang bị máy bắn đá của quân Tống, lấy từ sách Vũ kinh tổng yếu
.
Thời gian 26–27 tháng 11 năm 1161
Địa điểm Thái Thạch, trên sông Trường Giang
Kết quả Quân Tống thắng lợi
Tham chiến
Nhà Kim Nam Tống
Chỉ huy
Hoàn Nhan Lượng Ngu Doãn Văn
Lực lượng
400.000 ~18.000 quân[1]
Tổn thất
Không rõ Không rõ
.

Chiến tranh giữa hai nước TốngKim diễn ra vào cuối năm 1161, được phát động bởi Kim đế Hoàn Nhan Lượng. Cuộc chiến này thường được gọi là trận Thái Thạch (tiếng Trung: 采石之戰, Thái Thạch chi chiến), bởi gần như đây là trận giao tranh duy nhất đáng kể, lại có tính quyết định đến toàn cục. Trận đánh diễn ra vào các ngày 26-27 tháng 11 năm 1161. Đại quân nhà Kim dưới sự chỉ huy của Kim đế Hoàn Nhan Lượng cố gắng vượt Trường Giang với ý định thôn tính Nam Tống, thống nhất Trung Quốc. Trong khi đó, quân Tống lại được dẫn dắt bởi một quan văn là Ngu Doãn Văn. Các tàu guồng của quân Tống được trang bị máy lăng bắn bom cháy được làm từ thuốc nổ và vôi không gặp phải nhiều khó khăn để đánh chìm tàu hạng nhẹ của người Kim.

Kể từ năm 1125, người Kim đã chiếm hết lãnh thổ ở phía bắc sông Hoài của nhà Tống. Vào năm 1142, Hoàn Nhan Tông Bật và phái chủ hòa của Nam Tống hợp đàm, ký kết Thiệu Hưng hòa nghị, đến lúc này biên giới Kim-Tống hoàn toàn xác định theo Tần Lĩnh-Hoài Hà tạo nên thế Kim ở bắc còn Tống ở phía nam. Năm 1150, Hi Tông nhà Kim bị anh họ là Hải Lăng vương Hoàn Nhan Lượng sát hại và cướp ngôi. Kim đế Lượng có chí nhất thống Trung Hoa. Năm 1158, Kim đế Lượng tuyên bố rằng người Tông đã vi phạm hòa ước năm 1142, một cái cớ để tuyên chiển.

Bối cảnh, trù bị và chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Kim: toàn lực nam xâm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1149, hữu thừa tướng Hoàn Nhan Lượng giết Kim Hi Tông, tự lập làm đế. Năm 1152, Lượng mệnh bọn Trương Hạo tu sửa cung điện ở Yên Kinh, năm sau (1153) dời đô về đấy, gọi là Trung Đô Đại Hưng. Tiếp đó là cho sửa sang Biện Kinh, chuẩn bị dời xa hơn về phía nam. Mục đích của việc dời đô về Biện Kinh là nhằm thống trị hiệu quả hơn các khu vực Hà Đông, Hà BắcTrung Nguyên, quan trọng nhất là xâm lược Nam Tống.

Tháng giêng ÂL năm 1159, ngoài Tứ Châu, việc giao thương giữa 2 nước Tống - Kim đều bị đình chỉ. Bọn Hộ bộ thượng thư Tô Bảo Hành ở Thông Châu đóng chiến thuyền; rồi tập hợp quân các lộ Mãnh an Mưu khắc kể cả người Khiết Đan, Hề từ 25 ÷ 50 tuổi, cả thảy hơn 50 vạn người. lại mệnh các lộ đúc nhiều binh khí, tập hợp chiến mã, lên đến 56 vạn thớt ngựa. Năm 1160, phát động các lộ quân Hán và thủy thủ, được 3 vạn người. Đồng thời, tăng cường việc xây dựng cung điện tại Khai Phong, dùng làm căn cứ địa cho cuộc nam xâm.

Tháng 7 ÂL năm 1161, Lượng dời đô đến Biện Kinh. Tháng 9, Lượng tự thống lãnh 32 tổng quản, 60 vạn quân, chia 4 lộ nam xâm, ý đồ một trận diệt Nam Tống:

Đông lộ do Lượng tự soái lãnh, từ Thọ Xuân đánh Hoài Nam.
Trung lộ do Lưu Ngạc, Bộc Tán Ô Giả soái lãnh, từ phía nam Thái Châu đánh Kinh Tương.
Tây lộ do Đồ Đan Hợp Hỷ, Trương Trung Ngạn soái lãnh, từ Phượng Tường đánh Đại Tản Quan.
Đường biển do Tô Bảo Hành, Hoàn Nhan Trịnh Gia soái lãnh, nhằm thẳng vào Lâm An.

Nước Tống: chủ chiến đắc thế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1158, Tôn Đạo Phu đi sứ trở về báo cáo Kim có ý xâm Tống, Cao Tông không tin, tể tướng Thang Tư Thoái cho rằng Đạo Phu cùng phe với Trương Tuấn, biếm ông ta làm Tri Miên Châu. Cuối năm 1159, sứ Kim là Thi Nghi Sanh tiết lộ tình hình, Tống Cao Tông một mặt lập Triệu Viện làm hoàng tử, nếu kháng Kim thất bại thì thoái vị, bỏ trốn; một mặt vào mùa xuân năm sau (1160) phái Đồng Tri Xu mật viện sự Diệp Nghĩa Vấn đi sứ, thám thính hư thực. Nghĩa Vấn quay về xác thực tin tức, hữu tướng Trần Khang Bá, Binh bộ thượng thư Dương Xuân lập tức bố trí phòng bị cùng Lưỡng Hoài. Dưới sự uy hiếp của quân Kim và sự phản đối của phái chủ chiến, Cao Tông đành bãi chức của thủ lĩnh phái chủ hòa là tả tướng Thang Tư Thoái.

Tháng 4 ÂL năm 1161, Kim sai sứ đến khiêu khích. Tháng 5, sứ giả đòi cắt vùng Hoài, Hán cho Kim, lấy Trường Giang làm ranh giới. Triều đình Nam Tống tranh luận sôi nổi, phái chủ hòa muốn bỏ trốn, Trần Khang Bá cầm đầu đa số triều thần kiên quyết phản đối, Cao Tông đành ra lệnh chuẩn bị chiến đấu, chia 4 lộ đón địch:

Ngô Lân làm Tứ Xuyên tuyên phủ sứ, phụ trách phòng ngự Xuyên, Thiểm.
Lưu Kĩ làm Hoài Nam, Giang Nam, Chiết Tây chế trí sứ, tiết chế các lộ quân mã, đảm nhiệm việc chống trả quân Kim ở khu vực Giang, Hoài.
Thành Mẫn làm Kinh Hồ chế trí sứ, soái 3 vạn quân đồn thú Ngạc Châu, cùng Ngô Củng giữ Tương Dương tạo thành thế ỷ giốc, phòng ngự trung du Trường Giang.
Lý Bảo làm Duyên hải chế trí sứ, soái 120 cỗ hải thuyền theo đường biển bắc tiến, tập kích thủy quân Kim.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Quân Kim: khởi đầu thuận lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi quân Kim nam hạ, quân Tống không đánh mà tan. Trong khoảng 1 tháng, quân Kim tiến đến Hòa Châu [2]. Nghe tin, Lưu Kĩ ôm bệnh từ Trấn Giang vượt sông tiến đến Dương Châu, phái binh lên bắc đến Bảo Ứng, Hu Dị, Hoài Âm, chuẩn bị phòng ngự Hoài Đông. Nhưng phụ trách Hoài TâyVương Quyền ở mãi Kiến Khang, dưới sự thúc giục của Lưu Kĩ, mới đi Hòa Châu; Lưu Kĩ lại nhiều lần hạ lệnh, mới đi Lư Châu.

Đầu tháng 10 ÂL, Lưu Kĩ đến Hoài Âm, thì quân Kim theo đường Hoài Tây vượt sông Hoài. Vương Quyền không hề phòng bị, nghe tin lập tức bỏ Lư Châu chạy về Hòa Châu. Lưu Kĩ bất đắc dĩ lui về Dương Châu, trong khi quân Kim áp sát Trường Giang.

Tin tức truyền về Lâm An, triều đình Nam Tống rối loạn, nhiều người đem gia thuộc bỏ trốn, Cao Tống cũng muốn chạy ra biển. Trần Khang Bá kiên quyết phản đối, Cao Tông mới vờ tỏ ý muốn thân chinh, tiếp tục kháng địch. Giữa tháng 10, lấy Tri xu mật viện sự Diệp Nghĩa Vấn làm Đốc Giang, Hoài quân, trung thư xá nhân Ngu Doãn Văn tham mưu quân sự. Lúc này quân Kim đã chiếm Chân Châu [3], Vương Quyền từ Hòa Châu trốn về Thái Thạch. Tiếp đó Lưu Kĩ phải bỏ Dương Châu về Qua Châu, rồi lại về Trấn Giang. Nhà Tống mất sạch vùng Lưỡng Hoài.

Quân Tống: văn nhân làm tướng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lúc này, Kim đế biết rằng Hoàn Nhan Ung đã nhận được sự ủng hộ từ khu vực Hoàng Hà trở lên phía bắc, lại càng nôn nóng nam xâm. Ngày 8 tháng 11 ÂL (26/11), Lượng quyết định xua 40 vạn đại quân trong tay vượt sông ở Thái Thạch ki.

Diệp Nghĩa Vấn đến Kiến Khang, phái Lý Hiển Trung thay Vương Quyền. bấy giờ, Vương Quyền bị bãi chức, lập tức bỏ đi, tàn quân của ông ta vẫn ở Thái Thạch mà Hiển Trung chưa đến. Ngu Doãn Văn đi Thái Thạch khao quân, dò biết quân Kim sắp vượt sông, vội vã lên đường. Ngày 8 tháng 11, Doãn Văn đến nơi, thấy 1,8 vạn tàn quân sĩ khí xuống thấp, tản mác bên đường, đều tính chuyện bỏ trốn. Doãn Văn triệu tập chư tướng, dùng lời trung nghĩa để thuyết phục, chấn hưng sĩ khí, quyết tâm chiến đấu.

Đại chiến Thái Thạch[sửa | sửa mã nguồn]

Ngu Doãn Văn lập tức men sông bố trận. Quân Tống đều náu mình sau núi, Hoàn Nhan Lượng cho rằng Thái Thạch trống rỗng, đưa thủy quân Kim áp sát bờ nam, mới thấy đối phương bày trận để đợi, nhân dân Đương Đồ cổ vũ kéo dài mười mấy dặm không dứt. Lượng không còn cách nào khác, thúc quân tiến lên. Thủy quân Tống dùng phần lớn là Đạp xa hải thu thuyền (loại thuyền cổ có bánh xe, mang hình dáng một loài cá voi), lớn mà linh hoạt; trong khi thuyền của quân Kim nhỏ hơn, không sao địch nổi, bị đánh cho đại bại.

Hôm sau, Ngu Doãn Văn lại phái Tân Thịnh soái thủy quân chủ động tiến đánh Dương Lâm Khẩu ở bờ bắc Trường Giang. Thuyền quân Kim rời khỏi bến, bị nỏ cứng của quân Tống bắn rát, lại bị pháo Tích lịch oanh kích, mất hơn 300 cỗ, một lần nữa chịu đại bại.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn Nhan Lượng không thể vượt sông, đành lui về Hòa Châu, rồi đi Dương Châu. Lượng không kìm được cơn giận, đem giết những binh sĩ 3 ngày qua đã nhận lệnh vượt sông. Việc này khiến cho mâu thuẫn nội bộ bị kích phát. Lượng lại đi Qua Châu, thì hơn 20 vạn quân Tống của Dương Tồn Trung, Thành Mẫn, Thiệu Hoành Uyên đã tập hợp ở Kinh Khẩu, quân Kim hết cách vượt sông.

Hạ tuần tháng 11 ÂL, Hoàn Nhan Nguyên Nghi giết chết Hoàn Nhan Lượng. Đầu tháng 12, quân Đông lộ của Kim lui chạy, quân Tống thừa cơ thu phục khu vực Lưỡng Hoài.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Thái Thạch là chiến dịch có ý nghĩa trọng yếu trong chiến tranh Tống – Kim. Dưới sự chỉ huy của Ngu Doãn Văn, quân dân Nam Tống bẻ gãy chủ lực của quân Kim, đạp tan kế hoạch nam xâm của Kim đế Hoàn Nhan Lượng, đẩy nhanh tập đoàn thống trị Hoàn Nhan Lượng đến bờ vực chia rẽ và tan rã. Kết quả này giúp cán cân trong chiến tranh Tống – Kim lần đầu tiên nghiêng về phía Tống, tạo tiền đề cho cuộc bắc phạt Long Hưng sau đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Franke 1994, tr. 242.
  2. ^ Nay là Hòa (huyện), An Huy
  3. ^ Nay là Lục Hợp, Giang Tô