Trực Ninh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huyện Trực Ninh
Huyện
280px
Địa lý
Diện tích 14.318,96
Dân số  
 Tổng cộng 193.178 (năm 2004)
Dân tộc Người Kinh
Hành chính
Huyện lỵ Cổ Lễ
Phân chia hành chính 18 xã, 3 thị trấn
Website Trang chủ

Trực Ninh là một huyện của tỉnh Nam Định. Phía đông giáp huyện Xuân Trường với sông Ninh Cơ là ranh giới tự nhiên; phía tây giáp các huyện Nam Trực, Nghĩa Hưng; phía nam giáp huyện Hải Hậu; phía bắc giáp tỉnh Thái Bình. Đây là địa phương có quốc lộ 21B, 37B đi qua.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trực Ninh là phần phía nam huyện Nam Chân xưa. Huyện Nam Chân là một trong 4 huyện thuộc phủ Thiên Trường (phủ này được đặt từ thời nhà Trần, thời thuộc Minh đổi thành phủ Phụng Hoá, thời nhà Lê lấy lại tên cũ Thiên Trường, đến năm 1682 thời Lê Trung hưng đổi thành Nam Chân. Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) chia huyện Nam Chân thành hai huyện Nam Chân và Chân Ninh. Thời vua Tự Đức đổi làm Xuân Trường. Thời Thành Thái đổi Chân Ninh thành Trực Ninh.

Khi mới thành lập (1833) huyện Chân Ninh gồm 6 tổng của huyện Nam Chân cũ (trước năm 1833) (Duyên Hựng Hạ, Kim Giả, Phương Để, Quần Lãng, Thần Khê, Trung Lao) và tổng Ninh Nhất mới hình thành, tương đương với huyện Trực Ninh và một phần phía tây huyện Hải Hậu ngày nay. Thời Tự Đức gồm 7 tổng, 62 xã, thôn, trang; cuối thế kỷ 19 còn 52 xã, thôn do cắt một số xã lập huyện Hải Hậu. Đầu thế kỷ 20 huyện Trực Ninh gồm 7 tổng với 52 xã, thôn.

Danh sách các tổng thuộc huyện Trực Ninh vào đầu thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 như sau: Duyên Hưng Hạ, Giả Thượng, Kim Giả, Ngọc Giả, Ninh Cường, Phương Để, Quần Lãng, Thần Khê.

Sau Cách mạng Tháng Tám, huyện Trực Ninh ra đời với hàng loạt các xã mới trên cơ sở sát nhập nhiều xã, làng cũ đồng thời đặt tên mới, gồm 27 xã: Trực Bình, Trực Cát, Trực Chính, Trực Cường, Trực Đại, Trực Đạo, Trực Định, Trực Đông, Trực Hải, Trực Hùng, Trực Hưng, Trực Khang, Trực Liêm, Trực Mỹ, Trực Nghĩa, Trực Nội, Trực Phú, Trực Phương, Trực Thái, Trực Thắng, Trực Thanh, Trực Thành, Trực Thuận, Trực Tiến, Trực Tĩnh, Trực Trung, Trực Tuấn.

Năm 1971, hợp nhất xã Trực Liêm và xã Trực Hải thành một xã lấy tên là xã Liêm Hải.

Ngày 18-12-1976, hợp nhất xã Trực Trung và xã Trực Đông thành một xã lấy tên là xã Trung Đông; hợp nhất xã Trực Đại và xã Trực Tiến thành một xã lấy tên là xã Trực Đại.

Ngày 23-2-1977, hợp nhất xã Trực Bình và xã Trực Tĩnh thành một xã lấy tên là xã Việt Hùng.

Ngày 27-3-1978, hợp nhất xã Trực Cát và xã Trực Thành thành một xã lấy tên là xã Cát Thành; hợp nhất xã Trực Phương và xã Trực Định thành một xã lấy tên là xã Phương Định; hợp nhất xã Trực Chính và xã Trực Nghĩa thành một xã lấy tên là xã Chính Nghĩa.

Ngày 10-1-1984, chia xã Chính Nghĩa thành 2 đơn vị hành chính lấy tên là xã Trực Chính và thị trấn Cổ Lễ (xã Trực Nghĩa cũ).

Địa giới hành chính và tên gọi các xã tiếp tục có sự điều chỉnh trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20. Gần đây nhất là Trực Ninh cùng với Nam Trực thành huyện Nam Ninh thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Đến ngày 01/4/1997 thì tách ra thành 2 huyện như cũ theo nghị định 19/CP, huyện Trực Ninh thuộc tỉnh Nam Định.

Ngày 31-3-2006, chuyển xã Cát Thành thành thị trấn Cát Thành.

Ngày 13-12-2017, chuyển xã Trực Phú thành thị trấn Ninh Cường

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Trực Ninh có diện tích tự nhiên là 14.318,96 ha, dân số 178.103 người, gồm 21 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 18 xã: Liêm Hải, Phương Định, Trực Chính, Trực Cường, Trực Đại, Trực Đạo, Trực Hùng, Trực Khang, Trực Nội, Trực Thái, Trực Thắng, Trực Hưng, Trực Mỹ, Trực Thanh, Trực Thuận, Trực Tuấn, Trung Đông, Việt Hùng và 3 thị trấn: Cát Thành, Cổ Lễ (huyện lỵ), Ninh Cường.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]