Tri Tôn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Tri Tôn

Huyện
Phong cảnh Tri Tôn.jpg
Thị trấn Tri Tôn nhìn từ núi Cô Tô
Hành chính
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhAn Giang
Huyện lỵthị trấn Tri Tôn
Trụ sở UBND152 Trần Hưng Đạo, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn
Phân chia hành chính2 thị trấn, 13 xã
Thành lập23/8/1979: tái lập từ huyện Bảy Núi
Địa lý
Tọa độ: 10°25′0″B 105°0′0″Đ / 10,41667°B 105°Đ / 10.41667; 105.00000Tọa độ: 10°25′0″B 105°0′0″Đ / 10,41667°B 105°Đ / 10.41667; 105.00000
Diện tích602,05 km2
Dân số (2018)
Tổng cộng142.000 người [1]
Mật độ236 người/km2
Dân tộcKinh, Khmer, Chăm
Khác
Biển số xe67-N1

Tri Tôn là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh An Giang, Việt Nam, có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớt nhất tỉnh, cách tỉnh lỵ - thành phố Long Xuyên 52 km về phía tây, cách thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang 83 km về phía đông, cách thành phố Châu Đốc 44 km về phía tây nam và cách Lâm Viên - Núi Cấm 7 km. Huyện lỵ là thị trấn Tri Tôn.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Tri Tôn là một huyện dân tộc, miền núi, tôn giáo, biên giới nằm ở phía tây tỉnh An Giang và có đường biên giới với Campuchia về phía tây bắc (tại các xã Vĩnh Gia, Lạc Quới) với chiều dài 15 km và có cửa khẩu phụ Vĩnh Gia tại xã Vĩnh Gia. Vị trí địa lý của huyện Tri Tôn:

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Một cánh đồng lúa chín ở xã Núi Tô

Huyện Tri Tôn có diện tích tự nhiên là 60.023,80 ha và dân số năm 2015 là người [1], chủ yếu gồm 3 dân tộc: Kinh, Khmer, Chăm.

Huyện có các di tích lịch sử như đồi Tức Dụp, nhà mồ Ba Chúc..., có các núi Cô Tô, núi Dài, núi Tượng, núi Nước thuộc hệ thống Bảy Núi (Thất Sơn). Ngoài ra còn có núi Nam Qui, núi Tà Pạ (còn gọi là đồi Tà Pạ).

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Tri Tôn có 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 2 thị trấn: Tri Tôn (huyện lị), Ba Chúc và 13 xã: An Tức, Châu Lăng, Cô Tô, Lạc Quới, Lê Trì, Lương An Trà, Lương Phi, Núi Tô, Ô Lâm, Tà Đảnh, Tân Tuyến, Vĩnh Gia, Vĩnh Phước.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thiếu nhi huyện Tri Tôn
  • Lễ hội đua bò: được luân phiên tổ chức hàng năm giữa hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên ngay vào thời điểm tết Đôn Ta của người Khmer tức khoảng tháng 8-9 âm lịch và đua tranh trong một ngày. Đây là một lễ hội mang đặc thù tính nông nghiệp diễn ra trên đồng ruộng sau khi đã gặt hái một mùa lúa bội thu. Hàng năm kéo trên 20 ngàn người đến xem và cổ vũ.
  • Tết Chol Chnam Thmay: đây là lễ tết vào năm mới của người Khmer (lễ chịu tuổi). Lễ nhằm vào đầu tháng chét theo Phật lịch phái nguyên thủy Therevada - tức Phật giáo được tiếp thu nguyên thủy từ Phật thích ca xưa tu hành và đạt đạo (Phật giáo của người Kinh đa số theo phái Mahayana, vốn đã được cải biên và ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc). Đây là thời gian mùa màng đã gặt xong, rảnh rang tha hồ vui chơi giải trí. Người Khmer đón năm mới với ý nghĩa cũng như bao dân tộc khác.
  • Lễ cúng trăng - Ok Om Bok: lễ cúng Trăng là 1 tục lễ độc đáo của đồng bào Khmer Krom (tên gọi của người dân Campuchia gọi đồng bào Khmer ở vùng đất Chân Lạp xưa bị nhà Nguyễn xăm chiếm). Trong quan niệm của người Khmer thì Mặt Trăng là vị thần bảo vệ mùa màng, bảo vệ tôm cá và giúp con người sống hạnh phúc ấm no. Lễ cúng Trăng thường được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 (Âm lịch) để tạ ơn thần Mặt Trăng vào đêm rằm, trước khi trăng sáng, mọi người sửa soạn các mâm cỗ ở sân nhà hoặc sân chùa. Cỗ cúng Trăng gồm có cốm, chuối chín, dừa tươi gọt vỏ, sắn....Người ta làm lễ cúng Trăng khi Trăng đã toản sáng. Cùng với lễ cúng người ta thả những chiếc đèn giấy lên trời và thả những chiếc bè chuối có bày lễ vật trôi theo kênh rạch. Trong ngày cúng trăng người Khmer tổ chức nhiều trò vui.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2019, mạng lưới giao thông của huyện Tri Tôn về căn bản đã được nâng cấp khá tốt.

1. Đoạn QL N2, đi từ chân cầu Cây Me (thị trấn Tri Tôn), dọc theo kênh Tám Ngàn thông với QL 80 tại cầu Tám Ngàn (huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) với tổng chiều dài 31 km;

2. Đoạn QL N1 đi qua huyện Tri Tôn (dọc theo kênh Vĩnh Tế), dài 15 km;

3. Đoạn ĐT 941 đi qua huyện Tri Tôn từ cầu số 10 (xã Tà Đảnh) đến trung tâm thị trấn Tri Tôn với chiều dài 12,7 km, là trục đường chính và là tuyến đường ngắn nhất đi từ thành phố Long Xuyên về huyện Tri Tôn (toàn tuyến ĐT 941 dài 39 km)

4. Đoạn ĐT 943 đi qua huyện Tri Tôn từ xã Tân Tuyến đến xã Cô Tô, kết thúc tại điểm giao với ĐT 948 có chiều dài 12,5 km (toàn tuyến ĐT 943 dài 56,5 km)

5. Đoạn ĐT 948 đi qua huyện Tri Tôn từ xã Cô Tô đến xã Châu Lăng dài khoảng 12 km, là tuyến đường đến KDL Núi Cấm, thị trấn Chi Lăng, thị trấn Nhà Bàng (huyện Tịnh Biên), được xem là trục đường xuyên vùng Thất Sơn (toàn tuyến ĐT 948 dài 31,1 km).

6. Tuyến ĐT 955B nối thị trấn Tri Tôn và thị trấn Ba Chúc (nối tuyến QL N1 và TL 948), chiều dài 24 km.

7. Tuyến ĐT 15 vòng quanh sườn tây núi Cô Tô và núi Tô, chiều dài 16 km, kéo dài từ Bưu điện huyện Tri Tôn (thị trấn Tri Tôn) đến trước trường THPT Cô Tô (xã Cô Tô). Đây là tuyến đường đi qua đồi Tức Dịp (km +9)

Ngoài ra cò nhiều tuyến liên xã, liên huyện và liên tỉnh đang được nâng cấp

Di tích - Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

1. Chùa Svay-ton (Xvayton): Địa danh Tri Tôn được xuất phát từ ngôi chùa Khmer này. Theo lời kể dân gian ngày xưa nơi đây ít người sinh sống, trên những ngọn cây cao có rất nhiều khỉ thường xuống đất níu kéo người. Nên khi xây chùa người dân đã đặt cho ngôi chùa tên là Xvayton (Xvay: Khỉ; Ton: đeo, níu kéo) sau này nói chạy là Xà Tón và nay là Tri Tôn. Ngôi chùa đã có lịch sử trên 200 năm, nằm ngay trung tâm của thị trấn Tri Tôn, trong chùa còn lưu giữ được bộ kinh Slấc-rích (kinh viết trên lá thốt nốt khô) rất có giá trị về văn hóa lịch sử của người Khmer.

2. Đồi Tức Dụp: Là một ngọn núi nhỏ của núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn) thuộc xã An Tức. Tức Dụp có độ cao 216 m, diện tích trên 2 km² cấu trúc khá độc đáo rất nhiều hang sâu, động lớn và chằn chịt. Là khu căn cứ địa cách mạng, người Mỹ đã bỏ ra 2 triệu đô la để đổi lấy thất bại với ngọn đồi này. Hiện nay xung quanh khu vực dưới chân đồi đã xây dựng thành khu du lịch và giải trí khá rộng lớn. Các hang động được thiết kế đường đi kiên cố dễ dàng tham quan chiến trường xưa. Đặc biệt có khu giải trí bắn súng thật. (Tức Dụp đúng ra là Tức Chôp: Nước chảy như có phép màu)

3. Nhà mồ Ba Chúc: Cách thị trấn Tri Tôn khoảng 17 km về phía tây nam, Khu chứng tích được xây dựng nhằm tưởng nhớ 3157 người dân Ba Chúc bị Pol Pot (Khmer Đỏ) thảm sát, giết hại một cách tàn nhẫn dã man trong 11 ngày đêm vào năm 1978. Nhà mồ còn đang lưu giữ 1159 bộ xương cốt trong tủ kính. Xung quanh nhà mồ có Chùa Tam Bửu (tổ đình của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa) và Chùa Phi Lai (nơi vẫn còn để lại những vết máu trong cuộc thảm sát của Pol Pot)

4. Hồ Soài So: Nằm ngay dưới chân núi Cô Tô cách trung tâm huyện chưa đầy 2 km (lúc trước còn gọi là Suối Vàng) đây cũng là đường đi chính lên núi. Một nơi khá mát mẻ, yên tĩnh được thiên nhiên ban tặng. Do hồ nằm cạnh núi nên có thể leo núi thưởng ngoạn phong cảnh hoang sơ đắm mình với những con suối chảy trong xanh mát lạnh. Men theo chuyền núi là những ngôi chùa, ngôi miếu có thể nghỉ ngơi để chinh phục độ cao mới. Ở khu vực giữa núi có một nơi người dân gọi là Sân Tiên (bàn chân Tiên) theo tương truyền ngày xưa có một vị tiên đã in dấu gót giày xuống đây (dấu gót giày khoảng 5-6 gan tay). Xung quanh khu vực sân Tiên còn có bàn cờ và hầm chén.

5. Hồ Tà Pạ: Khoảng 8 năm trở lại đây thì có 1 hồ nước xuất hiện ngay tại núi Chưn Num (Tà Pạ) rất trong xanh và mát lành đó chính là Hồ Tà Pạ. Nó là dấu vết còn xót lại của khu vực khai thác đất đá đã bị cấm của một vài công ty khai thác trước đây. Chẳng phải mất bao lâu khi đi lên "hồ trên núi" từ chợ Tri Tôn bạn đi hết đường Nguyễn Trãi khoảng 1 km, đến cổng Chùa Chưn Num của người Khmer, bạn lên núi khoảng 200m đó là ngã ba có bức tượng chỉ đường, nếu đi theo các bức tượng chỉ đường bạn sẽ lên Chùa Chưn Num, lên đây bạn được ngắm toàn bộ thị trấn Tri Tôn ở độ cao khoảng 50m tại tháp phật Thích Ca vừa mới xây xong theo kiến trúc của người Khmer rất đẹp. Còn nếu bạn đi thẳng theo chỉ đường của bức tượng thứ nhất bạn sẽ đến ngã ba, bên phải là trạm phát thanh truyền hình, bên trái chính là đường đi đến Hồ Tà Pạ. Một cánh đồng to lớn và một Núi Tô hùng vĩ trước mắt bạn, phong cảnh nên thơ hữu tình và một bên là hồ Tà Pạ trong xanh, hãy đem theo máy ảnh chụp cho mình những bức ảnh kỉ niệm gần gũi với thiên nhiên lưu lại những dấu ấn của miền núi Tri Tôn trong chuyến hành trình. 6. Ô TÀ SÓC – NÚI DÀI XÃ LƯƠNG PHI: Ô Tà Sóc, theo tên gọi của người dân tộc Khmer. Tức là suối Ông Sóc, nằm trên triền cao của núi Dài (Ngọa Long Sơn), nay thuộc ấp Ô Tà Sóc xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ô Tà Sóc là căn cứ vững chắc của cách mạng, nơi Tỉnh ủy An Giang trú đóng từ năm 1962 đến năm 1967, sau đó Tỉnh ủy Châu Hà cũng có thời gian đóng nơi đây. Sau đây là những nét khái quát tiêu biểu về lịch sử hình thành và phát triển của căn cứ Ô Tà Sóc.

Từ cuối năm 1959, các cơ quan của Tỉnh ủy ở Thường Phước (Hồng Ngự) dời về Núi Tô (Tri Tôn) để trực tiếp chỉ đạo phong trào đồng khởi ở An Giang. Năm 1960 căn cứ Tỉnh ủy dời qua Tức Dụp, cuối năm 1961 dời xuống đồng tràm Hà Tiên, mùa khô năm 1962 dời về Núi Dài lớn (tại Giếng Nồi phía trên Ô Cạn). Cuối năm 1962 căn cứ Tỉnh uỷ chính thức chuyển về Ô Tà Sóc (xã Lương Phi, huyện Tri Tôn). Tại đây một tuyến phòng thủ mạnh được xây dựng bằng những hàng rào bãi chông, trái nổ cùng lòng can đảm của cán bộ, chiến sĩ dựa vào địa hình hiểm trở của núi rừng để bám trụ chiến đấu. Tỉnh ủy đã chọn địa điểm làm văn phòng rất kiên cố và ổn định ở một hang sâu rộng rãi với tên gọi dân gian là Điện trời gầm. Rãi rác quanh văn phòng là các ban ngành chức năng giúp việc cho Tỉnh ủy như Ban Tuyên huấn, Ban tổ chức, Ban Thông tin - cơ yếu, Ban binh vận, Ban An ninh, đội Hỏa tốc,… và các cơ quan khác ở Núi Dài bên phía Lê Trì, Ba Chúc như Tỉnh đội, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh, ban giao lưu. Để bảo vệ an toàn căn cứ, Ban An ninh tổ chức ba chốt bảo vệ: một chốt ở chân Núi Dài, một chốt tại văn phòng Tỉnh ủy và một điểm cao phía trên văn phòng Tỉnh ủy để quan sát rộng và đảm bảo an toàn khu vực. Bên cạnh các cơ quan Tỉnh ủy, suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ Ô Tà Sóc còn là căn cứ của nhiều đơn vị của huyện Tri Tôn, Tịnh Biên. Đặc biệt từ năm 1969 nơi đây cò là địa điểm dừng chân và hợp đồng chiến đấu của các Trung đoàn chủ lực từ niềm Đông chi viện vào các tỉnh niềm Tây Nam Bộ. Từ năm 1968 đến năm 1971 Ô Tà Sóc là căn cứ của phân ban Tỉnh ủy An Giang do đồng chí Vũ Hồng Đức (Mười Đức) Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cánh mạng tỉnh An Giang phụ trách. Cũng có lúc Tỉnh ủy Châu Hà và Long Châu Hà (1972-1975) cũng lấy Ô Tà Sóc – Núi Dài làm căn cứ. Từ Ô Tà Sóc, thường trực Tỉnh ủy chỉ đạo các đơn vị địa phương trong toàn tỉnh tích cực tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch; phát động quần chúng nổi dậy diệt ác ôn, phá ấp chiến lược, khu gom dân; đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở các thị xã, thị trấn đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ; chống Mỹ Ngụy càn quét, bắn giết dân lành … Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy các đia phương trong tỉnh đều lên kế hoạch xây dựng xã – ấp chiến đấu, kết hợp phong trào chính trị của quần chúng đồng loạt nổi dậy chống Ngụy quyền, phá ấp chiến lược, ấp tân sinh. Lực lượng vũ trang triển khai lực lượng tổ chức nhiều trận chống càn, dồn dập đánh đồn diệt địch, góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến tranh cục bộ của Mỹ ngụy.

7.Hồ Soài Chés: Một hồ nước thuỷ lợi, mới hoàn thành xong năm 2016. Với dung tích chứa 293.000m3, hồ Soài Check ở ấp Tô Thuận, xã Núi Tô, huyện Tri Tôn, An Giang vừa đảm bảo cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho nhân dân trong vùng, vừa phục vụ sản xuất và bảo vệ rừng phòng hộ trong lưu vực 2,26 km². Đi vào hồ bằng con đường mới dưới chân đồi Tà Pạ. - Vừa ra cổng chùa Tà Pạ, chạy xuống núi có ngã tư Tà Pạ, bạn quẹo phải chạy khoảng 500m sẽ thấy một con đường nhựa bên phía tay phải dưới chân đồi Tà Pạ. - Chạy hết con đường nhựa này sẽ đến Hồ Soài Chek. Đường rộng rãi dễ đi, một bên là sườn đồi Tà Pạ, một bên là đồng lúa dưới chân núi Cô Tô. Tại hồ bạn thoả thích chụp ảnh và ngắm hoàng hôn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1839, vùng đất huyện Tri Tôn ngày nay thuộc huyện Hà Dương, phủ Tĩnh Biên, tỉnh Hà Tiên.

Năm 1842, phủ Tĩnh Biên chuyển sang thuộc tỉnh An Giang.

Năm 1850, vùng đất này thuộc huyện Hà Dương, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang.

Năm 1876, địa bàn huyện Tri Tôn thuộc hạt Châu Đốc. Đến năm 1889 trở thành quận Tri Tôn thuộc tỉnh Châu Đốc.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, quận Tri Tôn thuộc tỉnh Châu Đốc.

Năm 1948 Tri Tôn thuộc tỉnh Long Châu Hậu. Đến năm 1950 thuộc tỉnh Long Châu Hà.

Tháng 7/1951, huyện Tri Tôn sáp nhập vào huyện Tịnh Biên. Đến tháng 10/1954 lại tách thành hai huyện như cũ, Tri Tôn thuộc về tỉnh Châu Đốc.

Năm 1957, quận Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang, gồm 3 tổng với 15 xã là: Tri Tôn, An Tức, Nam Quy, Cô Tô, Ô Lâm (tổng Thành Lễ); Tà Đảnh, Thuyết Nạp, Trác Quan, Tú Tề, Văn Giáo, Vĩnh Trung, Yên Cư (tổng Thành Ý); Châu Lăng, Lê Trì, Lương Phi (tổng Thành Ngãi).

Năm 1964, quận Tri Tôn thuộc tỉnh Châu Đốc, có 12 xã là: An Cư, An Hảo, An Lạc, An Tức, Cô Tô, Lê Trì, Lương Phi, Ô Lâm, Tri Tôn, Tú Tề, Văn Giáo, Vĩnh Trung.

Năm 1971 thuộc tỉnh Châu Hà và năm 1974, huyện Tri Tôn thuộc tỉnh Long Châu Hà.

Sau năm 1975, huyện Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang.

Ngày 11 tháng 03 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 56-CP[2] về việc hợp nhất huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên thành một huyện lấy tên là huyện Bảy Núi.

Ngày 25 tháng 04 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 181-CP[3] điều chỉnh địa giới và đổi tên một số xã và thị trấn thuộc huyện Bảy Núi thuộc tỉnh An Giang, theo đó:

  1. Tách các ấp Hòa An, Bình An của xã Tà Đảnh, một phần đất của xã Tú Tề lập thành một xã mới lấy tên là xã Tân Lập.
  2. Tách ấp Huệ Đức của xã Cô Tô lập thành một xã mới lấy tên là xã Tân Tuyến.
  3. Tách các ấp Voi 1, Voi 2 của xã Tú Tề lập thành một thị trấn lấy tên là thị trấn Chi Lăng.
  4. Tách các ấp Cây Me, Xoài Tòng A, Xoài Tông B, Cơray Ven và một phần các ấp kinh Ô Bà Lẫy của xã Tri Tôn lập thành một thị trấn lấy tên là thị trấn Bảy Núi.
  5. Tri Tôn đổi tên thành xã Núi Tô.
  6. Ô Lâm đổi tên thành xã An Phước
  7. An Tức đổi tên thành xã An Ninh
  8. Châu Lăng đổi tên thành xã An Lạc.
  9. Lê Trì đổi tên thành xã An Lập
  10. Tà Đảnh đổi tên thành xã Tân Cương
  11. Lương Phi đổi tên thành xã An Thành
  12. Trác Quan đổi tên thành xã An Hảo
  13. Văn Giáo đổi tên thành xã Thới Thuận
  14. Xã Tú Tề đổi tên thành xã Tân Lợi

Ngày 23 tháng 08 năm 1979, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 300-CP[4] chia huyện Bảy Núi thành hai huyện lấy tên là huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên:

  1. Huyện Tri Tôn gồm có các xã An Lạc, An Lập, An Ninh, An Phước, An Thành, Ba Chúc, Cô Tô, Lạc Quới, Núi Tô, Tân Cương, Tân Tuyến, Vĩnh Gia và thị trấn Tri Tôn (đổi tên từ thị trấn Bảy Núi).
  2. Ranh giới giữa hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên quy định như sau: Bắt đầu từ cột mốc số 115 (biên giới với Cam-pu-chia) thẳng hướng đông nam đến trụ đá số 1 trên lộ Lê Trì - Tịnh Biên (cách ngã ba Sóc Tức 150 mét) rồi quẹo xuống phía nam song song với lộ Tịnh Biên – Tri Tôn theo đường mòn về phía đông ven chân núi Nam Quy vòng lên phía bắc đi thẳng đến ngã tư Kinh Tri Tôn - Mạc Cần Dưng (cầu sắt số 13) theo giữa lòng kinh đến giáp ranh huyện Châu Thành (cầu sắt số 10).

Địa bàn các huyện Tịnh Biên và Tri Tôn sau khi được tái lập khác hẳn với trước năm 1977.

Ngày 7 tháng 10 năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định 60/1995/NĐ-CP thành lập xã Lương An Trà từ ấp Cây Gòn của xã Lương Phi, một phần của xã An Tức, xã Ô Lâm. Xã Lương An Trà có diện tích 8.903 ha, dân số 5.579 người.

Ngày 17 tháng 10 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định 119/2003/NĐ-CP[5] thành lập thị trấn Ba Chúc trên cơ sở 2.056 ha diện tích tự nhiên và 13.122 người của xã Ba Chúc. Đổi tên xã Ba Chúc thành xã Vĩnh Phước.

Sau giải phóng, chiến tranh biên giới Tây Nam do chế độ độc tài diệt chủng Pol Pot Campuchia gây ra đã làm Tri Tôn tổn thất to lớn về người và của mà di tích nhà mồ Ba Chúc là một minh chứng.

Hiện nay, huyện đang phát triển các vùng chuyên canh hoa màu, chế biến nông sản, khai thác đá và các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên khác. Đời sống tinh thần của đồng bào rất phong phú với các hoạt động văn hoá lễ hội như: Chol Chnam Thmay, Piat bôdia, Chol casa, Dolta.....Với những tiềm năng đó, Tri tôn có nhiều cơ hội phát triển đi lên bền vững.

Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Cháo bò nặn trái trúc (một thứ trái giống như trái chanh nhưng vỏ xù xì, được trồng ở miền núi này), bò xào lá vang, bánh bò được làm từ trái thốt nốt, khô bò, gà hấp lá trúc, canh sam-lo,...là những món ăn ngon của người dân Khmer bản địa lâu đời.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]