Trinh Hiển Vương hậu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trinh Hiển vương hậu
貞顯王后
Vương hậu Triều Tiên
Vương hậu nhà Triều Tiên
Tại vị 1480 - 1494
Tiền nhiệm Phế phi họ Doãn
Kế nhiệm Đoan Kính vương hậu
Thông tin chung
Phu quân Triều Tiên Thành Tông
Thân phụ Linh Nguyện phủ viện quân Doãn Hào
Thân mẫu Diên An phủ phu nhân Điền thị
Sinh 25 tháng 6, 1462
huyện Tân Xương, Pha Bình
Mất 22 tháng 8, 1530
Cảnh Phúc cung, đông điện chánh tẩm
An táng Tuyên Lăng (宣陵)

Trinh Hiển Vương hậu (chữ Hán: 貞顯王后; Hangul: 정현왕후, 25 tháng 6, 146222 tháng 8, 1530), hay Từ Thuận Đại phi (慈順大妃), là Vương hậu thứ 3 của Triều Tiên Thành Tông và là mẹ ruột của vua Triều Tiên Trung Tông.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trinh Hiển vương hậu khuê danh là Doãn Xương Niên (尹昌年; 평정공), sinh ngày 25 tháng 6, năm Triều Tiên Thế Tổ thứ 8 (1462), tại huyện Tân Xương, Pha Bình. Cha bà là Linh Nguyện phủ viện quân Doãn Hào (尹壕; 1424 - 1496), khi đó đang là "Tòng lục phẩm Tân Xương huyện giám"; mẹ bà là Diên An phủ phu nhân Điền thị (延安府夫人田氏; 1421 - 1500), người ở Diên An.

Theo thân thế, Trinh Hiển vương hậu thuộc gia tộc Pha Bình Doãn thị (坡平尹氏), có mối quan hệ với Trinh Hi vương hậu của Thế Tổ đại vương. Trinh Hi vương hậu tổ phụ là Doãn Thừa Lễ (尹承禮) và Trinh Hiển vương hậu tổ phụ Doãn Thừa Thuận (尹承順) là anh em ruột với nhau; đều là con của Linh Bình quân Doãn Trắc (尹陟).

Năm 1473, bà được sắc phong làm Thục nghi (淑儀). Năm 1480, ngày 8 tháng 11, sau khi Kế phi Doãn thị bị phế, bà được sắc phong làm Vương phi nhờ tính tình hiền dịu, hòa thuận. Vì tính cách này, bà được Trinh Hi vương hậuChiêu Huệ vương hậu yêu quý.

Năm 1488, tháng 3, bà hạ sinh Lý Dịch (李懌), người sau này trở thành Triều Tiên Trung Tông. Khi đó, Lý Dịch mang tước hiệu Tấn Thành đại quân (晉城大君). Khi đó, Thành Tông còn yêu quý Vương thế tử Lý Long là con của Phế phi Doãn thị, nên Lý Dịch không thể sách lập làm Vương thế tử. Bà còn sinh thêm 3 vị công chúa: Thục Thuận công chúa (順淑公主); Thận Thục công chúa (慎淑公主) và 1 con gái không rõ phong hiệu.

Từ Thuận Đại phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1494, Thành Tông thăng hà, Thế tử Lý Long kế vị, tức Yên Sơn Quân. Nhà vua tôn Vương phi Doãn thị lên làm Vương đại phi (王大妃), dâng tôn hiệu là "Từ Thuận" (慈順), không lâu sau thêm 2 chữ "Hòa Huệ" (和惠).

Nhà vua mới đầu là người anh minh hòa nhã, nhưng sau đó vì chuyện của mẹ mình là Phế phi Doãn thị mà hành xử lỗ mãng, giết hại 2 hậu cung của Thành Tông là Quý nhân Trịnh thịQuý nhân Nghiêm thị. Theo "Yên Sơn Quan kí lục" (燕山君日記), nhà vua sau khi giết chết Trịnh Nghiêm lưỡng vị Quý nhân, có ý giết luôn Từ Thuận đại phi. Nhưng do Vương phi Thận thị cản lại mà không có việc khinh sợ xảy ra.

Năm 1506, Từ Thuận đại phi triệu tập các đại thần, chủ trì phế truất hôn quân Lý Long, phế thành Yên Sơn quân (燕山君). Con trai Đại phi là Tấn Thành đại quân lên kế vị, tức Trung Tông đại vương, sự kiện này gọi là Trung Tông phản chính (中宗反正).

Năm 1530, ngày 22 tháng 8, Từ Thuận đại phi Doãn thị qua đời ở đông chính điện thuộc Cảnh Phúc cung, hưởng thọ 69 tuổi. Thụy hiệu Trinh Hiển vương hậu (貞顯王后), được an táng cùng Thành Tông đại vương ở Tuyên Lăng (宣陵).

Thụy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • 慈順和惠昭懿欽淑貞顯王后
  • Từ Thuận Hòa Huệ Chiêu Ý Khâm Thục Trinh Hiển Vương hậu.
  • Seosun Hwahye Soui Geumsuk Jeonghyeon Wanghu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]