Trịnh Căn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Căn
鄭根
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Trịnh Căn.png
Chân dung Trịnh Căn trong Trịnh gia chính phả
Trịnh Vương
Tại vị 1682 - 1709
Tiền nhiệm Trịnh Tạc
Thời vua
Kế nhiệm Trịnh Cương
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn Thị Ngọc Phượng
Ngô Thị Ngọc Quyền
Ngô Thị Ngọc Uyên
Tên đầy đủ Trịnh Căn
Tước hiệu Định Nam Vương (定南王)
Thụy hiệu Khang Vương (康王)
Miếu hiệu Chiêu Tổ (昭祖)
Gia tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Tạc
Thân mẫu Vũ Thị Ngọc Lễ
Sinh 1633
Mất 1709
Đàng Ngoài, Việt Nam

Định Nam Vương Trịnh Căn (chữ Hán: 鄭根, 16331709), thụy hiệu Chiêu Tổ Khang Vương (昭祖康王), là vị chúa Trịnh thứ 4 thời Lê Trung Hưng, cầm quyền từ tháng 8 năm 1682 đến tháng 5 năm 1709.

Sự nghiệp của Trịnh Căn chính là gạch nối cơ bản giữa thời Trịnh-Nguyễn phân tranh và thời thịnh trị của Đàng Ngoài. Ông là người chỉ huy có công chặn đứng thế bắc tiến của Chúa Nguyễn, giữ hoà bình cho Bắc Hà và đưa miền bắc Đại Việt vào thời kỳ phát triển phồn thịnh trở lại sau nhiều năm binh lửa.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Căn là con trưởng của Tây Định Vương Trịnh Tạc, mẹ là bà Vũ Thị Ngọc Lễ, người xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng. Xét về thế thứ thì ông là con trai thứ tư của đức Hoằng Tổ Dương vương, nhưng do ba người anh trước đều mất sớm nên ông được coi là con trưởng[1].. Lúc nhỏ ông từng phạm tội bị giam vào ngục, sau nhờ khéo vận động nên được tha. Năm 1656, Trịnh Căn được gia phong Phó đô tướng tước Phú quận công, mở dinh Tả quốc, thống lĩnh chư tướng và Nghệ An đánh Nam triều kiêm trấn thủ đất Nghệ An, gia thăng hàm Thái phó. Trịnh Căn chính thức xuất hiện trên chiến trường kể từ trận Nghệ An, cuộc đụng độ thứ 5 giữa 2 tập đoàn phong kiến Trịnh và Nguyễn lúc mới 24 tuổi.

Đại chiến quân Nguyễn, 1655 - 1672[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Căn lớn lên trong thời chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh và Nguyễn đang ở cao trào. Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, ông nội của Trịnh Căn 4 lần mang quân vào nam đều không giành được thắng lợi, hao binh tổn tướng. Tháng 4 năm 1655, chúa Nguyễn cử hai danh tướng là Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân lần đầu tiên vượt sông Gianh đánh ra bắc, chiếm Bắc Bố Chính và 7 huyện Nghệ An. Đất căn bản Thanh Hoá của cả vua Lê lẫn chúa Trịnh bị uy hiếp dữ dội.

Trịnh Tráng phải cử cha Trịnh Căn là thế tử Trịnh Tạc vào làm Thống lĩnh, nhưng sau đó Trịnh Tạc lại được triệu về kinh, để lại các tướng ở lại trấn thủ[2][3].

Năm 1656, các tướng Trịnh lại bại trận chạy về An Trường. Trịnh Tráng bèn cử con út là Ninh quận Công Trịnh Toàn, chú của Trịnh Căn, mang quân vào cứu viện. Toàn đốc quân đánh nhau với quân Nguyễn, tuy ban đầu thắng được hai trận ở Hương Bộc, Đại Nại nhưng sau đó lại bị thua, một lần nữa lại phải co về giữ An Trường.

Lừa gạt Trịnh Toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa lúc chiến trận ở Nghệ An đang ác liệt thì Trịnh Tráng bệnh nặng, Trịnh Tạc được phong làm Tây Đô Vương thay cha cầm quyền điều hành. Ngờ Trịnh Toàn có ý tranh ngôi, Trịnh Tạc bèn cho Trịnh Căn làm Phú quận công, mang quân vào Nghệ An, vừa để tăng viện chống quân Nguyễn vừa để phòng ngừa Trịnh Toàn làm loạn. Theo lệnh cha, Trịnh Căn vào Nghệ An, đóng ở huyện Hưng Nguyên nghe ngóng tình hình. Lúc đó quân của Trịnh Toàn đóng đồn ở Quảng Khuyến, Trịnh Căn đóng đồn ở Bạt Trạc đều bắt quân đào hào đắp lũy, chia nhau phòng giữ nơi hiểm yếu. Toàn cảm thấy băn khoăn, bèn dẫn quân về An Trường. Trịnh Căn cũng đem quân về Phù Long để quan sát động tĩnh của Toàn[3].

Tháng 4 năm 1657 chúa Trịnh Tráng qua đời, Tây Đô vương Trịnh Tạc chính thức lên ngôi, sai người tới trách cứ Trịnh Toàn vì cha chết mà không về chịu tang, rồi triệu về kinh. Các tướng dưới quyền Trịnh Toàn lo sợ bị hỏi tội bèn chạy sang đầu hàng chúa Nguyễn. Trịnh Toàn thế cô, đến cửa doanh trại của Trịnh Căn xin cháu đoái thương. Trịnh Căn lấy lẽ thuận nghịch thuyết phục rồi ép chú về kinh[2][3]. Trịnh Toàn miễn cưỡng trở về kinh, bị Trịnh Tạc bắt giam, lấy cớ không chịu tang cha rồi tra hỏi tội và giết đi.

Cầm cự với địch mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 1657, Trịnh Căn chia quân sai Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến và Trịnh Thế Công vượt sông Lam đánh tướng Nguyễn là Tống Hữu Đại ở huyện Thanh Chương. Do có người tiết lộ, Hữu Tiến biết trước phòng bị nên quân Trịnh bị thua rút về bờ bắc sông Lam. Sau đó Trịnh Căn điều quân đánh Đông Hôn nhưng cũng bị thua trận.

Trước thế địch mạnh, thắng trận liên tiếp, quân nhà đang nhụt nhuệ khí, Trịnh Căn chủ trương cầm cự, không đánh lớn để chờ thời cơ. Ông cũng biết thực lực của quân Nguyễn không đủ mạnh, quân ít chỉ lợi đánh nhanh thắng nhanh, đi đánh xa lâu ngày đã mệt nên cũng không đủ sức ồ ạt bắc tiến như trước. Tranh thủ thời gian ngưng chiến, ông ra sức củng cố tinh thần tướng sĩ vừa bị thua trận và chia rẽ sau chuyện Trịnh Toàn. Nhờ đó khi thế quân Trịnh dần dần được tăng lên rõ rệt. Trong quân ngũ, Trịnh Căn điều hành rất nghiêm. Biết tướng Nguyễn Đức Dương lén bán lương cho quân Nguyễn để kiếm lợi, Trịnh Căn bắt Dương xử tử ngay. Sau đó ông lại phát hiện tướng Hoàng Nghĩa Chấn vì ganh ghét Đào Quang Nhiêu nên không chịu đến tiếp ứng cho Nhiêu khiến trận đánh quân Nguyễn ở Bạch Đàng thất bại, ông bèn giết chết Chấn.

Việc hành xử của vị thống chế trẻ tuổi khiến tướng sĩ một lòng tin phục chấp hành mệnh lệnh. Tháng 6 năm 1658, tù trưởng Lang Công Chấn ở Quỳnh Lưu theo Nguyễn, mang quân đánh Trịnh, bị quân Trịnh đánh bại bắt được giải về Thăng Long. Tháng 7, quân Nguyễn vượt sông Lam thắng được Nguyễn Hữu Tá ở huyện Hưng Nguyên nhưng sau đó bị tướng Lê Thì Hiến đánh bại phải rút về. Tháng 12, quân Trịnh đánh thắng quân Nguyễn ở huyện Hương Sơn.

Những thắng lợi liên tiếp dù chỉ là những cánh quân nhỏ của địch nhưng nâng cao tinh thần cho quân Trịnh rất nhiều. Cùng lúc đó biến cố khác khiến Trịnh Căn thêm tin tưởng vào khả năng đánh bại quân Nguyễn.

Quân Nguyễn không đủ thực lực để tự mình bắc tiến nên Nguyễn Hữu Dật đã sai người ra bắc câu kết với các lực lượng phản Trịnh như Phạm Hữu LễSơn Tây, họ MạcCao Bằng, họ VũTuyên Quang. Tuy nhiên hai bên dùng dằng, ỷ lại vào nhau. Tây Định Vương Trịnh Tạc phát giác, dụ giết chết Phạm Hữu Lễ khiến các cánh Mạc, Vũ không dám cử động, quân Nguyễn cũng hết trông đợi nội ứng. Giữa lúc đó các tướng Nguyễn nảy sinh mâu thuẫn. Nguyễn Hữu Tiến và thuộc tướng ghét Hữu Dật vì Dật được chúa Nguyễn tin hơn. Trịnh Căn nhân đó bèn sai người mang vàng đến dụ nhưng không kết quả. Tuy nhiên ông nhận thấy thời cơ đánh thắng quân chủ lực của Nguyễn đã đến.

Thu hồi đất cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại ở Đông Hôn lần thứ hai tháng 8 năm 1660, Trịnh Căn viết thư về kinh xin thêm viện binh. Chúa Trịnh phát thêm 1 vạn quân và 3 tướng ra mặt trận. Có thêm lực lượng, ông chia quân ra bày trận nhiều nơi khiến quân Nguyễn không biết phải phòng bị chỗ nào.

Trịnh Căn bàn với các tướng về việc phản công quân Nguyễn. Trần Công Bách đề xuất việc đánh chiếm cứ điểm quan trọng là Lận Sơn[4]. Trịnh Căn rất tâm đắc việc đó.

Tháng 9 năm 1660, Trịnh Căn chia quân đánh Lận Sơn, sai Hoàng Nghĩa GiaoLê Thì Hiến đang đêm vượt sông Lam. Cánh quân của Giao đến Lận Sơn bị Nguyễn Hữu Dật vây ngặt, 4 tướng Trịnh bị tử trận. Trịnh Căn đang thị chiến trên núi Dũng Quyết, thấy Giao bị vây bèn điều quân đến cứu, lại sai các đội quân thuỷ tiến qua sông trợ chiến, nhằm quân Nguyễn bắn dữ dội. Nguyễn Hữu Dật không cự nổi, thua chạy rút về Khu Độc. Cánh quân của Thì Hiến và Mẫn Văn Liên đụng Nguyễn Hữu Tiến ở Tả Ao, Tuy tướng Mẫn Văn Liên tử trận nhưng quân Trịnh phá được luỹ, đốt cháy doanh trại Hữu Tiến. Tiến thua to phải rút về Nghi Xuân.

Thế là hai cánh quân Nguyễn do hai danh tướng khét tiếng bách chiến bách thắng từng làm khiếp đảm quân Trịnh đều đã bị đánh bại. Tinh thần quân Trịnh vô cùng phấn chấn. Những cái tên Hữu Dật, Hữu Tiến không còn là nỗi ám ảnh cho quân Trịnh nữa.

Chúa Trịnh nghe tin thắng trận lại tăng viện cho Trịnh Căn. Ngày 17 tháng 11 năm 1660, biết bên Nguyễn các tướng bất hoà, quân (mới hàng ở Nghệ An) lại bỏ trốn, Trịnh Căn sai Lê Thì HiếnLê Sĩ Triệt đánh huyện Nghi Xuân, Hoàng Nghĩa GiaoNguyễn Năng Thiệu đánh huyện Thiên Lộc. Quân Trịnh liên tiếp phá tan quân Nguyễn trong 3 ngày 17, 18 và 19. Quân Nguyễn tan vỡ thua chạy. Quân Trịnh lấy lại 7 huyện ở Nghệ An.

Nguyễn Hữu Tiến thua trận buộc phải rút quân, nhưng vì ghét Nguyễn Hữu Dật nên giả cách hạ lệnh đánh An Trường và bí mật rút về Nam Bố Chính không báo cho Hữu Dật biết. Trịnh Căn đang đà thắng, điều quân sang sông đánh Khu Độc. Hữu Dật biết tin Hữu Tiến rút, bèn nghi binh khiến quân Trịnh không dám đuổi gắt. Quân Trịnh lấy lại Bắc Bố Chính, sau đó lui 20 dặm đóng ở Kì Hoa[3]. Thế là toàn bộ đất đai bị mất năm 1655 được thu về. Trịnh Căn để Đào Quang Nhiêu kiêm trấn thủ Nghệ An và Bắc Bố Chính.

Trịnh Tạc nghe tin Trịnh Căn thắng trận, bèn sai Thượng thư bộ Lễ Phạm Công Trứ mang kim sách đến phong cho ông là Khâm sai tiết chế các dinh quân thủy quân bộ, kiêm giữ chính quyền, chức thái úy tước Nghi quận công, được mở phủ Lý quốc và ban cho ấn bạc[2][3].

Hai lần nam tiến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 ÂL năm 1661, Trịnh Căn ca khải hoàn về Thăng Long, để Đào Quang Nhiêu ở lại làm trấn thủ Nghệ An kiêm giữ công việc châu Bắc Bố Chính, Lê Sĩ Triệt, Hồ Sĩ DươngTrịnh Tế làm đốc thị, quản lĩnh các tướng đóng ở Hà Trung.

Tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc mang vua Lê Thần Tông cử đại binh vào nam. Trịnh Căn được cử làm thống lĩnh cùng các tướng Hoàng Thể Giao, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến vượt sông Gianh. Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp luỹ thế thủ, giết tướng Trịnh là Hoan Trung. Quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được. Tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, Trương Văn Vân bèn nhân đêm tối lẻn ra khe Động Giản, bắn giết hơn trăm người. Trịnh Căn bỏ doanh lũy chạy. Trịnh Tạc kinh hoàng bèn rút quân về bắc[2][3].

Năm 1672, Trịnh Căn lại cầm quân nam tiến. Ông được cha sai lĩnh thuỷ binh, Lê Thì Hiến lĩnh bộ binh. Quân Trịnh hăng hái đánh luỹ Trấn Ninh mấy lần suýt hạ được nhưng Hữu Dật cố sức chống đỡ. Quân Trịnh đánh mãi không thắng phải rút về Bắc Bố Chính, gặp lúc Trịnh Căn lại bị ốm, Trịnh Tạc lúc đó tuổi đã cao, thấy con là chỗ dựa lớn nhất không thể cầm quân bèn rút đại quân về kinh, cử Lê Thì Hiến, Lê Sĩ Triệt ở lại trấn thủ. Giao tranh Trịnh Nguyễn từ đó cũng ngừng hẳn.

Giao tranh với họ Mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Vì Mạc Kính Vũ vẫn chiếm giữ Cao Bằng, năm 1667, Trịnh Căn theo cha đi đánh. Ông được giao cầm riêng một cánh quân đi đường Thái Nguyên, còn Trịnh Tạc đi đường Lạng Sơn. Mạc Kính Vũ nghe tin, biết không chống nổi nên bỏ chạy sang Tiểu Trấn Yên thuộc đất nhà Thanh. Quân Trịnh bắt được nhiều thuộc hạ của họ Mạc.

Sau khi quân Trịnh rút đi, Kính Vũ lại trở về Cao Bằng. Đến năm 1677, chúa Trịnh sai Đinh Văn Tả cầm quân đánh Cao Bằng mới dứt được họ Mạc[5][6].

Cai trị Đàng Ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Ổn định xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1674, Trịnh Tạc do tuổi cao sức yếu, tâu xin nhà vua phong cho Trịnh Căn làm Nguyên soái, Tổng quốc chính, Định Nam vương, dự bị thừa kế ngôi chúa[1]. Trịnh Căn tự xưng là Phó vương. Từ bấy giờ, phủ Phó vương ban ra lệnh gì thì gọi là lệnh chỉ để phân biệt với lệnh dụ từ phủ chúa ban ra[5]

Năm 1682, Trịnh Tạc mất, Trịnh Căn lên ngôi chúa[1][7]. Kế tục sự nghiệp của cha, Trịnh Căn chú tâm củng cố bộ máy cai trị ở Bắc Hà. Ông trọng dụng các danh sĩ như Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Quý Đức, Nguyễn Tông Quai, v.v... Năm 1683, Trịnh Căn hạ lệnh cho các quan phải vi hành để thị sát dời sống dân chúng. Trong lệnh chỉ ông viết:

Năm 1687, Trịnh Căn rút lệ chống án xuống bốn tháng cho việc giết người và ba tháng cho việc trộm cướp, hai tháng cho các việc tạp tụng khác. Năm 1693, ông chỉnh đốn lại thể văn thi ở các khoa trường, đặt chức quan quản lĩnh công việc ở Quốc Tử Giám, lập sổ "tu tri" quản lý các xã thôn trong nước. Lại theo lời tham tụng Nguyễn Văn Thực, bắt đầu đặt chức quan kiêm bản lãnh công việc ở Quốc Tử giám. Lại chia nho thần làm bốn hạng: liêm năng, bình thường, trễ biếng và tham giảo[8].

Năm 1694, ông hạ lệnh xử tử 52 người Đa Già Thượng[9] và triệt hạ làng đó sau khi phát giác ra việc người làng ấy trong 2 năm đã lập nhà trọ để lừa giết cướp của cải của khách bộ hành nghỉ lại[7][8].

Mùa thu năm 1696, ông hạ lệnh cấm đạo Gia Tô một lần nữa, lại buộc người Trung Quốc sang trú ngụ, nhất luật phải tuân theo phong tục nước Đại Việt. Mùa thu cùng năm có đợt khảo quan, Trịnh Căn triệu Tham tụng Nguyễn Quán NhoLê Hy vào phủ để nghĩ sẵn đầu bài thi, sau đó Quán Nho tiết lộ đề thi ấy ra. Trịnh Căn giận, bèn biếm chức Quán Nho làm Tả thị lang bộ Binh. Hôm sau, vì đô ngự sử Nguyễn Quý Đức vì việc hối lộ mà bị giáng chức Tả thị lang bộ Binh. Trịnh Căn lại cho Quán Nho làm đô ngự sử[7]. Năm 1697, Trịnh Căn nghiêm cấm cờ bạc và đặt luật để trừng phạt đổ bạc[8].

Cũng trong năm 1697, giám thi trường Thanh Hoa Ngô Sách Tuân bí mật bí mật đưa quyển thi của con quan tể tướng Lê Hy cho khảo quan phê lấy đỗ. Việc này bị Tham chính Thanh Hoa Phan Tự Cường phát giác. Trịnh Căn khép Sách Tuân vào tội thắt cổ, Tự Cường được thăng chức thiêm đô ngự sử[7][8]. Mùa thu năm 1698, Lê Hy vì ghét Hoàng Công Chí nên dâng sớ đàn hặc; Trịnh Căn giáng Công Chí làm Hữu thị lang bộ Lễ, còn Hy được làm Thượng thư bộ Binh. Hồng lô tự khanh Vũ Thạnh làm tư giảng cho Trịnh Bính, thường đem việc người trong nội phủ xin xỏ gửi gắm về kiện tụng nói với Bính. Bính đem việc ấy nói với chúa. Chúa bèn bãi chức Vũ Thạnh.

Năm 1707, chúa sai định lại phép khảo công và niên hạn ân tuất cho dân phiêu lưu[10]. Lại nhận thấy chức trách phủ huyện là chỗ thân cận với dân, mà cách làm việc của bộ Lại ngăn trở người tài, nên lệnh hai ty Thừa chính, Hiến sát chọn trong số các viên huyện lệnh thuộc dưới quyền, đề cử người nào có thể giữ nổi chức tri huyện, tri phủ thì hãy đề cử để triều đình cất nhắc[10].

Quan hệ với Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ thế lực của họ Mạc ở Cao Bằng đã bị đánh dẹp từ năm 1677, Mạc Kính Vũ phải chạy sang Long châu thuộc Trung Quốc. Tháng 6 năm 1682, vua Khang Hi nhà Thanh hạ lệnh giao trả tù binh họ Mạc là bọn Kính Liêu cho Đại Việt. Trịnh Căn bèn Vũ Duy Đoán và trấn thủ Lạng Sơn Thân Đức Tài đến tiếp nhận. Lúc đó tên của Duy Đoán đứng dưới tên Đức Tài. Đến đầu năm 1683, khi lễ giao trả sắp diễn ra thì Duy Đoán đã được thăng chức Thượng thư, được lệnh đi cùng Vũ Công Đạo, nhưng chúa vẫn muốn công ăn để như trước. Công Đạo và Duy Đoán cố tranh luận, khuyên can. Chúa giận lắm, bãi chức cả hai người, thay vào đó là bồi tụng Nguyễn Quai và bọn Trần Thế Vinh, Đặng Đình Tướng đi cùng Thân Đức Tài[7].

Các quan bên Đại Việt bị Vương Quốc Trinh ở Quảng Tây ép phải nộp tiền hối lộ là 5500 lạng bạc để được giao trả tù binh[7]. Số tù binh 350 người họ Mạc được đưa về kinh. Nhà vua ngự điện Kiền Nguyên nhận tù binh, sau lại dẫn đến sân phủ chúa để chịu tội. Chúa Trịnh tha tội cho bọn họ, lại ban quan tước cho Kính Liêu[7]. Lại vì số tiền hối lộ quá lớn, nên Đình Tướng bị giáng chức, các quan khác cũng bị phạt tiền.

Mùa đông năm 1683, sứ nhà Thanh là Minh Đồ sang Đại Việt ban lễ phẩm tế Lê Huyền Tông và Lê Gia Tông. Lúc ấy vẫn chưa an táng Tây vương Trịnh Tạc. Trịnh Căn bèn giả mạo thư của Lê Hi Tông đưa đến mời sứ thần nhà Thanh viếng Trịnh Tạc, Minh Đồ bèn dùng lễ riêng phúng viếng[7].

Bằng nhiều nỗ lực ngoại giao, Định Nam Vương Trịnh Căn buộc nhà Thanh phải trả lại một số thôn ấp ở vùng biên giới do các quan trấn thủ nhà Thanh lấn chiếm khi họ Trịnh mải tập trung vào chiến tranh với họ Nguyễn. Vào mùa hạ năm 1688, chúa Bầu Vũ Công Tuấn bị quân Trịnh đánh bại nhiều lần nên cầu cứu với nhà Thanh, nhân đó thổ ti châu Khai Hóa của Trung Quốc chiếm đất hai châu Vị Xuyên, Bảo Lạc[11] thuộc Tuyên Quang và châu Thủy Vĩ thuộc Hưng Hóa. Triều đình nhiều lần tranh nghị nhưng chẳng ăn thua, từ đó đấy hết đời nhà Lê đất ba châu không thu lại được nữa[7].

Lúc bấy giờ Vũ Công Tuấn tự xưng là tiểu Giao Cương vương, ngầm cùng dư đảng họ Mạc thường đem quân quấy phá các vùng xung quanh, quân Đại Việt nhiều lần đánh nhưng không được. Mùa hạ năm 1689, Trịnh Căn cử đốc suất Lê Hải, đốc thị Đặng Đình Tướng đem quân tới đánh. Bọn Lê Hải gửi thư cho tổng đốc Vân Nam giao trả lại gái trai lớn bé hơn 120 người. Vũ Công Tuấn sau đó bị giải về kinh sư giết chết[7].

Thôn Na Oa châu Lộc Bình thuộc Lạng Sơn giáp với Trung Quốc, bị thổ tù Vi Vinh Diệu chiếm lấy, giao về địa giới Trung Quốc. Mùa đông cùng năm triều đình sai Đoàn Tuấn Khoa cùng Lê Chí Tuân sang phủ Tứ Thành nhà Thanh hội khám, kết quả Na Oa được trở về Đại Việt. Trịnh Căn khen về việc này, lại cho Tuấn Khoa được làm bồi tụng. Sau đó lại xảy ra tranh châp khác, thổ tù châu Tư Lăng là Vi Thế Hoa đem 4000 lạng bạc đến làm tin để ở đất Na Oa. Thế Hoa bèn đào hào và dựng 3 bia đá ở xã An Khoái Châu Lộc Bình. Từ đấy đất Na Oa lại mất về nhà Thanh[7].

Mùa hạ năm 1698, Trịnh Căn sai Nguyễn Đăng Đạo đi sứ nhà Thanh tranh luận về 3 động Ngưu Dương, Hồ Điệp và Phổ Viên thuộc châu Vị Xuyên xứ Tuyên Quang bị nhà Thanh chiếm, nhưng vua Thanh không thuận trả, cho rằng đất ấy thuộc Trung Quốc. Năm 1701, lúa chiêm ở châu Lạc Bình thuộc Lạng Sơn đã chín, Vi Vinh Diệu ở châu Tư Lăng đem dân đấn lấn cướp. Chúa sai thổ ty Vi Phúc Vĩnh phòng bị, nhưng lại lệnh đừng gây bạo động lớn[7].

Quan hệ với Ai Lao[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa đông năm 1696, chúa lệnh cho trấn thủ Nghệ An Đặng Tiến Thự đem quân hộ vệ Triều Phúc về làm vua nước Ai Lao, bắt đời đời cống nạp[7]. Năm 1700, bộ tộc Lạc Hòn dấy quân đánh Triều Phúc ở Ai Lao, không thắng được. Họ bèn đưa thư cho đốc suất Nghệ An là Lê Huyến xin vào dâng lễ cống và xin bắt Triều Phúc đem về, để người Lào được đặt tù trưởng khác và thu tô thuế để nộp. Triều đình bên Việt từ chối, cuối cùng Lạc Hòn phải xin hòa với Triều Phúc.

Năm 1706, do Triều Phúc đã lâu chưa cống nạp, Trịnh Căn sai sứ trách hỏi, Triều Phúc xin dâng cống nạp về lễ diên thọ và xin 3 năm dâng một lần. Triều Phúc lại xin giúp cho binh khí và xin cho làm thông gia. Trịnh Căn làm giấy yên ủi và gả một người cháu gái thuộc Trịnh gia cho vua ấy.

Vấn đề người kế vị[sửa | sửa mã nguồn]

Con trưởng của Trịnh Căn là Trịnh Vịnh mất sớm khi còn đương sức (1681), nên ông dùng con thứ hai là Trịnh Bách làm kế tự. Năm 1684, Trịnh Bách được tấn phong làm Khâm sai tiết chế các doanh quân thủy, quân bộ, kiêm giữ quyền chính trong nước, chức thái úy, tước Kiêm quận công, mở phủ Lý Chính[7].

Năm 1688, Trịnh Bách mất. Lúc bấy giờ con trưởng của Trịnh VịnhTrịnh Bính đã lớn, nên được dùng làm kế tự, phong tiết chế các doanh quân thủy, quân bộ các xứ, kiêm giữ cả chính quyền, chức thái úy, tước Tấn quốc công, mở phủ Dực quốc[7].

Năm 1703, Trịnh Bính qua đời. Lúc đó tuổi chúa đã cao mà ngôi thừa tự vẫn chưa ổn định. Theo kiến nghị của bồi tụng Nguyễn Quý Đức, ông quyết định lập con của Trịnh Bính là Trịnh Cương làm người thừa kế, làm tờ biểu tiến phong Cương làm khâm sai tiết chế các dinh quân thủy quân bộ kiêm giữ hết cơ quan chính quyền, chức thái úy, tước An quốc công, mở phủ Lý quốc[7][8].

Năm 1704, hai con của Trịnh BáchTrịnh Luân, Trịnh Phất liên kết với bọn Đào Quang Giai mưu đồ soán ngôi. Hiệu thảo Nguyễn Công Cơ biết việc tố cáo. Trịnh Căn bèn giết Luân và Phất, thăng Công Cơ làm Thị lang. Năm sau, nhà vua hạ chiếu nhường ngôi cho thái tử Lê Duy Đường, là Lê Dụ Tông. Hi Tông lên làm Thái thượng hoàng, ra ở điện Kiền Thọ.

Ngày 17 tháng 6 năm 1709, Trịnh Căn qua đời, hưởng thọ 77 tuổi, ở ngôi chúa được 28 năm (1682 - 1709), được tôn là Chiêu Tổ Khang vương. Các sử gia đương thời đánh giá Trịnh Căn rằng: "Về chính trị, thưởng phạt rõ ràng, mối rường chỉnh đốn, sửa sang nhiều việc." [cần dẫn nguồn] Trịnh Cương lên ngôi chúa, tức là An Đô Vương.

Nhà thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ là nhà chính trị, nhà quân sự, Trịnh Căn còn là một nhà thơ. Ông có để lại một tập thơ nôm "Khâm Định Thăng Bình Bách Vịnh Tập" gồm 90 bài, làm theo thể thơ Hàn luật. Đây là tập thơ có tính chất cung đình, nhân danh bậc vua chúa vịnh trăm bài thơ ở điện Thiên Hoà, với mục đích ca ngợi triều đại, công tích và ân huệ trị dân của mình. Theo các nhà nghiên cứu văn học, tập thơ có tính chất gần giống với "Hồng Đức quốc âm thi tập" của Lê Thánh Tông. Tập thơ có những bài vịnh cảnh sông núi, chúa miếu, thiên nhiên, thời khắc rất hay, thể hiện niềm tự hào về văn vật đất nước. Thơ của ông được các nhà nghiên cứu đánh giá là khá chải chuốt, điêu luyện dù đôi khi sa vào khuôn sáo.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói, sau vua Lê Uy Mục trở đi, ở nước Đại Việt chiến sự liên miên, những người cầm quyền phần nhiều bị cuốn vào chuyện binh đao, hiếm có một vị vương giả nào kiêm được thành tích trên cả ba mặt "chiến", "trị" và "văn" như Trịnh Căn. Hiển nhiên công tích về cả 3 mặt này của Trịnh Căn, cũng như ngôi vị của ông, đều chưa được như Lê Thánh Tông, người được coi là vị vua kiệt xuất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Mọi thứ của Trịnh Căn đều gần như một Lê Thánh Tông thu nhỏ: vua Lê là "đế", Trịnh Căn là "vương"; vua Lê mở đất, Trịnh Căn chỉ giữ đất; vua Lê làm nhiều thơ và lập cả Hội Tao Đàn, Trịnh Căn chỉ để lại một tập thơ.

Tuy nhiên, thời đại của Trịnh Căn nhiều điều kiện khách quan khó khăn hơn thời Lê Thánh Tông. Thời Lê Thánh Tông lên ngôi, dù vừa xảy ra biến loạn Lê Nghi Dân, nhưng đó chỉ là biến loạn cung đình, đời sống xã hội không hề bị xáo trộn, nhân dân được no ấm, đất nước thái bình đã hơn 30 năm. Kẻ địch lúc đó là nước Chăm Pa ở miền nam đã suy yếu. Trong khi đó, thời Trịnh Căn, nội chiến kéo dài gần nửa thế kỷ với một kẻ địch mạnh và có thừa sự khôn ngoan, đất căn bản Bắc Bộ vẫn đang bị chia cắt.

Có một đặc điểm về mặt chính trị thời Trịnh Căn khác thời Lê Thánh Tông: đó là thời của thể chế "lưỡng đầu", vừa có vua vừa có chúa, nên luôn tồn tại mâu thuẫn âm ỉ trong cung đình giữa những người trong dòng họ nắm "thực quyền" và những người trong dòng họ chỉ có quyền trên "danh nghĩa". Trịnh Căn nói riêng và các chúa Trịnh nói chung, dù có công lao với Bắc Hà, vẫn bị mang tiếng là "quyền thần", "hiếp vua", "lộng hành", nhất là sử sách nhà Nguyễn sau này đã có nhiều lời chê trách.

Sử gia Lê-Trịnh đánh giá rất cao việc Trịnh Căn ngăn chặn được việc làm phản của Trịnh Toàn đang lúc còn manh nha

Trước đó, Trịnh Toàn ngầm mưu làm loạn ở trong, lại có giặc Nguyễn xâm lấn ở ngoài, lòng người nao núng, vận nước gian truân. Bấy giờ Thống lĩnh quan phó đô tướng Thái bảo Phú quận công Trịnh Căn giỏi mưu hùng đoán, trấn phục lòng người, cho nên ngăn chặn ác nghịch lúc manh nha, tiêu diệt giặc cướp khi hung dữ, khiến cho lòng người không lay, nước nhà yên tĩnh. Thế thái sơn, bàn thạch từ đây càng thêm vững vàng.[2]

Tuy nhiên các nhà sử học về sau cho rằng Trịnh Toàn không có ý phản, ngay cả khi thủ hạ đã chạy đi hàng Nguyễn.

Tuy nhiên Trịnh Căn cũng bị nhìn nhận là có quá nhiều những hành vị thiên lệch, bất công trong thời gian cai trị. Khi mới lên ngôi, ông do tín nhiệm hoạn quan Thân Đức Tài mà gây ra vụ lùm xum trong chuyến nhận tù binh họ Mạc. Về việc đó, sách Cương mục có lời cẩn án

Bang giao là lễ trọng đại mà hoạn quan được tham dự, thượng thư và ngự sử là chức quan cao quý trong triều mà hoạn quan được vượt lên trên. Thế là đem bọn sống sót sau khi bị cắt thiến đứng trên hàng quan vào bậc tấn thân[12]. Lời tranh luận của Duy Đoán và Công Đạo thật là hợp với lẽ phải, thế mà Trịnh Căn lài bênh vực Đức Tài mà bãi chức bọn Duy Đoán, thì Trịnh Căn tự ý làm càn, cũng đã quá lắm! Lúc ấy, họ Trịnh lăn loàn lấn vượt, phàm công việc đã làm, thật khó đem lẽ phải mà đo đắn được. Sở dĩ họ Trịnh còn có thể cai trị nước được, là nhờ các sĩ phu vui lòng giúp đỡ đấy thôi. Thế mà lại khinh bỏ cả thể diện quốc gia, coi thường cả phẩm giá danh sĩ, để đến nỗi sau này bọn "điêu đang"[13] lộng quyền mà quan văn quan võ trong triều phải theo chúng sai khiến, rồi cuối cùng họ Trịnh cũng phải diệt vong. Thế thì việc này chả phải đáng làm gương răn một cách sâu sắc đó sau?

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vợ:
    • Thục phi Nguyễn Thị Ngọc Phượng, tên thụy là Trang Thân, người xã Quang Lãm (huyện Thanh Trì) bảo dưỡng đức Tiên đúc Tấn quang vương Trịnh Bính. Mất ngày 13 tháng 3.
    • Thục phi Phạm Thị Ngọc Quyền, tên thụy là Diệu Nghĩa, người làng Mỹ Cốt (huyện Lôi Dương), con gái quan Đô đốc Lưu quận công Phạm Sỹ Kỳ. Sinh ra đức Lương mục vương Trinh Vinh. Mất ngày 19 tháng 4. Lăng ở làng Phúc Hà (huyện Thụy Nguyên).
    • Thuận phi Ngô Thị Ngọc Uyên, tên Thụy là Diệu Tĩnh, nguyên quán ở xã Phượng Lịch (huyện Hoằng Hóa) cháu ông Thân Huân Tán trị Công thần hàm Thái bảo tước Hòa quận công. Con gái ông Thiếu bảo Kiêm quận công. Bảo dưỡng đức Hy Tổ Nhân vương Trịnh Cương, thời bấy giờ gọi là đức Bảo Mẫu. Mất ngày 12 tháng 11. Lăng ở làng Bảo Ngũ.
  • Con:
    • Quốc tể Lương mục công tôn phong Lương mục vương Trịnh Vịnh, là con trưởng. Sinh ngày 30 tháng 9 năm Tân Mão niên hiệu Khánh Đức thứ 3 (1654). Năm Đinh Mùi niên hiệu Cảnh Trị thứ 5 (1667), ngài 17 tuổi, thăng chức Phó đô tướng Đô đốc Đồng Tri Lương quận công mở dinh Tả khuông quân. Năm 1674, ngài 24 tuổi, thăng chức Tả đô đốc rồi lại thăng chức Thiếu phó. Năm Mậu Ngọ niên hiệu Đức Nguyên thứ năm (1678), tháng 8 ngày 23, ngài mất thọ 28 tuổi tặng chức Thái phó tiến phong Quốc tể Du nhân Vĩ tượng Thủy hựu Đốc dự Địch phúc Tích công Chiêu tiền Hiển hậu Lương công, tôn phong là Lương mục vương, tên thụy là Đôn Chính, lăng ở làng Cổ Biện (huyện Nông Cống).
      • Vợ là bà Nguyễn Thị Ngọc Duệ, tên thụy là Đoan Thận, người làng Lạc Nhuế (huyện Yên Phong), sinh ra Tấn quang vương Trịnh Bính. Mất ngày 29 tháng 6, thọ 28 tuổi. Lăng ở xứ Nhà Đài xã Bái Nại (huyện Yên Định).
    • Quan Trưởng tể Thượng tướng công Trịnh Ruyên, sau đổi thành Trịnh Bách, là con thứ hai. Trịnh Vịnh mất, ông lĩnh chức Khâm sai Tiết chế, phong tước Mưu quốc công, mở phủ gọi là Lý chính phủ, mất sớm.
    • Quan Thái phó Đề quận công Trịnh Lan là con út.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại Việt Sử ký Toàn thư
  • Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh niên, 2001
  • Từ điển Văn học - Nhiều tác giả, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội, 1984
  • Thời Nam Bắc triều - Việt Chương

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Trịnh gia chính phả, phần thứ ba, đời thứ chín
  2. ^ a ă â b c Toàn thư, bản kỉ tục biên 18.
  3. ^ a ă â b c d Cương mục, chính biên 32.
  4. ^ Nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh
  5. ^ a ă Toàn thư, bản kỉ tục biên 19.
  6. ^ Cương mục, chính biên 33.
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Cương mục, chính biên 34.
  8. ^ a ă â b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TGCP
  9. ^ Thuộc huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên, xứ Thanh Hoa (nay thuộc phủ Yên Khánh, tĩnh Ninh Bình).
  10. ^ a ă Cương mục, chính biên 35.
  11. ^ Vị Xuyên nay thuộc tỉnh Hà Giang, Bảo Lạc nay thuộc tỉnh Cao Bằng.
  12. ^ Một danh từ để gọi chung các quan vào hàng khoa mục, giữ quyền cao chức trọng trong triều.
  13. ^ Một thứ mũ của hoạn quan đội. Mũ này đằng trước có hình con ve trang sức bằng vàng. Văn ngôn, thường dùng danh từ này, để nói riên về bọn hoạn quan.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Trịnh Tạc
Định Nam Vương Kế nhiệm:
Trịnh Cương