Trao đổi chéo nhiễm sắc thể

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hình 1: Bắt chéo xảy ra ở kì đầu I. Hai nhiễm sắc tử chị em tiếp hợp nhau, rồi trao đổi đoạn NST tương đồng với nhau. Từ đó có thể tạo ra hoán vị gen, dẫn đến tạo thành thể dị hợp (Ab và aB).
Hình 2: Mô tả của Thomas Hunt Morgan về trao đổi chéo (1916)
Hình 3: Trao đổi chéo kép.

Trao đổi chéo nhiễm sắc thể (thường được gọi ngắn gọn là trao đổi chéo) là việc trao đổi các vật chất di truyền giữa hai nhiễm sắc tử chị em nhiễm sắc thể tương đồng mà kết quả dẫn đến những nhiễm sắc thể tái tổ hợp trong quá trình sinh sản hữu tính. Nó là một trong những giai đoạn cuối cùng của tái tổ hợp di truyền, diễn ra trong giai đoạn pchytene của kì đầu Igiảm phân qua một quá trình gọi là tiếp hợp. Quá trình tiếp hợp này thường dẫn đến trao đổi chéo. Đó là hiện tượng khi các vùng tương ứng nhau trên các nhiễm sắc thể đang tiếp hợp bị đứt, rồi tái kết nối với nhiễm sắc thể tương đồng còn lại, dẫn đến gen hoán vị. Hiện tượng này gây ra tái tổ hợp tương đồng, có thể tạo thành dị hợp tử từ cơ thể vốn là đồng hợp tử (hình 1).[1]

Trao đổi chéo được miêu tả trên lý thuyết bởi Thomas Hunt Morgan. Ông dựa vào khám phá của Frans Alfons Janssens, người đã mô tả hiện tượng năm 1909 và gọi nó là "chiasmatypie". Thuật ngữ chiasma (tức là bắt chéo) được liên kết, nếu như không phải trùng khớp, với hiện tượng trao đổi chéo nhiễm sắc thể. Morgan ngay lập tức nhìn thấy tầm quan trọng to lớn của sự diễn giải về mặt tế bào học về hiện tượng bắt chéo của Janssens đối với những kết quả thực nghiệm của nghiên cứu của ông về di truyền trên Drosophila (hình 2). Nền tảng vật lý của trao đổi chéo lần đầu được mô tả bởi Harriet Creighton và Barbara McClintock vào năm 1931.[2] Tiếp hợp có thể dẫn đến trao đổi chéo kép (hình 3).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Crossing Over”. 
  2. ^ Creighton H, McClintock B (1931). “A Correlation of Cytological and Genetical Crossing-Over in Zea Mays”. Proc Natl Acad Sci USA 17 (8): 492–7. PMC 1076098. PMID 16587654. doi:10.1073/pnas.17.8.492.