Triết học Phục Hưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Việc gọi tên Triết học phục hưng được sử dụng bởi các học giả để mô tả các tư tưởng của giai đoạn ở châu Âu khoảng giữa năm 1355 và 1650 (ngày nay dịch chuyển về trước cho trung Âu và phía bắc châu Âu và ở các đất nước như như Tây Ban Nha, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, và Trung Quốc dưới ảnh hưởng của Châu Âu). Do đó, nó giống với triết học thời trung cổ, mà trong thế kỷ mười bốn và mười lăm bị ảnh hưởng bởi những nhân vật đáng chú ý như Albertô Cả, Tôma Aquinô, William xứ Ockham, và Marsilio thành Padova, và triết học hiện đại, thường bắt đầu với René Descartes và cuốn sách của ông Discourse on Method trong 1637. Các nhà triết học thường chia thời gian ít hơn, nhảy từ thời trung cổ đến triết học tiền hiện đại, trên giả định rằng không có sự thay đổi căn bản trong quan điểm đã diễn ra trong nhiều thế kỷ ngay trước Descartes. Tuy nhiên, các nhà sử học trí thức xem xét các yếu tố cân nhắc như nguồn, phương pháp tiếp cận, đối tượng, ngôn ngữ và thể loại văn học ngoài ý tưởng. Bài viết này xem xét cả những thay đổi trong bối cảnh và nội dung của triết học thời Phục Hưng và sự liên tục đáng chú ý của nó với quá khứ.

Tính liên tục[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc, nguồn, phương pháp và chủ đề triết học trong thời kỳ Phục hưng có nhiều điểm chung với những thế kỷ trước.

Công trình triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc biệt là kể từ khi tim được những kiến thức từ những cuốn sách của Aristotle trong thế kỷ thứ 12 và 13, nó trở nên rõ ràng rằng, ngoài các cuốn sách của Aristotle về logic, đã được biết đến, đã có rất nhiều người ca ngợi Micae tâm huyết với triết học tự nhiên, triết học đạo đức và siêu hình học. Các cuốn sách này cung cấp các cấu trúc cho chương trình giảng dạy triết học của các trường đại học đang nổi lên. Giả định chung là hầu hết các chi nhánh 'khoa học' của triết học là những người đã được dạy nhiều hơn về lý thuyết và do đó số lượng Học giả nhiều hơn. Trí thức mạnh quá, nhiều nhà tư tưởng đã thấy như là những lĩnh vực triết học chính, với logic cung cấp cảm hứng cho những tác phẩm của mình.

Tài liệu triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Một sự liên tục tương tự có thể được nhìn thấy trong các tài liệu. Mặc dù Aristotle luôn nghi ngờ[1] (ông thường không thảo luận, và ý kiến ​​của ông thường được thảo luận cùng với những người khác, hoặc việc giảng dạy Thánh Kinh), các bài giảng thời trung cổ về vật lý bao gồm đọc Vật lícủa Aristotle, các bài học về triết học đạo đức bao gồm các kỳ thi về Đạo Đức Họccủa ông (và thường là cuốn Chính trị luận của ông), và siêu hình học đã được tiếp cận thông qua cuốn Siêu hình học của ông. Giả thiết rằng các tác phẩm của Aristotle là nền tảng cho sự hiểu biết về triết học đã không suy yếu trong thời kỳ Phục hưng, đã chứng kiến ​​sự dịch các bản dịch mới, bình luận và các giải thích khác về tác phẩm của ông, cả tiếng Latinh và tiếng bản địa.[2]

Về mặt phương pháp, triết học được xem xét trong thời kỳ cuối thời Trung cổ như là một chủ đề đòi hỏi yêu cầu mạnh mẽ về một phần của những người được đào tạo về từ vựng học thuật của chủ đề. Các văn bản triết học và các vấn đề thường được tiếp cận thông qua các bài giảng đại học và 'các câu hỏi'. Sau này, tương tự như trong một số cách để tranh luận trong thời hiện đại, kiểm tra ưu và khuyết điểm của các tư tưởng triết học hoặc giải thích cụ thể. Chúng là một trong những nền tảng của‘phương pháp học thuật’, làm cho những sinh viên đề xuất hoặc trả lời các câu hỏi nhanh chóng trên suy nghĩ của họ, và yêu cầu một sự quen thuộc sâu sắc với tất cả các truyền thống triết học đã biết, thường được gọi để hỗ trợ hoặc chống lại lập luận. Phong cách triết học này tiếp tục có một sự tiếp nối mạnh mẽ trong thời kỳ Phục hưng. Cuốn Các tranh chấp của Pico della Mirandola, ví dụ, phụ thuộc trực tiếp vào truyền thống này, mà không phải ở tất cả giới hạn trong các giảng đường đại học.

Chủ đề trong triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Dựa trên chủ nghĩa Aristole, có thể thảo luận tất cả các loại vấn đề trong triết học thời Trung cổ và Phục hưng. Aristotle đã đối xử trực tiếp với các vấn đề như quỹ đạo tên lửa, thói quen của động vật, cách thức nhận thức, tự do di chúc, cách kết nối niềm vui với hạnh phúc, mối quan hệ của lịch và thế giới. Tất cả những điều này tiếp tục là mối quan tâm đáng kể đối với các nhà tư tưởng thời Phục hưng, nhưng chúng ta sẽ thấy rằng trong một số trường hợp, các giải pháp được đưa ra khác biệt đáng kể vì thay đổi cảnh quan văn hóa và tôn giáo.[3]

Gián đoạn[sửa | sửa mã nguồn]

Đã thiết lập rằng nhiều khía cạnh của triết học đã được tổ chức chung trong thời Trung cổ và thời Phục hưng, bây giờ sẽ hữu ích để thảo luận về những thay đổi trong thời kỳ đang diễn ra. Các giả thuyết tương tự như trên sẽ được sử dụng, để cho thấy rằng trong các xu hướng liên tục, người ta cũng có thể tìm thấy những sự khác biệt đáng ngạc nhiên.

Tài liệu triết học[sửa | sửa mã nguồn]

Do đó, rất hữu ích để xem xét lại những gì đã được đề cập ở trên về các nguồn tài liệu triết học. Thời Phục hưng đã nhìn thấy một sự mở rộng đáng kể của nguồn tài liệu. Plato, được biết đến trực tiếp chỉ qua hai cuộc đối thoại trung kỳ Trung Cổ, được biết đến qua nhiều bản dịch tiếng Latin trong thế kỷ mười lăm nước Ý, thời kỳ đỉnh cao, bản dịch cực kỳ có ảnh hưởng của tác phẩm hoàn chỉnh của Marsilio Ficino ở Florence năm 1484.[4] Francesco Petrarca không thể đọc trực tiếp các tác phẩm của Plato, nhưng ông ấy rất ngưỡng mộ Plato. Francesco Petrarca cũng là một người hâm mộ cuồng nhiệt của các nhà thơ La Mã như Virgil và Horace và Cicero thuộc thể loại văn xuôi Latin. Không phải tất cả các nhà nhân văn đều theo gương của ông ấy trong mọi thứ, nhưng Francesco Petrarca đã đóng góp vào việc mở rộng các bài thơ 'kinh điển' của ông (thơ ca ngoại giáo trước đây được coi là phù phiếm và nguy hiểm), điều gì đó cũng đã xảy ra trong triết học. Vào thế kỷ thứ mười sáu, bất cứ ai cũng đều coi mình là 'au fait' và đều gắng đọc các sách Plato cũng như Aristotle, cố gắng hiểu càng nhiều càng tốt (và không phải lúc nào cũng thành công) để trung hòa cả hai với nhau và với Kitô giáo. Đây có lẽ là lý do chính khiến Donato Acciaiuoli bình luận về đạo đức của Aristotle (lần đầu xuất bản năm 1478) và đã rất thành công: nó pha trộn ba truyền thống đẹp đẽ là Plato, Aristole và Kito giáo. Các phong trào khác từ triết học cổ đại cũng tái nhập vào dòng chính. Điều này không bao giờ thực sự là trường hợp của học phái Y Bỉ Cưu Lỗ, mà hầu như luôn được biếm họa và luôn bị nghi ngờ, nhưng Chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa Da lãng đã trở lại trong các ngòi bút của các nhà văn như Michel Montaigne, và phong trào Khắc Kỷ đã xuất hiện lại ấn tượng trong các tác phẩm của Justus Lipsius.[5]' Trong tất cả những trường hợp này, không thể tách rời các học thuyết triết học ngoại giáo khỏi lịch sử Kitô giáo mà qua đó chúng được tiếp cận và thực hiện hợp pháp.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Luca Bianchi, ‘“Aristotele fu un uomo e poté errare”: sulle origini medievali della critica al “principio di autorità”’, in idem, Studi sull’aristotelismo del Rinascimento (Padua: Il Poligrafo, 2003), pp. 101–24.
  2. ^ Charles B. Schmitt, Aristotle and the Renaissance (Cambridge, MA: Harvard University Press, 1988).
  3. ^ Helpful if weighty guides to philosophical topics in the period are The Cambridge History of Later Medieval Philosophy, ed. by Norman Kretzman et al., and The Cambridge History of Renaissance Philosophy, ed. by Charles B. Schmitt et al.
  4. ^ James Hankins, Plato in the Italian Renaissance, 2 vols (Leiden: Brill, 1990, 1991).
  5. ^ On the melding of various traditions in moral philosophy see especially Jill Kraye, 'Moral Philosophy', in The Cambridge History of Renaissance Philosophy'

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Copenhaver, Brian P., & Schmitt, Charles B., Renaissance Philosophy, New York: Oxford University Press, 1992.
  • Hankins, James, (ed.), The Cambridge Companion to Renaissance Philosophy, Cambridge: Cambridge University Press, 2007.
  • Riedl, John O., A Catalogue of Renaissance Philosophers (1350-1650), Milwaukee: Marquette University Press, 1940.
  • Schmitt, Charles B., Skinner, Quentin (eds.), The Cambridge History of Renaissance Philosophy, Cambridge: Cambridge University Press, 1988.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Quyền lực