Trung Quốc tại Thế vận hội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trung Quốc tại
Thế vận hội
Flag of the People's Republic of China.svg
Mã IOC CHN
NOC Ủy ban Olympic Trung Quốc
Trang web www.olympic.cn (tiếng Trung) (tiếng Anh)
Huy chương
Vàng Bạc Đồng Tổng số
236 186 172 594
Tham dự mùa hè
Tham dự mùa đông
Tham dự các đại hội khác
 Trung Hoa Dân Quốc (1924–1972)

Ban đầu tham gia với tư cách Trung Hoa Dân Quốc (viết tắt: THDQ) từ 1932 tới 1948, Trung Quốc lần đầu tiên thi đấu tại Thế vận hội dưới tên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (viết tắt: CHND Trung Hoa) vào năm 1952, ở Helsinki, Phần Lan, dù đoàn chỉ đến kịp lúc để thi đấu duy nhất một nội dung.[1][2] Trước đó, Ủy ban Olympic Quốc tế đã cho phép cả CHND Trung Hoa và THDQ (khi đó vừa mới rút ra đảo Đài Loan sau Nội chiến Trung Quốc) được cùng góp mặt, dù THDQ không tham gia (như một cách để phản đối quyết định này).[1] Do những bất đồng xung quanh địa vị chính trị của Trung Quốc, CHND Trung Hoa đã không tiếp tục tham gia Olympic cho đến Thế vận hội Mùa đông 1980.[1] Họ tham gia trở lại Thế vận hội Mùa hè vào năm 1984.[3][4]

Ủy ban Olympic Trung Quốc hiện nay được công nhận năm 1979.[1] Trước Nội chiến Trung Quốc, các vận động viên (VĐV) nước này thi đấu dưới cờ THDQ tại Thế vận hội. THDQ tiếp tục tham gia từ 1952 đến 1976 (Mùa đông), nhưng đoàn chỉ gồm những VĐV của đảo Đài Loan (tuy vậy, hầu hết các thành viên tuyển bóng đá THDQ tham dự Thế vận hội 1960 là người Hồng Kông). Tranh cãi về cách gọi Trung Quốc đã khiến CHND Trung Hoa tẩy chay đại hội trong suốt thời gian này. Năm 1979, Ủy ban Olympic Quốc tế thông qua một nghị quyết chỉ định tên mới cho đoàn THDQ là Trung Hoa Đài Bắc, và điều này đã mở lối cho CHND Trung Hoa tham gia Thế vận hội.[1]

Hồng Kông vốn đã có Ủy ban Olympic quốc gia riêng từ năm 1950 và đã tham dự Thế vận hội từ 1952.[5] Sau khi lãnh thổ này được trao trả về CHND Trung Hoa và Đặc khu hành chính Hồng Kông được thiết lập năm 1997, ủy ban này vẫn được duy trì. Hồng Kông tiếp tục thi đấu độc lập tại Olympic với tên Hồng Kông, Trung Quốc.[5]

Các kỳ Thế vận hội Trung Quốc đã tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

CHND Trung Hoa đã có một lần tổ chức Thế vận hội, và sẽ làm chủ nhà Olympic 2022. Bắc Kinh sẽ là thành phố đầu tiên từng đăng cai cả Thế vận hội Mùa hè và Thế vận hội Mùa đông.

Thế vận hội Thành phố đăng cai Thời gian Số nước tham dự Số VĐV Số nội dung thi đấu
Thế vận hội Mùa hè 2008 Bắc Kinh 8 – 24 tháng 8 204 10,942 302
Thế vận hội Mùa đông 2022 Bắc Kinh 4 – 20 tháng 2

Bảng huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

*Thế vận hội do Trung Quốc tổ chức nằm trong ô viền đỏ

Huy chương tại các kỳ Thế vận hội Mùa hè[sửa | sửa mã nguồn]

Thế vận hội Số VĐV Vàng Bạc Đồng Tổng số Xếp thứ
1896–1928 không tham dự
1932–1948 với tư cách  Trung Hoa Dân Quốc (ROC)
Phần Lan Helsinki 1952 1 0 0 0 0
1956–1980 không tham dự
Hoa Kỳ Los Angeles 1984 216 15 8 9 32 4
Hàn Quốc Seoul 1988 273 5 11 12 28 11
Tây Ban Nha Barcelona 1992 244 16 22 16 54 4
Hoa Kỳ Atlanta 1996 294 16 22 12 50 4
Úc Sydney 2000 271 28 16 14 58 3
Hy Lạp Athens 2004 384 32 17 14 63 2
Trung Quốc Bắc Kinh 2008 639 48 21 29 98 1
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Luân Đôn 2012 396 38 29 21 88 2
Brasil Rio de Janeiro 2016 412 26 18 26 70 3
Nhật Bản Tokyo 2020 chưa diễn ra
Tổng số 224 164 153 541 4

Huy chương tại các kỳ Thế vận hội Mùa đông[sửa | sửa mã nguồn]

Thế vận hội Số VĐV Vàng Bạc Đồng Tổng số Xếp thứ
1924–1976 không tham dự
Hoa Kỳ Lake Placid 1980 24 0 0 0 0
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Sarajevo 1984 37 0 0 0 0
Canada Calgary 1988 13 0 0 0 0
Pháp Albertville 1992 32 0 3 0 3 15
Na Uy Lillehammer 1994 24 0 1 2 3 19
Nhật Bản Nagano 1998 57 0 6 2 8 16
Hoa Kỳ Thành phố Salt Lake 2002 66 2 2 4 8 13
Ý Torino 2006 76 2 4 5 11 14
Canada Vancouver 2010 94 5 2 4 11 7
Nga Sochi 2014 66 3 4 2 9 12
Hàn Quốc Pyeongchang 2018 chưa diễn ra
Trung Quốc Bắc Kinh 2022 chưa diễn ra
Tổng số 12 22 19 53 16
Số lượng huy chương Trung Quốc giành được tại Thế vận hội Mùa hè năm 1952 và từ 1984 tới 2012.
Số lượng huy chương Trung Quốc giành được tại Thế vận hội Mùa đông từ 1980 tới 2012.

Huy chương theo môn (Thế vận hội Mùa hè)[sửa | sửa mã nguồn]

Các VĐV Trung Quốc đã giành được huy chương ở hầu hết các môn thể thao Thế vận hội Mùa hè.
Ngoại trừ ba môn phối hợp, cưỡi ngựa, bóng bầu dụcbóng nước.

   Dẫn đầu
Môn thi đấu Vàng Bạc Đồng Tổng cộng Xếp thứ
Nhảy cầu 40 19 10 69 2
Cử tạ 31 15 8 54 2
Thể dục dụng cụ [6] 29 21 23 73 4
Bóng bàn 28 17 8 53 1
Bắn súng 22 15 19 56 2
Cầu lông 18 8 15 41 1
Bơi lội 13 19 11 43 8
Điền kinh 8 7 12 27 24
Judo 8 3 11 22 4
Taekwondo 7 1 2 10 2
Đấu kiếm 4 7 3 14 10
Quyền Anh 3 3 6 12 21
Bóng chuyền 3 1 2 6 5
Đấu vật 2 3 6 11 28
Thuyền buồm 2 3 1 6 18
Canoeing 2 0 0 2 29
Bắn cung 1 6 2 9 4
Chèo thuyền 1 4 4 9 24
Xe đạp 1 3 3 7 25
Quần vợt 1 0 1 2 13
Bơi nghệ thuật 0 3 2 5 5
Bóng rổ 0 1 1 2 11
Bóng chuyền bãi biển 0 1 1 2 5
Khúc côn cầu trên cỏ 0 1 0 1 10+
Bóng đá 0 1 0 1 28
Năm môn phối hợp hiện đại 0 1 0 1 10+
Bóng mềm 0 1 0 1 4
Golf 0 0 1 1 7
Bóng ném 0 0 1 1 20+
Tổng số 224 164 153 541

Huy chương theo môn (Thế vận hội Mùa đông)[sửa | sửa mã nguồn]

Các VĐV Trung Quốc mới chỉ giành được huy chương ở 5 trên tổng số 15 môn thể thao Thế vận hội Mùa đông.
Đa số huy chương vàng và một nửa số huy chương thuộc môn trượt băng tốc độ cự ly ngắn.

Môn thi đấu Vàng Bạc Đồng Tổng cộng Xếp thứ
Trượt băng tốc độ cự ly ngắn 9 13 8 30 2
Trượt tuyết tự do 1 4 3 8 6
Trượt băng tốc độ 1 3 3 7 18
Trượt băng nghệ thuật 1 2 4 7 13
Bi đá trên băng 0 0 1 1 8
Tổng số 12 22 19 53

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lần tham dự sớm nhất và khoảng thời gian gián đoạn[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự thành lập nước CHND Trung Hoa vào năm 1949, một đoàn thể thao của nước Trung Quốc mới đã được gửi tới Olympic lần đầu tiên tại Thế vận hội Mùa hè 1952 tổ chức ở Helsinki, Phần Lan; trong đó có tuyển bóng đá nam, tuyển bóng rổ nam và 1 VĐV bơi lội; tổng cộng là 38 nam và 2 nữ (bao gồm cả VĐV và các quan chức).[7] Chỉ VĐV môn bơi đến kịp và tham gia thi đấu chính thức, trong khi đội tuyển bóng đá nam đá giao hữu 2 trận.[2] Đoàn Trung Quốc đã ở lại Helsinki 10 ngày và dự lễ bế mạc. THDQ đã rút khỏi đại hội vào ngày 17 tháng 7 nhằm phản đối quyết định của IOC cho phép các VĐV của cả CHND Trung Hoa và THDQ cùng tranh tài tại Olympic.[8] Vụ việc này đánh dấu cuộc đối đầu giữa "hai nhà nước Trung Quốc" ở Olympic, dẫn đến kết quả là Ủy ban Olympic Trung Quốc rút khỏi IOC vào tháng 8 năm 1958.

Tới những năm 1970, Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ thông qua cuộc Ngoại giao bóng bàn, và hai nước thiết lập quan hệ chính thức vào ngày 1 tháng 1 năm 1979. Ủy ban Olympic Trung Quốc tái gia nhập IOC vào ngày 25 tháng 10 năm 1979.[7] Ba tháng sau, Trung Quốc tham dự Thế vận hội Mùa đông 1980Lake Placid, Hoa Kỳ sau 28 năm vắng bóng kể từ lần xuất hiện đầu tiên (1952) tại đấu trường thể thao lớn nhất hành tinh. Trung Quốc tẩy chay Thế vận hội Mùa hè 1980 tổ chức ở Moscow, Liên Xô. Từ Thế vận hội Mùa đông 1984 tới nay, Trung Quốc liên tục tham gia các kỳ Thế vận hội Mùa hè và Mùa đông.

Thế vận hội Mùa hè[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến 2012, Trung Quốc đã giành được 3/4 tổng số huy chương vàng (152/201) và 2/3 tổng số huy chương (311/473) của 6 môn: bóng bàn, cầu lông, nhảy cầu, thể dục dụng cụ, cử tạbắn súng.

Trung Quốc gần đây đã áp đảo về số huy chương vàng thuộc 3 môn kể trên, là bóng bàn, cầu lông và nhảy cầu. Trung Quốc bốn lần đoạt toàn bộ huy chương vàng môn bóng bàn, và một lần đối với môn cầu lông cũng như 3/4 số huy chương vàng môn nhảy cầu tính từ năm 1992.

Tuy nhiên, ưu thế vượt trội tại môn bóng bàn và cầu lông này cũng dẫn tới những hệ lụy. Do tỉ lệ tham gia thấp của các quốc gia không thuộc châu Á, hai môn này có khả năng bị loại khỏi Thế vận hội Mùa hè, giống như trường hợp của bóng chàybóng mềm.

Song, các VĐV Trung Quốc cũng đã đạt những bước tiến vượt bậc ở những môn thể thao vốn bị xem là còn yếu của nước này. Trong đó, bơi lội là môn có tiềm năng lọt vào top 5 môn có thành tích cao nhất của Trung Quốc thời gian tới.

1984[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 15 huy chương vàng và xếp ở vị trí thứ 4 tại Thế vận hội Mùa hè 1984Los Angeles. Thành tích có được này một phần do việc Liên Xô và các nước Khối Đông Âu tẩy chay, không dự Thế vận hội này.

Hứa Hải Phong mang về tấm huy chương vàng Olympic đầu tiên cho Trung Quốc với nội dung 50 mét súng ngắn. Sự kiện này đã đem lại niềm hân hoan lớn cho dân tộc Trung Hoa.

Lý Ninh giành 6 huy chương môn thể dục dụng cụ, 3 vàng, 2 bạc và 1 đồng; được người Trung Quốc đặt biệt hiệu "Hoàng tử thể dục dụng cụ". 6 tấm huy chương tại một kỳ Thế vận hội tới nay vẫn là kỷ lục của các VĐV Trung Quốc.

Đội tuyển bóng chuyền nữ Trung Quốc đánh bại tuyển nữ Hoa Kỳ trong trận chung kết và giành tấm huy chương vàng.

1988[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 5 huy chương vàng và đứng thứ 11 tại Thế vận hội Mùa hè 1988Seoul, Hàn Quốc. Sự sụt giảm thành tích so với kỳ vận hội trước này là bởi Liên Xô và các nước Khối Đông Âu đã quay trở lại sân chơi Olympic.

Lý Mai Tố giành tấm huy chương đầu tiên của Trung Quốc ở môn điền kinh.

Trung Quốc cũng lần đầu tiên giành huy chương môn chèo thuyền: 1 bạc nội dung chèo thuyền bốn người (nữ) và 1 đồng nội dung chèo thuyền tám người (nữ).

1992[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 16 huy chương vàng và xếp thứ 4 tại Thế vận hội Mùa hè 1992Barcelona, Tây Ban Nha.

Trần Dược Linh giành tấm huy chương vàng điền kinh đầu tiên cho Trung Quốc ở nội dung đi bộ 10 kilômét (nữ).

Các VĐV bơi lội nữ Trung Quốc đã tỏa sáng với 4 vàng và 5 bạc. Nhưng 2 năm sau đó, thành công này bị lu mờ vì vụ sử dụng doping của các VĐV bơi Trung Quốc tại ASIAD 1994, dù sự cố này không liên quan tới những người trước đó giành huy chương Olympic Mùa hè 1992.

Đặng Á Bình giành 2 huy chương vàng bóng bàn ở các nội dung đơn và đôi nữ. Chủ tịch IOC Juan Antonio Samaranch đã trao huy chương vàng cho cô sau lời hứa cách đó 1 năm tại Giải vô địch bóng bàn thế giới 1991.

Trang Hiểu Nham giành huy chương vàng judo đầu tiên cho Trung Quốc ở hạng cân +72 kg (nữ).

Trương Tiểu Đông giành huy chương bạc - tấm huy chương thuyền buồm đầu tiên của Trung Quốc.

Đội tuyển bóng rổ nữ Trung Quốc thua đội tuyển Thống nhất và có tấm huy chương bạc, cũng là thành tích tốt nhất của Trung Quốc ở môn bóng rổ.

1996[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 16 huy chương vàng và tiếp tục đứng thứ 4 tại Thế vận hội Mùa hè 1996Atlanta, Hoa Kỳ.

Phục Minh Hà giành 2 huy chương vàng môn nhảy cầu nội dung 3 mét cầu mềm (nữ) và 10 mét cầu cứng (nữ), trở thành VĐV nhảy cầu nữ đầu tiên lập được kỳ tích này kể từ năm 1960.

Đặng Á Bình một lần nữa giành 2 huy chương vàng bóng bàn, là VĐV Trung Quốc đầu tiên bảo vệ thành công 2 chức vô địch với 4 tấm huy chương vàng Olympic. Chủ tịch IOC Juan Antonio Samaranch lại trao huy chương vàng cho cô sau một lời hứa khác nữa cách đó 4 năm, tại Olympic 1992.

Lưu Quốc Lương cũng mang về 2 huy chương vàng bóng bàn ở các nội dung của nam. Trung Quốc lần đầu giành tất cả huy chương vàng môn bóng bàn.

Vương Quân Hà giành vàng nội dung 5000 mét (nữ) và giành bạc nội dung 10000 mét (nữ).

Đội tuyển bóng đá nữ Trung Quốc thua tuyển Hoa Kỳ trong trận chung kết, lấy huy chương bạc - huy chương đầu tiên của Trung Quốc ở môn bóng đá.

2000[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 28 huy chương vàng và xếp thứ 3 tại Thế vận hội Mùa hè 2000Sydney, Úc.

Vương Nam giành 2 vàng môn bóng bàn. Trung Quốc tiếp tục có được toàn bộ huy chương vàng thuộc môn này.

Trần Trung mang về tấm huy chương vàng taekwondo đầu tiên cho Trung Quốc tại hạng cân +67 kg (nữ).

Khương Thúy Hoa giành huy chương đồng đua xe đạp tính giờ (nữ), đây là tấm huy chương đầu tiên của Trung Quốc ở môn xe đạp.

Các tuyển bóng chuyền, bóng đá Trung Quốc đều không lọt vào bán kết.

2004[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 32 huy chương vàng và xếp thứ 2 tại Thế vận hội Mùa hè 2004Athens, Hy Lạp.

Lưu Tường trở thành vận động viên nam đầu tiên của Trung Quốc giành huy chương tại một nội dung chạy của Olympic, 110 mét vượt rào, thành tích bằng với kỉ lục thế giới lúc đó là 12.91 giây. Anh trở thành vận động viên cầm cờ cho đoàn Trung Quốc tại lễ bế mạc. Lưu Tường lại phá kỉ lục thế giới vào 2 năm sau ở Lausanne, Thụy Sĩ với thời gian 12.88 giây.

Vương Nghĩa Phu đã tham gia Olympic sáu lần liên tiếp tính tới kỳ vận hội này. Vận động viên này giành vàng nội dung 10 mét súng ngắn hơi; đây là huy chương vàng thứ hai và là tấm huy chương thứ tư của anh tại nội dung này.

Mạnh Quan LươngDương Văn Quân mang về tấm huy chương vàng canoeing đầu tiên cho Trung Quốc ở nội dung C-2 500m (nam).

Lý ĐìnhTôn Điềm Điềm mang về tấm huy chương vàng quần vợt đầu tiên cho Trung Quốc ở nội dung đôi nữ.

Vương Húc mang về tấm huy chương vàng đấu vật đầu tiên cho Trung Quốc ở nội dung vật tự do hạng cân 72kg (nữ).

Đội tuyển bóng chuyền nữ Trung Quốc từ thế bị dẫn 0-2 đã lội ngược dòng và đánh bại tuyển nữ của Nga với tỉ số 3-2 ở trận chung kết, qua đó giành tấm huy chương vàng bóng chuyền lần hai sau 20 năm.

2008[sửa | sửa mã nguồn]

Là nước chủ nhà, Trung Quốc đoạt 48 huy chương vàng, 21 huy chương bạc và 29 huy chương đồng, tất cả là 98 huy chương, xếp thứ nhất tại Thế vận hội Mùa hè 2008Bắc Kinh.

Quách Tinh Tinh giành 2 huy chương vàng nhảy cầu, trở thành vận động viên nhảy cầu nữ Trung Quốc đầu tiên bảo vệ thành công ngôi đầu ở hai nội dung cô đã tham gia.

Trương Di Ninh giành 2 huy chương vàng bóng bàn, là vận động viên bóng bàn thứ hai của Trung Quốc bảo vệ thành công vị trí quán quân ở hai nội dung đã tham dự, sau Đặng Á Bình.

Mã Lâm cũng mang về 2 huy chương vàng bóng bàn nội dung nam. Đoàn Trung Quốc lần thứ 3 có được toàn bộ 4 vàng của môn bóng bàn tại Olympic.

Trọng Mãn đoạt tấm huy chương vàng đầu tiên của Trung Quốc môn đấu kiếm nam với nội dung kiếm chém, 24 năm sau khi Loan Cúc Kiệt mang về tấm huy chương vàng đấu kiếm nữ đầu tiên (1984).

Trương Quyên Quyên giành huy chương vàng đầu tiên cho Trung Quốc môn bắn cung nội dung đơn nữ, chấm dứt vị thế số một của Hàn Quốc trong một thời gian khá dài trước đó ở môn này.

Trâu Thị MinhTrương Tiểu Bình mang về các tấm huy chương vàng đầu tiên của Trung Quốc môn quyền Anh, nội dung dành cho nam.

Ân Kiếm giành huy chương vàng đầu tiên cho Trung Quốc môn thuyền buồm, nội dung ván lướt có buồm (nữ).

Trung Quốc có được huy chương vàng chèo thuyền đầu tiên nội dung bốn mái chèo đôi (nữ).

Các vận động viên thể dục dụng cụ Trung Quốc giành được 11 vàng, đây là thành tích tốt nhất trong lịch sử. Trâu Khải mang về 3 tấm huy chương vàng (1 nội dung đồng đội, 2 nội dung cá nhân).

Ngôi sao hàng đầu của Trung Quốc, Lưu Tường, rút khỏi vòng thi đấu đầu tiên nội dung 110m vượt rào với lý do chấn thương.

2012[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 38 huy chương vàng và xếp thứ 2 tại Thế vận hội Mùa hè 2012 ở Luân Đôn, Anh.

Tôn Dương, lúc đó đang nắm giữ kỷ lục thế giới nội dung bơi tự do 1500 mét (nam), trở thành VĐV bơi lội Trung Quốc đầu tiên giành vàng tại đấu trường Thế vận hội. Anh mang về các tấm huy chương vàng bơi tự do 400 mét (nam) và bơi tự do 1500 mét (nam), lần lượt phá kỷ lục Olympic và kỷ lục thế giới do chính anh thiết lập trước đó.

Diệp Thi Văn trở thành VĐV bơi lội nữ Trung Quốc đầu tiên chinh phục 2 tấm huy chương vàng trong một kỳ Olympic. Chị về nhất các nội dung 200 mét hỗn hợp (nữ) và 400 mét hỗn hợp (nữ), lần lượt phá kỳ lục Olympic và kỷ lục thế giới.

Trần Định giành vàng đi bộ 20 kilômét (nam), là VĐV nam Trung Quốc thứ hai đạt vàng môn điền kinh, sau Lưu Tường (2004).

Trần Nhược Lâm giành 2 vàng nhảy cầu, trở thành VĐV nhảy cầu Trung Quốc thứ hai bảo vệ thành công 2 nội dung Olympic, sau Quách Tinh Tinh.

Ngô Mẫn Hà đoạt vàng 3 mét cầu mềm nghệ thuật (nữ), trở thành VĐV Trung Quốc duy nhất từng giành 3 huy chương vàng trong một nội dung thi đấu. Ngoài ra, chị cũng mang về tấm huy chương vàng 3 mét cầu mềm (nữ); đây là tấm huy chương thứ ba sau 3 lần Ngô Mẫn Hà tham gia nội dung này ở Thế vận hội, các lần trước chị đã có bạc (2004) và đồng (2008).

Trâu Khải mang về 2 tấm huy chương vàng thể dục dụng cụ, là VĐV Trung Quốc duy nhất có 5 tấm huy chương vàng Olympic.

Từ Lị Giai giành vàng thuyền laser radial (nữ), đây là tấm huy chương vàng đầu tiên của Trung Quốc ở nội dung thuộc môn thuyền buồm này. Từ Lị Giai sau đó là VĐV cầm cờ cho đoàn Trung Quốc tại lễ bế mạc.

Lâm Đan giành huy chương vàng đơn nam cầu lông, đồng thời trở thành VĐV đầu tiên bảo vệ thành công danh hiệu vô địch này trong lịch sử thi đấu môn cầu lông của Olympic.

Triệu Vân Lôi giành 2 vàng cầu lông các nội dung đánh đôi, trở thành VĐV duy nhất giành 2 tấm huy chương vàng môn cầu lông trong một kỳ Thế vận hội.

Tào Trung Vinh mang về huy chương bạc năm môn phối hợp hiện đại nội dung của nam, lần đầu tiên Trung Quốc có huy chương ở môn này.

Đội tuyển bóng bàn Trung Quốc lần thứ 4 giành toàn bộ 4 vàng. Tuyển cầu lông Trung Quốc lần đầu giành 5 vàng, nhưng niềm vui lại không được trọn vẹn bởi 2 VĐV tham gia đánh đôi nữ đã bị truất quyền thi đấu do cố tình chơi không đúng phong độ.

Ngôi sao Trung Quốc Lưu Tường tiếp tục rút khỏi vòng đầu nội dung 110 mét vượt rào do chấn thương. Hai trên tổng số ba lần rút thi đấu trong 12 năm sự nghiệp của VĐV này đều vì sức nóng áp lực vòng thứ nhất của đấu trường Olympic.

Các tuyển bóng đá, bóng chuyền đều không vào bán kết.

2016[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đoạt 26 huy chương vàng và xếp thứ 3 tại Thế vận hội Mùa hè 2016Rio de Janeiro, Brasil.

Tôn Dương giành vàng 200 mét bơi tự do (nam), trở thành VĐV bơi lội nam Trung Quốc duy nhất có vàng tại 2 kỳ Olympic.

Cung Kim KiệtChung Thiên Sử mang về huy chương vàng đua xe đạp đầu tiên cho Trung Quốc nội dung đua nước rút đồng đội (nữ).

Phùng San San giành huy chương vàng môn golf đầu tiên cho Trung Quốc.

Đội tuyển bóng chuyền nữ Trung Quốc đã chinh phục được tấm huy chương vàng thứ ba sau 12 năm.

Thế vận hội Mùa đông[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc đã có huy chương ở 5 trong tổng số 15 môn thi đấu của Thế vận hội Mùa đông. Hầu hết huy chương vàng và một nửa số huy chương thuộc về trượt băng tốc độ cự ly ngắn.

1980-1988[sửa | sửa mã nguồn]

Không giành được huy chương nào.

1992-1998[sửa | sửa mã nguồn]

Diệp Kiều Ba mang về tấm huy chương Thế vận hội Mùa đông đầu tiên cho Trung Quốc môn trượt băng tốc độ.

2002[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Dương (A) giành huy chương vàng Thế vận hội Mùa đông đầu tiên cho Trung Quốc môn trượt băng tốc độ cự ly ngắn.

2006[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Hiểu Bằng là VĐV nam đầu tiên giành vàng môn trượt tuyết tự do.

2010[sửa | sửa mã nguồn]

Vương Mông tỏa sáng với 3 vàng môn trượt băng tốc độ cự ly ngắn. Thân TuyếtTriệu Hoành Bác cuối cùng đã đạt vàng trượt băng nghệ thuật nội dung đôi sau 4 lần tham gia.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Hồng mang về cho Trung Quốc huy chương vàng đầu tiên môn trượt băng tốc độ.

Các VĐV giành huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Thế vận hội Mùa hè[sửa | sửa mã nguồn]

Do các VĐV Trung Quốc có xu hướng thi đấu hơn một nội dung ở các môn nhảy cầu, thể dục dụng cụ, bóng bàn, bơi lội, và tranh tài môn bắn súng tại hơn một kỳ Thế vận hội, hầu như các VĐV đoạt nhiều huy chương nhất được liệt kê trong ba bảng sau đều thuộc 5 môn này.

Trong 6 môn thể thao khác có khả năng có VĐV nằm trong top giành nhiều huy chương, các môn đấu kiếmxe đạp có thể sẽ tạo ra bước đột phá; trong khi đó điền kinh, canoeing, chèo thuyềnđua ngựa lại ít hy vọng hơn.

Các VĐV đoạt nhiều huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là danh sách những VĐV Trung Quốc đã chinh phục thành công ít nhất 3 huy chương vàng hoặc 5 huy chương tại các kỳ Thế vận hội Mùa hè. Các VĐV có tên in đậm hiện nay vẫn còn thi đấu.

Tên Môn thi đấu Các kỳ năm Số kỳ dự Giới tính Vàng Bạc Đồng Tổng số
5 huy chương vàng hoặc nhiều hơn
Ngô Mẫn Hà Nhảy cầu 2004–2016 4 Nữ 5 1 1 7
Trâu Khải Thể dục dụng cụ 2008–2012 2 Nam 5 0 1 6
Trần Nhược Lâm Nhảy cầu 2008–2016 3 Nữ 5 0 0 5
4 huy chương vàng
Quách Tinh Tinh Nhảy cầu 1996–2008 4 Nữ 4 2 0 6
Phục Minh Hà Nhảy cầu 1992–2000 3 Nữ 4 1 0 5
Vương Nam Bóng bàn 2000–2008 3 Nữ 4 1 0 5
Lý Tiểu Bằng Thể dục dụng cụ 2000–2008 3 Nam 4 0 1 5
Đặng Á Bình Bóng bàn 1992–1996 2 Nữ 4 0 0 4
Trương Di Ninh Bóng bàn 2004–2008 2 Nữ 4 0 0 4
3 huy chương vàng
Lý Ninh Thể dục dụng cụ 1984–1988 2 Nam 3 2 1 6
Tôn Dương Bơi lội 2008-2016 3 Nam 3 2 1 6
Dương Uy Thể dục dụng cụ 2000–2008 3 Nam 3 2 0 5
Hùng Nghê Nhảy cầu 1988–2000 4 Nam 3 1 1 5
Trần Nhất Băng Thể dục dụng cụ 2008–2012 2 Nam 3 1 0 4
Trương Kế Khoa Bóng bàn 2012–2016 2 Nam 3 1 0 4
Lý Hiểu Hà Bóng bàn 2012–2016 2 Nữ 3 1 0 4
Đinh Ninh Bóng bàn 2012–2016 2 Nữ 3 1 0 4
Mã Lâm Bóng bàn 2004–2008 2 Nam 3 0 0 3
Mã Long Bóng bàn 2012–2016 2 Nam 3 0 0 3
5 huy chương hoặc nhiều hơn
Lý Tiểu Song Thể dục dụng cụ 1992–1996 2 Nam 2 3 1 6
Vương Nghĩa Phu Bắn súng 1984–2004 6 Nam 2 3 1 6
Vương Hạo Bóng bàn 2004–2012 3 Nam 2 3 0 5
Lâu Vân Thể dục dụng cụ 1984–1988 2 Nam 2 2 1 5
Tần Khải Nhảy cầu 2008-2016 3 Nam 2 1 2 5
Hoàng Tuyết Thần Bơi nghệ thuật 2008-2016 3 Nữ 0 3 2 5

Các VĐV đoạt nhiều huy chương tại một kỳ Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là danh sách các VĐV Trung Quốc đã giành ít nhất 2 huy chương vàng trong một kỳ Thế vận hội Mùa hè, sắp xếp theo thứ tự lần lượt xét số huy chương vàng, môn thi đấu và năm đạt thành tích.

Tên Môn thi đấu Năm Giới tính Vàng Bạc Đồng Tổng số
3 huy chương vàng
Lý Ninh Thể dục dụng cụ 1984 Nam 3 2 1 6
Trâu Khải Thể dục dụng cụ 2008 Nam 3 0 0 3
2 huy chương vàng
Cầu lông
Triệu Vân Lôi Cầu lông 2012 Nữ 2 0 0 2
Nhảy cầu
Phục Minh Hà Nhảy cầu 1996 Nữ 2 0 0 2
Hùng Nghê Nhảy cầu 2000 Nam 2 0 0 2
Quách Tinh Tinh Nhảy cầu 2004 Nữ 2 0 0 2
Quách Tinh Tinh Nhảy cầu 2008 Nữ 2 0 0 2
Trần Nhược Lâm Nhảy cầu 2008 Nữ 2 0 0 2
Trần Nhược Lâm Nhảy cầu 2012 Nữ 2 0 0 2
Ngô Mẫn Hà Nhảy cầu 2012 Nữ 2 0 0 2
Trần Ngải Sâm Nhảy cầu 2016 Nam 2 0 0 2
Thi Đình Mậu Nhảy cầu 2016 Nữ 2 0 0 2
Thể dục dụng cụ
Lý Tiểu Bằng Thể dục dụng cụ 2000 Nam 2 0 0 2
Lý Tiểu Bằng Thể dục dụng cụ 2008 Nam 2 0 0 2
Dương Uy Thể dục dụng cụ 2008 Nam 2 1 0 3
Tiếu Khâm Thể dục dụng cụ 2008 Nam 2 0 0 2
Trần Nhất Băng Thể dục dụng cụ 2008 Nam 2 0 0 2
Hà Khả Hân Thể dục dụng cụ 2008 Nữ 2 0 0 2
Trâu Khải Thể dục dụng cụ 2012 Nam 2 0 1 3
Bơi lội
Tôn Dương Bơi lội 2012 Nam 2 1 1 4
Diệp Thi Văn Bơi lội 2012 Nữ 2 0 0 2
Bóng bàn
Đặng Á Bình Bóng bàn 1992 Nữ 2 0 0 2
Đặng Á Bình Bóng bàn 1996 Nữ 2 0 0 2
Lưu Quốc Lương Bóng bàn 1996 Nam 2 0 0 2
Vương Nam Bóng bàn 2000 Nữ 2 0 0 2
Trương Di Ninh Bóng bàn 2004 Nữ 2 0 0 2
Trương Di Ninh Bóng bàn 2008 Nữ 2 0 0 2
Mã Lâm Bóng bàn 2008 Nam 2 0 0 2
Lý Hiểu Hà Bóng bàn 2012 Nữ 2 0 0 2
Trương Kế Khoa Bóng bàn 2012 Nam 2 0 0 2
Mã Long Bóng bàn 2016 Nam 2 0 0 2
Đinh Ninh Bóng bàn 2016 Nữ 2 0 0 2

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Các kỳ Thế vận hội từ thứ 10 đến thứ 15: 1936-1952 Ủy ban Olympic Trung Quốc.
  2. ^ a ă Mulvenney, Nick (7 tháng 8 năm 2008). “Chen Chengda, China's almost Olympian”. Reuters. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 
  3. ^ Thế vận hội lần thứ 23: Los Angeles 1984 Ủy ban Olympic Trung Quốc.
  4. ^ “Trung Quốc chuẩn bị cho Thế vận hội tại Rio”. Ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  5. ^ a ă SF&OC History Liên đoàn Thể thao và Ủy ban Olympic Hồng Kông, Trung Quốc Lưu trữ 2 tháng 10 năm 2009 tại Wayback Machine.
  6. ^ gồm: thể dục nghệ thuật, thể dục nhịp điệu và thể dục nhào lộn
  7. ^ a ă Monique Berlioux biên tập (August–September 1983). “China and Olympism” (PDF). Olympic Review (International Olympic Committee) (190–191): 583–592. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 
  8. ^ “1952: Zatopek wins gold at Helsinki”. On This Day 20 July (BBC News). Ngày 20 tháng 7 năm 1952. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]