Tranh cãi về vắc xin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
James Gillray, The Cow-Pock—or—the Wonderful Effects of the New Inoculation! (1802)

Tranh cãi về vắc-xin đã xuất hiện từ gần 80 năm trước khi các quy định pháp luật về vắc-xin và tiêm chủng được giới thiệu. Bất chấp sự đồng thuận khoa học cao[1][2][3] rằng vắc-xin an toàn và hiệu quả,[4] những lo ngại không có căn cứ về tính an toàn vẫn diễn ra, dẫn đến sự bùng phát và tử vong các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin.[5][6][7][8][9][10] Một nguồn gốc khác của cuộc tranh cãi là liệu tiêm chủng bắt buộc có vi phạm quyền tự do dân sự hay làm giảm niềm tin của công chúng vào tiêm chủng.[10][11][12]

Tính hiệu quả của vắc-xin[sửa | sửa mã nguồn]

Rubella giảm mạnh khi tiêm chủng phổ quát được giới thiệu. CDC. 

Bằng chứng khoa học về tính hiệu quả của các chiến dịch tiêm chủng quy mô lớn được thiết lập vững chắc.[13] Các chiến dịch tiêm chủng đã thanh toán bệnh đậu mùa mà đã từng giết chết một phần bảy trẻ em ở châu Âu[14] và gần như đã loại bỏ được bệnh bại liệt. Một minh chứng khiêm tốn hơn, là các bệnh nhiễm trùng do Haemophilus influenzae, nguyên nhân chính gây viêm màng não do vi khuẩn và các bệnh nghiêm trọng khác ở trẻ em, đã giảm hơn 99% ở Mỹ kể từ khi vắc-xin được đưa vào năm 1988.[15] Người ta ước tính rằng tiêm chủng đầy đủ, từ lúc còn sơ sinh đến khi thiếu niên, tất cả trẻ em Hoa Kỳ sinh ra trong một năm nhất định nào đó sẽ có 33.000 người được cứu sống và ngăn ngừa được 14 triệu ca nhiễm trùng.[16]

Một số ý kiến phản bác lại cho rằng việc giảm các bệnh truyền nhiễm này là kết quả của việc cải thiện vệ sinh và điều kiện vệ sinh (chứ không phải tiêm chủng), hay những bệnh này đã bị suy giảm dần trước khi các loại vắc-xin cụ thể được giới thiệu. Những tuyên bố này không được hỗ trợ bởi dữ liệu khoa học; tỷ lệ mắc các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin có xu hướng dao động theo thời gian cho đến khi các loại vắc-xin cụ thể được đưa vào, thì tại thời điểm này, tỷ lệ này giảm xuống gần như bằng không. Trang web của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ đã đưa ra lập luận nhằm chống lại những nhận thức sai lầm phổ biến về vắc-xin rằng: ''Chúng tôi mong đợi sự tin tưởng cải thiện vệ sinh tốt hơn khiến tỷ lệ mắc từng bệnh giảm xuống, đúng vào thời điểm loại vắc-xin cho bệnh đó được giới thiệu?''[17]

Các nhà chỉ trích khác biện luận khả năng miễn dịch được cung cấp bởi vắc-xin chỉ là tạm thời và đòi hỏi cần phải có thuốc tăng cường, trong khi những người còn sống sau mắc bệnh đã được miễn dịch vĩnh viễn.[10] Các triết lý của một số người hành nghề y học thay thế (“giải pháp thay thế thuốc”) không cùng ý tưởng vắc-xin có hiệu quả.[18]

Tính an toàn của vắc-xin[sửa | sửa mã nguồn]

Không thể phủ nhận những cải tiến lớn trong tiêm chủng đã có đóng góp quan trọng cho sức khỏe cộng đồng; nhưng vẫn tồn tại một mối quan tâm phổ biến hơn là về tính an toàn.[19] Như với bất kỳ điều trị y tế nào, vẫn có nguy cơ tiềm tàng vắc-xin gây nên những biến chứng nghiêm trọng,[20] như phản ứng dị ứng nặng, nhưng không giống như hầu hết các can thiệp y tế khác, vắc-xin được cung cấp cho người khỏe mạnh và do đó, tiêu chuẩn về tính an toàn được kỳ vọng cao hơn.[21] Mặc dù những biến chứng nghiêm trọng do tiêm chủng có thể xảy ra, nhưng chúng cực kỳ hiếm gặp và ít phổ biến hơn rất nhiều so với các nguy cơ tương tự đến từ các bệnh tật mà vắc-xin ngăn ngừa.[17] Khi sự thành công của các chương trình tiêm chủng tăng lên và tỷ lệ mắc bệnh giảm đi, sự chú ý của công chúng chuyển hướng từ nguy cơ mắc bệnh sang nguy cơ tiêm chủng,[22] và điều này đang trở thành thách thức cho các cơ quan y tế trong việc duy trì sự ủng hộ của cộng đồng để tiến hành các chương trình tiêm chủng.[23]

Mối quan tâm về tính an toàn tiêm chủng thường đi theo một khuôn mẫu. Đầu tiên, một số nhà điều tra xét rằng sự gia tăng tỷ lệ hiện hành tình trạng y tế hoặc không rõ nguyên nhân là tác dụng bất lợi do tiêm chủng mang lại. Nghiên cứu ban đầu và những nghiên cứu theo sau của cùng một nhóm có phương pháp nghiên cứu không thỏa đáng - điển hình là nghiên cứu loạt ca bệnh không được kiểm soát hoặc kiểm soát kém. Loan báo trước cáo buộc vắc-xin về tác dụng bất lợi, cộng hưởng với những cá nhân mắc bệnh, cùng với việc đánh giá quá thấp nguy cơ tiềm tàng của việc từ bỏ tiêm phòng cho những đối tượng mà vắc-xin có thể bảo vệ. Trong khi đó những nhóm khác thì cố gắng phỏng lại nghiên cứu ban đầu nhưng thất bại để thu về kết quả tương tự. Cuối cùng, phải mất nhiều năm để lấy lại niềm tin của công chúng về vắc-xin.[22][24] Các tác dụng bất lợi được gán kết cho vắc-xin thường không rõ nguồn gốc, tỷ lệ mắc ngày càng tăng, một số tính hợp lý sinh học, xảy ra gần với thời điểm tiêm chủng và kết quả kinh hoàng.[25] Trong gần như tất cả các trường hợp, tác động sức khỏe cộng đồng bị giới hạn bởi ranh giới của nhiều nền văn hóa khác nhau: Người nói tiếng Anh lo ngại về một loại vắc-xin gây ra bệnh tự kỷ, trong khi người nói tiếng Pháp lo ngại về một loại vắc-xin khác gây ra bệnh đa xơ cứng, và người Nigeria lại lo ngại rằng vắc-xin thứ ba gây nên vô sinh.[26]

Tác động của việc giảm tiêm chủng[sửa | sửa mã nguồn]

Ở một số quốc gia, theo sau việc giảm tiêm phòng một số loại vắc-xin là sự tăng tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm và số ca tử vong. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ, tiếp tục bao phủ vắc-xin ở mức độ cao là điều cần thiết để ngăn chặn sự hồi sinh của các bệnh mà đã gần như được loại bỏ.[27] Ho gà vẫn là một vấn đề sức khỏe làm đau đầu tại các nước đang phát triển, nơi không thực hiện tiêm chủng đại trà; Tổ chức Y tế Thế giới ước tính ho gà đã gây ra 294.000 ca tử vong vào năm 2002.[28]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Communicating science-based messages on vaccines”. Bulletin of the World Health Organization 95 (10): 670–671. Ngày 1 tháng 10 năm 2017. ISSN 0042-9686. PMC 5689193. PMID 29147039. doi:10.2471/BLT.17.021017. 
  2. ^ “Why do some people oppose vaccination?”. Vox. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2018. 
  3. ^ Ceccarelli, Leah. “Defending science: How the art of rhetoric can help”. The Conversation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2018. 
  4. ^ Services, U.S. Department of Health and Human. “Vaccines.gov”. www.vaccines.gov (bằng tiếng en-us). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2018. 
  5. ^ “Frequently Asked Questions (FAQ)”. Boston Children's Hospital. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014. 
  6. ^ Phadke, Varun K.; Bednarczyk, Robert A.; Salmon, Daniel A.; Omer, Saad B. (ngày 15 tháng 3 năm 2016). “Association Between Vaccine Refusal and Vaccine-Preventable Diseases in the United States”. JAMA 315 (11): 1149–1158. PMC 5007135. PMID 26978210. doi:10.1001/jama.2016.1353. 
  7. ^ Poland GA, Jacobson RM (ngày 13 tháng 1 năm 2011). “The Age-Old Struggle against the Antivaccinationists”. N Engl J Med 364 (2): 97–99. PMID 21226573. doi:10.1056/NEJMp1010594. 
  8. ^ Wallace A (ngày 19 tháng 10 năm 2009). “An epidemic of fear: how panicked parents skipping shots endangers us all”. Wired. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2009. 
  9. ^ Poland G, Jacobson R (2001). “Understanding those who do not understand: a brief review of the anti-vaccine movement”. Vaccine 19 (17–19): 2440–2445. PMID 11257375. doi:10.1016/S0264-410X(00)00469-2. 
  10. ^ a ă â Wolfe R, Sharp L (2002). “Anti-vaccinationists past and present”. BMJ 325 (7361): 430–432. PMC 1123944. PMID 12193361. doi:10.1136/bmj.325.7361.430. 
  11. ^ Chang, Julie (ngày 12 tháng 7 năm 2017). 'Civil liberties' at center of vaccination debate in Texas”. myStatesman. Austin American-Statesman. 
  12. ^ Elliman, David; Bedford, Helen (ngày 23 tháng 3 năm 2014). “In Britain, Vaccinate With Persuasion, not Coercion”. The New York Times. 
  13. ^ Christenson, Brith; Lundbergh, Per; Hedlund, Jonas; Örtqvist, Åke (ngày 31 tháng 3 năm 2001). “Effects of a large-scale intervention with influenza and 23-valent pneumococcal vaccines in adults aged 65 years or older: a prospective study”. The Lancet (bằng tiếng Anh) 357 (9261): 1008–1011. PMID 11293594. doi:10.1016/S0140-6736(00)04237-9. 
  14. ^ Fenner F, Henderson DA, Arita I, Ježek Z, Ladnyi, ID (1988). Smallpox and its Eradication (PDF). Geneva: World Health Organization. ISBN 978-92-4-156110-5. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007. CS1 maint: Multiple names: authors list (link) Fenner F, Henderson DA, Arita I, Ježek Z, Ladnyi, ID (1988). Smallpox and its Eradication (PDF). Geneva: World Health Organization. ISBN 978-92-4-156110-5. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007. 
  15. ^ Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (2002). “Progress toward elimination of Haemophilus influenzae type b invasive disease among infants and children—United States, 1998–2000”. MMWR Morb Mortal Wkly Rep 51 (11): 234–7. PMID 11925021. 
  16. ^ Park A (ngày 21 tháng 5 năm 2008). “How safe are vaccines?”. Time. 
  17. ^ a ă “Some common misconceptions about vaccination and how to respond to them”. National Center for Immunization and Respiratory Diseases, Centers for Disease Control and Prevention. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2012. 
  18. ^ Ernst E (2001). “Rise in popularity of complementary and alternative medicine: reasons and consequences for vaccination”. Vaccine 20 (Suppl 1): S89–93. PMID 11587822. doi:10.1016/S0264-410X(01)00290-0. 
  19. ^ “Tackling negative perceptions towards vaccination”. Lancet Infect Dis 7 (4): 235. 2007. PMID 17376373. doi:10.1016/S1473-3099(07)70057-9. 
  20. ^ “Possible Side-effects from Vaccines”. Centers for Disease Control and Prevention. Ngày 26 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  21. ^ Chen, Robert T.; Hibbs, Beth (tháng 7 năm 1998). “Vaccine Safety: Current and Future Challenges”. Pediatric Annals 27 (7). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  22. ^ a ă Bonhoeffer J, Heininger U (2007). “Adverse events following immunization: perception and evidence” (PDF). Current Opinion in Infectious Diseases 20 (3): 237–246. PMID 17471032. doi:10.1097/QCO.0b013e32811ebfb0. 
  23. ^ Mooney C (tháng 6 năm 2009). “Why does the vaccine/autism controversy live on?”. Discover. 
  24. ^ Boseley, Sarah (ngày 2 tháng 2 năm 2010). “Lancet retracts 'utterly false' MMR paper”. The Guardian. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ Leask J, Chapman S, Cooper Robbins SC. 'All manner of ills': The features of serious diseases attributed to vaccination. Vaccine. 2009. doi:10.1016/j.vaccine.2009.10.042. PMID 19879997.
  26. ^ Goldacre, Ben (2009). Bad Science. London: Fourth Estate. tr. 292–294. ISBN 9780007284870. 
  27. ^ “What would happen if we stopped vaccinations?”. Centers for Disease Control and Prevention. Ngày 12 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  28. ^ Centers for Disease Control and Prevention (2007). “Pertussis” (PDF). Trong Atkinson W, Hamborsky J, McIntyre L và đồng nghiệp. Epidemiology and Prevention of Vaccine-Preventable Diseases. Washington, DC: Public Health Foundation. ISBN 978-0-01-706605-3. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]