Trung tâm Phim truyền hình Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trung tâm
Phim truyền hình Việt Nam
Loại hình
Đơn vị trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam
Ngành nghềSản xuất phim truyền hình và chương trình truyền hình khác
Thành lập7 tháng 9 năm 1980; 42 năm trước
Trụ sở chính906 đường La Thành, phường Giảng Võ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Websitewww.vfc.vtv.vn

Trung tâm Phim truyền hình Việt Nam hay Trung tâm Phim truyền hình - Đài Truyền hình Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Television Film Center,[1] viết tắt VFC) là đơn vị sản xuất chương trình truyền hình trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam. Trung tâm có chức năng chính là sản xuất phim truyền hình (cả chính luậngiải trí)[2] để phát sóng trên các kênh của Đài Truyền hình Việt Nam, đồng thời là nhà sản xuất của một số thể loại chương trình truyền hình khác như hài kịch, talk show, chương trình truyền hình trực tiếp, chương trình truyền hình thực tế, gameshow...[3]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Phim truyền hình Việt Nam có tiền thân là Công ty Nghe nhìn Việt Nam, được thành lập vào năm 1980. Năm 1996, đơn vị này mang tên là Hãng phim truyền hình Việt Nam và được sáp nhập vào Đài Truyền hình Việt Nam.[3] Từ ngày 1 tháng 8 năm 2003, Hãng phim truyền hình Việt Nam đổi tên thành Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam.[4] Từ ngày 9 tháng 8 năm 2022, Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam đổi tên thành Trung tâm Phim truyền hình Việt Nam.[5]

Các chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải Bông sen bạc Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XI cho phim Ảo ảnh giữa đời thường.[6]
  • Giải Bông sen vàng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIII cho phim Ba lẻ một.[7]
  • Giải Bông sen bạc Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIV cho phim Không còn gì để nói.[8]
  • Giải Cánh diều vàng 2002:
    • Giải cánh diều bạc thể loại Phim hoạt hình (video) cho Cuộc phiêu lưu của Ong Vàng. [9]
    • Giải khuyến khích thể loại Phim truyện truyền hình ngắn tập cho phim Sang sông.[9]
    • Giải Cánh diều bạc thể loại Phim truyện truyền hình ngắn tập cho phim Ranh giới.[9]
    • Giải Cánh diều vàng thể loại Phim truyện truyền hình ngắn tập cho phim Không còn gì để nói.[9]
    • Giải khuyến khích thể loại Phim truyện truyền hình dài tập cho phim Đất và người.[9]
    • Giải Cánh diều bạc thể loại Phim truyện truyền hình dài tập cho phim Phía trước là bầu trời.[9]
  • Giải Cánh diều vàng 2003:
    • Giải Cánh diều bạc 2003 cho phim Những cánh hoa mong manh.[10]
  • Giải Cánh diều vàng 2004:
  • Giải Cánh diều vàng 2005:
    • Thể loại phim truyền hình ngắn tập cho phim Một lần đi bụi.[12]
    • Đạo diễn xuất sắc thể loại phim truyền hình ngắn tập: đạo diễn Đỗ Đức Thành, phim Bảy ngày và một đời.[12]
  • Giải Cánh diều vàng 2006:
  • Giải Cánh diều vàng 2007:
    • Thể loại phim truyền hình ngắn tập cho phim Mùa hè rớt.[14]
    • Giải Cánh diều bạc thể loại phim truyền hình nhiều tập cho phim Ma làng.[14]
    • Giải khuyến khích thể loại phim truyền hình nhiều tập cho phim Luật đời.[14]
    • Giải đạo diễn xuất sắc cho nghệ sĩ ưu tú Nguyễn Hữu Phần.[14]
  • Giải cánh diều vàng 2008:
    • Thể loại phim truyền hình nhiều tập xuất sắc nhất cho phim Chạy án 2.[15]
    • Cánh diều bạc thể loại phim truyền hình nhiều tập cho phim Gió làng Kình.[15]
  • Giải cánh diều vàng 2009:
  • Giải Cánh diều vàng 2010 Hạng mục Phim truyện video cho phim Bí thư Tỉnh ủy.[17]
  • Giải Cánh diều vàng 2011:
  • Giải Bông sen vàng 2013 thể loại phim truyện video cho phim Người cộng sự (2013).[19]
  • Huy chương vàng Liên hoan truyền hình toàn quốc cho chương trình thiếu nhi Đi tìm ông trăng.
  • Huy chương vàng Liên hoan truyền hình toàn quốc cho phim truyền hình Đàn trời[20] (đạo diễn Bùi Huy Thuấn).
  • Giải Cánh diều vàng 2019[21][22]:
    • Cánh diều vàng thể loại phim truyền hình: Về nhà đi con.
    • Cánh diều bạc thể loại phim truyền hình: Hoa hồng trên ngực trái.
    • Nam diễn viên chính xuất sắc: Ngọc Quỳnh (phim Hoa hồng trên ngực trái).
    • Nữ diễn viên chính xuất sắc: Hồng Diễm (phim Hoa hồng trên ngực trái).
    • Nam diễn viên phụ xuất sắc: Doãn Quốc Đam (phim Mê cung).
    • Nữ diễn viên phụ xuất sắc: Cao Thái Hà (phim Bán chồng).
    • Đạo diễn xuất sắc: NSƯT Nguyễn Danh Dũng (phim Về nhà đi con).
    • Diễn viên triển vọng: Bảo Hân (phim Về nhà đi con).
  • Giải Cánh diều vàng 2020:
    • Cánh diều vàng thể loại phim truyền hình: Hồ sơ cá sấu.
    • Cánh diều bạc thể loại phim truyền hình:
    • Nam diễn viên chính xuất sắc: Mạnh Trường (phim Hồ sơ cá sấu).
    • Nữ diễn viên chính xuất sắc: Lương Thu Trang (phim Hướng dương ngược nắng).
    • Nam diễn viên phụ xuất sắc: Thanh Sơn (phim Tình yêu và tham vọng).
    • Nữ diễn viên phụ xuất sắc: Trịnh Tuyết Hương (phim Cát đỏ).
    • Đạo diễn xuất sắc: NSƯT Nguyễn Mai Hiền (phim Hồ sơ cá sấu).

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Tập 36, 37 của bộ phim Lửa ấm phát sóng năm 2020 đã có những sai sót nghiêm trọng về kiến thức đối với phơi nhiễm và xử lý phơi nhiễm HIV/AIDS.[23]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Vietnam Television Film Center” (PDF). Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013. Chú thích có tham số trống không rõ: |12= (trợ giúp)
  2. ^ Hồng Hà (15 tháng 11 năm 2012). “VFC làm phim thuần giải trí”. Báo Tổ quốc. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013.
  3. ^ a b “Giới thiệu về VFC”. Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013.
  4. ^ “Một hướng đi mới cho phim truyền hình?”. VietNamNet. ngày 9 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017.
  5. ^ Chí Kiên (8 tháng 9 năm 2022). “Quy định mới về nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Đài Truyền hình Việt Nam”. Báo Chính phủ. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2022.
  6. ^ “Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XI”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013.
  7. ^ “Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIII”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013.
  8. ^ “Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIV”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013.
  9. ^ a b c d e f “Giải thưởng cánh diều vàng năm 2002”. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2012.
  10. ^ Nguyễn Chương (19 tháng 3 năm 2004), Kết quả giải thưởng Cánh diều vàng của Hội Điện ảnh VN, Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013
  11. ^ Trao giải Cánh diều vàng 2004, Báo Sài Gòn giải phóng. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013
  12. ^ a b 'Chuyện của Pao' đoạt 4 Cánh diều vàng, Vnexpress. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013
  13. ^ Việt Hoài (6 tháng 5 năm 2007), Cánh diều vàng 2006: Hà Nội, Hà Nội & Áo lụa Hà Đông, Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013
  14. ^ a b c d Phương Thanh giành giải Cánh diều vàng 2007, VnExpress. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013
  15. ^ a b Hồng Ánh đoạt giải Cánh diều vàng 2008, Dân Trí. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013
  16. ^ ‘Đừng đốt’ đại thắng ở Cánh Diều Vàng, VnExpress. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013
  17. ^ Linh Lan (13 tháng 3 năm 2011), "Long thành cầm giả ca" đoạt giải Cánh diều vàng 2010, Thể thao & Văn Hóa. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013
  18. ^ Cánh Diều Vàng 2011 gây sốc nhưng vẫn tẻ nhạt, VnExpress. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2013
  19. ^ Như Hoa (17 tháng 10 năm 2013), Phim Những người viết huyền thoại thắng lớn, SGGP Online. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013
  20. ^ Các giải thưởng đã đạt được Lưu trữ 2013-10-28 tại Wayback Machine, Website Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2013
  21. ^ “Trao giải Cánh diều 2020 khu vực phía Bắc”.
  22. ^ “ZingNews - Giải thưởng Cánh diều Vàng 2020”.
  23. ^ “CDC Hà Nội: Phim 'Lửa ấm' tuyên truyền 'sai rất nghiêm trọng' về nhiễm HIV”. Tuổi Trẻ Online. 21 tháng 11 năm 2020.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]