Tu chính án thứ 1 Hiến pháp Hoa Kỳ
| Hợp chúng quốc Hoa Kỳ |
Bài này là một phần trong loạt bài: |
| Văn bản gốc Hiến pháp Hoa Kỳ |
|---|
| Lời mở đầu |
| Các tu chính án Hiến pháp |
| Tuyên ngôn nhân quyền I ∙ II ∙ III ∙ IV ∙ V VI ∙ VII ∙ VIII ∙ IX ∙ X Các tu chính án sau |
|
|
Tu chính án thứ 1 của Hiến pháp Hoa Kỳ cấm Quốc hội ban hành luật thiết lập tôn giáo hoặc hạn chế quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và lập hội và quyền kiến nghị chính phủ. Tu chính án thứ 1 được thông qua vào ngày 15 tháng 12 năm 1791, là một trong mười tu chính án trong Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ. Dự thảo ban đầu của Tuyên ngôn nhân quyền gồm 12 tu chính án, Tu chính án thứ 1 ở vị trí thứ ba, nhưng hai tu chính án đầu không được phê chuẩn, nên trở thành tu chính án đầu tiên.[1][2]
Tuyên ngôn nhân quyền được đề xuất nhằm thuyết phục phe chống Liên bang đồng ý phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ. Ban đầu, Tu chính án thứ 1 chỉ áp dụng đối với chính quyền liên bang. Bắt đầu từ án lệ Gitlow kiện New York (năm 1925), Tòa án Tối cao áp dụng Tu chính án 1 đối với các tiểu bang. Tu chính án thứ 1 chỉ áp dụng đối với chủ thể nhà nước.[a][3]
Điều khoản Tự do báo chí bảo vệ quyền xuất bản thông tin, ý kiến trên các phương tiện truyền thông. Trong các án lệ Near kiện Minnesota (năm 1931) và New York Times Co. kiện Hoa Kỳ (năm 1971), Tòa án Tối cao phán quyết rằng Tu chính án thứ 1 cấm chính phủ kiểm duyệt tiền xuất bản trong hầu hết mọi trường hợp. Điều khoản Kiến nghị đảm bảo quyền kiến nghị chính phủ. Tu chính án thứ 1 cũng đảm bảo quyền tự do hội họp, lập hội.
Toàn văn
[sửa | sửa mã nguồn]Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.[4]
Bối cảnh
[sửa | sửa mã nguồn]
Quyền kiến nghị chính phủ giải quyết khiếu nại được ghi nhận lần đầu tiên trong Đại Hiến chương và Luật về các Quyền 1689. Năm 1776, Nghị viện thuộc địa Virginia thông qua Tuyên ngôn các Quyền, lần đầu tiên đảm bảo quyền tự do báo chí. Tám tiểu bang khác cũng ban hành những bản tuyên ngôn tương tự. Tuy nhiên, những bản tuyên ngôn này không được coi là có hiệu lực pháp lý.[5]
Tại Hội nghị Lập hiến ở Philadelphia, George Mason, tác giả của Tuyên ngôn các Quyền của Virginia, đề xuất rằng dự thảo Hiến pháp bao gồm một tuyên ngôn đảm bảo các quyền tự do dân sự. Những đại biểu khác — bao gồm James Madison, người về sau soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ — bác bỏ đề xuất vì các tiểu bang đã đảm bảo các quyền tự do dân sự và việc liệt kê các quyền trong Hiến pháp có nguy cơ ngụ ý rằng những quyền không được liệt kê không được bảo vệ.[6]

Dự thảo Hiến pháp phải được ít nhất chín trong số 13 tiểu bang phê chuẩn. Phe chống Liên bang cho rằng dự thảo Hiến pháp không đảm bảo các quyền tự do dân sự. Tại các tiểu bang mà dư luận phản đối phê chuẩn Hiến pháp, phe Liên bang thuyết phục tiểu bang của họ phê chuẩn dự thảo Hiến pháp bằng cách cam kết bổ sung một tuyên ngôn nhân quyền vào Hiến pháp. Tại Quốc hội Hoa Kỳ khóa I sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ được phê chuẩn, James Madison đề xuất 20 tu chính án hiến pháp theo yêu cầu của các nghị viện tiểu bang, bao gồm một tu chính án đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo.
Quốc hội chỉnh lý, thông qua dự thảo của Madison mà hầu như không có hồ sơ, tài liệu về quá trình thảo luận, tranh luận.[7][8] Ngày 25 tháng 9 năm 1789, Quốc hội thông qua 12 tu chính án hiến pháp và đệ trình lên các tiểu bang để phê chuẩn. Mười trong số 12 tu chính án được đủ số lượng tiểu bang phê chuẩn vào ngày 15 tháng 12 năm 1791, cấu thành Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ.[9][10]
Tự do tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]
Điều khoản Thiết lập và Điều khoản Tự do thực hành của Tu chính án thứ 1 đảm bảo quyền tự do tôn giáo.[12][13] Việc Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ đảm bảo quyền tự do tôn giáo trước tiên phản ánh nhóm lập quốc Hoa Kỳ đề cao vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển của con người, xã hội và chính trị.[12]
Điều khoản Thiết lập cấm nhà nước "thiết lập tôn giáo", tức là ủng hộ, tài trợ một tôn giáo, trong khi Điều khoản Tự do thực hành cấm nhà nước can thiệp vào việc thực hành tôn giáo.[14][15] Quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và tự do báo chí có vị trí ưu tiên[16] theo án lệ Murdock kiện Pennsylvania (năm 1943) của Tòa án Tối cao.[17] Trong án lệ McCreary County kiện American Civil Liberties Union (năm 2005), Tòa án Tối cao phán quyết rằng việc nhà nước trưng bày Mười điều răn vi phạm Điều khoản thiết lập vì nhà nước không có mục đích phi tôn giáo để trưng bày văn bản.[14]
Tu chính án thứ 1 vừa cấm nhà nước can thiệp vào tôn giáo, vừa cấm tôn giáo can thiệp vào nhà nước.[18] Trong án lệ Gillette kiện Hoa Kỳ (năm 1970), Tòa án Tối cao nhận định rằng một trong những mục đích cốt lõi của Tu chính án thứ 1 là đảm bảo sự trung lập của nhà nước trong các vấn đề tôn giáo.[19] Trong án lệ Wallace kiện Jaffree (năm 1985), Tòa án Tối cao xác định rằng luật của Alabama cho phép giáo viên dành thời gian cho học sinh cầu nguyện ở trường học vi phạm Tu chính án thứ 1.[20]
Không thiết lập quốc giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Điều khoản Thiết lập cấm chính quyền liên bang, tiểu bang, địa phương ban hành luật nhằm mục đích "thiết lập tôn giáo".[21] Thuật ngữ "thiết lập tôn giáo" nói chung được hiểu là nhà nước trực tiếp hỗ trợ cho tôn giáo.[22] Điều khoản Thiết lập vừa cấm tôn giáo kiểm soát nhà nước, vừa cấm nhà nước kiểm soát tôn giáo,[13] được phản ánh trong án lệ Reynolds kiện Hoa Kỳ (năm 1878) của Tòa án Tối cao, xác định rằng Quốc hội không được ban hành luật quản lý tôn giáo, ngoại trừ để hạn chế những hành vi gây nguy hiểm cho "hòa bình và trật tự trị an". Trong án lệ Larkin kiện Grendel's Den, Inc. (năm 1982), Tòa án Tối cao xác định rằng mục đích cốt lõi của Điều khoản thiết lập là ngăn chặn sự hợp nhất của nhà nước và tôn giáo".[23]
Ban đầu, Tu chính án thứ 1 chỉ áp dụng cho chính quyền liên bang và một số tiểu bang tiếp tục duy trì quốc giáo sau khi phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ.[24] Bắt đầu từ án lệ Everson kiện Hội đồng Giáo dục (năm 1947), Tòa án Tối cao áp dụng Điều khoản Thiết lập đối với các tiểu bang.[25]
Điều khoản Thiết lập thường được hiểu là tách biệt tôn giáo và nhà nước.[26] Trong một lá thư gửi cho Hội Báp-tít Danbury vào năm 1802, Thomas Jefferson giải thích rằng mục đích của Điều khoản Thiết lập là "xây dựng một bức tường ngăn cách giữa Tôn giáo và Nhà nước."[26][27] Cách hiểu này được Tòa án Tối cao công nhận trong án lệ Everson kiện Hội đồng Giáo dục[28] và là cơ sở thảo luận Điều khoản Thiết lập cho đến nay.[29] Nguyên tắc cốt lõi của Điều khoản Thiết lập là trung lập về tôn giáo.[30] Trong án lệ Larson kiện Valente (năm 1982), Tòa án Tối cao xác định rằng mệnh lệnh rõ ràng nhất của Điều khoản Thiết lập là nhà nước không được ưu tiên một tôn giáo.[31]
Bài kiểm tra Lemon từng là phương pháp chính của Tòa án Tối cao để thi hành Điều khoản Thiết lập, bắt nguồn từ án lệ Lemon kiện Kurtzman (năm 1971).[32] Bài kiểm tra đặt ra ba tiêu chuẩn đối với một đạo luật: đạo luật có mục đích thế tục hay không, đạo luật có hỗ trợ hoặc cấm cản tôn giáo hay không, và đạo luật có khiến cho nhà nước can thiệp quá mức vào tôn giáo hay không.[33] Sau án lệ Kennedy kiện Bremerton School District (năm 2022), Bài kiểm tra Lemon được coi là bị bãi bỏ.[34][35]
Tự do thực hành tôn giáo
[sửa | sửa mã nguồn]Việc Tuyên ngôn nhân quyền Hoa Kỳ đảm bảo quyền tự do tôn giáo trước tiên phản ánh nhóm lập quốc Hoa Kỳ đề cao vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển của con người, xã hội và chính trị. Tu chính án thứ 1 đảm bảo quyền tự do thực hành tôn giáo.[12][36] Trong án lệ Reynolds kiện Hoa Kỳ (năm 1878), Tòa án Tối cao xác định rằng nhà nước không được quản lý quan điểm tôn giáo, nhưng có quyền quản lý một số hành vi tôn giáo.[13][37] Bắt đầu từ án lệ Cantwell kiện Connecticut (năm 1940), Tòa án Tối cao áp dụng Điều khoản Tự do thực hành đối với các tiểu bang.[38]
Tự do ngôn luận
[sửa | sửa mã nguồn]Tu chính án thứ 1 đảm bảo quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Quyền tự do ngôn luận là quyền tự do và công khai bày tỏ ý kiến mà không bị nhà nước kiểm duyệt, can thiệp hoặc hạn chế.[39][40][41][42] Quyền tự do ngôn luận bao gồm quyền phát ngôn, quyền không phát ngôn,[43] nội dung phát ngôn và hình thức phát ngôn.[44] Quyền tự do báo chí là quyền xuất bản, phổ biến thông tin, ý tưởng, ý kiến mà không bị nhà nước can thiệp, hạn chế hoặc truy tố.[45][46] Trong án lệ Murdock kiện Pennsylvania (năm 1943), Tòa án Tối cao phán quyết rằng "quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo có vị trí ưu tiên" và nhà nước không được hạn chế việc phổ biến quan điểm không được ưa chuộng, gây khó chịu hoặc phản cảm.[47] Trong án lệ Stanley kiện Georgia (năm 1969), Tòa án Tối cao xác định rằng Hiến pháp bảo vệ quyền tiếp nhận thông tin, ý tưởng nói riêng và quyền riêng tư, quyền tự do tư tưởng nói chung.[48]
Tu chính án thứ 1 không áp dụng đối với chủ thể tư nhân.[49][50] Các tiểu bang đảm bảo quyền tự do ngôn luận tương tự Hiến pháp Hoa Kỳ. Một số tiểu bang như California đảm bảo quyền tự do ngôn luận rộng hơn Tu chính án thứ 1. Trong án lệ Trung tâm mua sắm Pruneyard kiện Robins (năm 1980), Tòa án Tối cao cho phép các tiểu bang mở rộng quyền tự do ngôn luận hơn Hiến pháp Hoa Kỳ.[51]
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Tòa án Tối cao không xem xét tính hợp hiến của luật liên bang liên quan đến Điều khoản Tự do ngôn luận cho đến thế kỷ 20[52] và có xu hướng bỏ qua việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận.[53] Ví dụ: Tòa án Tối cao không xem xét tính hợp hiến của Luật Người nước ngoài và Kích động, trong khi ba thẩm phán Tòa án Tối cao phụ trách xét xử lưu động đã chủ trì các phiên tòa xét xử tội kích động mà không đặt vấn đề về quyền tự do ngôn luận.[52] Báng bổ là một tội danh trong suốt thế kỷ 19.[53]

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và Nỗi sợ cộng sản,[55] Tòa án Tối cao hạn chế phát ngôn bị coi là kích động tội phạm.[53] Ví dụ: trong án lệ Schenck kiện Hoa Kỳ (năm 1919), Tòa án Tối cao nhất trí tuyên y án của Charles Schenck, một thành viên Đảng Xã hội chủ nghĩa Hoa Kỳ, vì phân phát tờ rơi kêu gọi trốn quân dịch và xác định rằng Luật Gián điệp năm 1917 không vi phạm Tu chính án thứ 1.[56][57] Thẩm phán Tòa án Tối cao Oliver Wendell Holmes Jr. viết rằng phát ngôn tạo ra mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu không thuộc diện bảo vệ của Tu chính án thứ 1.[58]

Từ thập niên 1920, Tòa án Tối cao bắt đầu mở rộng phạm vi áp dụng của Tu chính án thứ 1.[53] Trong án lệ Gitlow kiện New York (năm 1925), Tòa án Tối cao tuyên y án của Benjamin Gitlow vì phân phát một bản tuyên ngôn kêu gọi thành lập "chuyên chính vô sản cách mạng",[60] nhưng đồng thời xác định rằng Tu chính án thứ 1 áp dụng đối với tiểu bang.[61][53] Những vụ việc về tự do ngôn luận về sau thường liên quan đến luật tiểu bang.[62] Trong án lệ Whitney kiện California (năm 1927), Thẩm phán Tòa án Tối cao Louis Brandeis viết một ý kiến đồng tình kêu gọi mở rộng quyền tự do ngôn luận và xem xét lại án lệ Schneck kiện Hoa Kỳ.[63]
Trong án lệ Herndon kiện Lowry (năm 1937), Tòa án Tối cao hủy bỏ bản án của Angelo Herndon, một thành viên Đgười Mỹ gốc Phi của ảng Cộng sản Hoa Kỳ, vì Georgia không chứng minh được rằng hoạt động chính trị của Herndon là một "mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu".[64] Trong án lệ Terminiello kiện Thành phố Chicago (năm 1949), Tòa án Tối cao hủy bỏ một quy định của Chicago cấm phát ngôn "kích động phẫn nộ dư luận, tranh cãi, bất ổn hoặc nội loạn" vì vi phạm quyền tự do ngôn luận theo Tu chính án thứ 1.[65]
Sau án lệ Thornhill kiện Alabama (năm 1940), Tòa án Tối cao giảm áp dụng tiêu chuẩn "nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu" trong những vụ việc tự do ngôn luận liên quan đến kích động bạo lực.[66] Năm 1940, Quốc hội thông qua Luật Smith, quy định cấm ủng hộ việc lật đổ chính phủ Hoa Kỳ bằng vũ lực.[67] Trong án lệ Dennis kiện Hoa Kỳ (năm 1951), Tòa án Tối cao xác nhận đạo luật là hợp hiến.[68][b] Trong một ý kiến đồng tình, Thẩm phán Tòa án Tối cao Felix Frankfurter đề xuất thay thế tiêu chuẩn "nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu" bằng một tiêu chuẩn cân bằng giữa nhu cầu đảm bảo quyền tự do ngôn luận trong một xã hội dân chủ và bảo vệ an ninh quốc gia.[68]
Trong Chiến tranh Việt Nam, Tòa án Tối cao thay đổi lập trường của về quyền chỉ trích nhà nước[69] và mở rộng hơn nữa phạm vi của Tu chính án thứ 1.[53] Trong án lệ Brandenburg kiện Ohio (năm 1969), Tòa án Tối cao hủy bỏ án lệ Whitney kiện California[69] cùng với tiêu chuẩn "mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu" trong án lệ Schenck[70] và thiết lập tiêu chuẩn mới rằng chính phủ chỉ có quyền hạn chế hoặc cấm phát ngôn ủng hộ sử dụng vũ lực hoặc vi phạm pháp luật nếu phát ngôn đó nhằm mục đích kích động hành động vô pháp sắp xảy ra và có khả năng cao gây ra hành động như vậy.[69]
Phát ngôn chính trị
[sửa | sửa mã nguồn]Phát ngôn ẩn danh
[sửa | sửa mã nguồn]Tu chính án thứ 1 bảo vệ phát ngôn luận ẩn danh, đặc biệt của những vụ việc liên quan đến các tổ chức chính trị gây tranh cãi cần phải hoạt động bí mật, chẳng hạn như NAACP và Hội Kinh Thánh và Truyền đơn Tháp Canh.[71] Trong án lệ Talley kiện California (năm 1960), Tòa án Tối cao tuyên bố một quy định của Los Angeles cấm phân phát tờ rơi ẩn danh là vi phạm Tu chính án thứ 1.
Xúc phạm quốc kỳ
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong án lệ Street kiện New York (năm 1969), Tòa án Tối cao[72] tuyên bố rằng luật của New York cấm tấn công quốc kỳ Hoa Kỳ bằng lời vi phạm Tu chính án thứ 1, nhưng không đề cập đến tính hợp hiến của hành vi đốt quốc kỳ.[72] Trong án lệ Texas kiện Johnson (năm 1989), Tòa án Tối cao xác định rằng việc đốt quốc kỳ Hoa Kỳ là một hình thức phát ngôn chính trị thuộc diện bảo vệ của Tu chính án thứ 1.[73]
Phát ngôn bắt buộc
[sửa | sửa mã nguồn]Tu chính án thứ 1 cấm nhà nước bắt buộc một người phải phát ngôn hoặc trả tiền cho một số phát ngôn nhất định. Trong án lệ Hội đồng Giáo dục Tiểu bang Tây Virginia kiện Barnette (năm 1943), Tòa án Tối cao phán quyết rằng học sinh không thể bị phạt vì từ chối nói Lời thề Trung thành hoặc chào cờ.[74] Trong án lệ Janus kiện AFSCME (năm 2018), Tòa án Tối cao phán quyết rằng việc yêu cầu một viên chức khu vực công không phải là đoàn viên công đoàn phải trả phí công đoàn là vi phạm Tu chính án thứ 1.[75]
Phát ngôn thù hận
[sửa | sửa mã nguồn]
Tu chính án thứ 1 bảo vệ phát ngôn thù hận.[76][77] Ví dụ: trong án lệ Snyder kiện Phelps (năm 2011), Tòa án Tối cao xác định rằng phát ngôn về vấn đề được dư luận quan tâm không được coi là hành vi gây tổn thất về tinh thần phải chịu trách nhiệm bồi thường, cho dù phát ngôn đó phản cảm.[78]
Tuy nhiên, Tu chính án thứ 1 không bảo vệ tội ác thù hận, là hành vi kích động tội phạm hoặc đe dọa một người, nhóm cụ thể.[77] Phát ngôn gây hấn — được định nghĩa lời lăng mạ cá nhân và phát ngôn bạo lực cố ý nhắm vào một người, nhóm cụ thể — cũng không thuộc diện bảo vệ của Tu chính án thứ 1 theo án lệ Chaplinsky kiện New Hampshire (năm 1942).[79]
Phỉ báng
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong 200 năm đầu của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, quy định pháp luật về phỉ báng nhấn mạnh vào kết quả của ấn phẩm bị cáo buộc là phỉ báng[81] hơn là tính đúng sai của ấn phẩm đó.[82] Năm 1964, Tòa án Tối cao hoàn toàn thay đổi luật phỉ báng của Hoa Kỳ trong án lệ New York Times Co. kiện Sullivan,[83] phán quyết rằng một tờ báo chỉ chịu trách nhiệm về những tuyên bố sai sự thật đối với một quan chức nếu tuyên bố đó có ác ý thực sự.[84] Tuy nhiên, trong án lệ Gertz kiện Robert Welch, Inc. (năm 1974), Tòa án Tối cao làm rõ rằng tiêu chuẩn ác ý thực sự không được áp dụng trong các vụ việc phỉ báng liên quan đến tư nhân.[80] Trong án lệ Milkovich kiện Lorain Journal Co. (năm 1990), Tòa án Tối cao xác định rằng một tuyên bố được cho là "ý kiến" vẫn có thể bị coi là phỉ báng nếu có thể bị chứng minh là sai sự thật.[85]
Phát ngôn tục tĩu và khiêu dâm
[sửa | sửa mã nguồn]Tu chính án thứ 1 không bảo vệ phát ngôn, hành vi tục tĩu. Trong án lệ Roth kiện Hoa Kỳ (1957), Tòa án Tối cao phán quyết rằng Tu chính án thứ 1 không bảo vệ phát ngôn tục tĩu và thiết lập một tiêu chuẩn để xác định xem một phát ngôn có tục tĩu hay không,[86] được gọi là bài kiểm tra Roth. Tòa án Tối cao mở rộng bài kiểm tra Roth thành bài kiểm tra Miller trong án lệ Miller kiện California (năm 1973), phán quyết rằng một tác phẩm được coi là khiêu dâm nếu "một người bình thường", áp dụng những tiêu chuẩn cộng đồng đương thời, sẽ thấy tác phẩm nhìn chung hướng đến sự dâm dục; tác phẩm mô tả, miêu tả theo cách rõ ràng là xúc phạm hành vi tình dục được quy định cụ thể tại luật tiểu bang; và tác phẩm về tổng thể thiếu giá trị văn học, nghệ thuật, chính trị hoặc khoa học.
Ngoại trừ nội dung khiêu dâm trẻ em, Tu chính án thứ 1 bảo vệ nội dung khiêu dâm, nhưng nội dung khiêu dâm về các hành vi tình dục "cực đoan" đôi khi vẫn bị truy tố. Trong án lệ New York kiện Ferber (năm 1982) và Osborne kiện Ohio (năm 1990),[87][88] Tòa án Tối cao phán quyết rằng nội dung khiêu dâm trẻ em không thuộc diện bảo vệ của Tu chính án thứ 1 vì nhà nước có lý do chính đáng để bảo vệ trẻ em khỏi bị lạm dụng tình dục.[89] Theo án lệ Stanley kiện Georgia (năm 1969), nhà nước không được cấm việc sở hữu riêng tư nội dung khiêu dâm.
Tự do báo chí
[sửa | sửa mã nguồn]Điều khoản Tự do báo chí bảo vệ quyền tự do báo chí, là quyền xuất bản, phổ biến thông tin, ý tưởng, quan điểm mà không bị nhà nước can thiệp, hạn chế hoặc truy tố.[45][46] Trong án lệ Lovell kiện Thành phố Griffin (năm 1938),[90] Tòa án Tối cao định nghĩa báo chí là "mọi loại ấn phẩm nhằm truyền tải thông tin và quan điểm". Ví dụ: trong án lệ Brown kiện Entertainment Merchants Association (năm 2011), Tòa án Tối cao phán quyết rằng trò chơi điện tử thuộc diện bảo vệ của Điều khoản Tự do báo chí.[91] Điều khoản Tự do ngôn luận và Điều khoản Tự do báo chí thậm chí bảo vệ người viết blog hoặc sử dụng mạng xã hội.[45][46][92] Trong án lệ Mills kiện Alabama (năm 1943), Tòa án Tối cao nêu rõ mục đích của Điều khoản Tự do báo chí là bảo vệ quyền tự do thảo luận về các vấn đề nhà nước và xác định vai trò của báo chí là ngăn chặn sự lạm quyền của quan chức, đảm bảo quan chức dân cử phải chịu trách nhiệm trước cử tri.[93] Trong một ý kiến đồng tình trong vụ Pennekamp kiện Florida, Thẩm phán Tòa án Tối cao Felix Frankfurter viết rằng mục đích của Tu chính án thứ 1 không phải là biến báo chí thành một ngành đặc quyền mà là bảo vệ quyền in ấn, phát ngôn của tất cả mọi người.[94] Tuy nhiên, trong án lệ Branzburg kiện Hayes (năm 1972), Tòa án Tối cao xác định rằng đặc quyền của nhà báo theo Tu chính án thứ 1 không bao gồm quyền từ chối cung cấp lời khai trong một vụ án hình sự.[95]
Trong án lệ Near kiện Minnesota (năm 1931),[96] Tòa án Tối cao tuyên bố hủy bỏ một đạo luật của Minnesota quy định kiểm duyệt tiền xuất bản đối với báo chí vì vi phạm quyền tự do báo chí theo Tu chính án thứ 1.[97] Tòa án Tối cao cho phép kiểm duyệt tiền xuất bản trong một số trường hợp rất hạn chế, ví dụ như trường hợp "công bố ngày khởi hành của các chuyến vận chuyển hoặc số lượng, vị trí của quân lính".[98]

Trong án lệ New York Times Co. kiện Hoa Kỳ (năm 1971),[99] Tòa án Tối cao thu hẹp ngoại lệ cho phép kiểm duyệt tiền xuất bản, xác định rằng nhà nước phải chứng minh được rằng một tờ báo xuất bản tài liệu mật sẽ gây ra "mối nguy hiểm nghiêm trọng và không thể khắc phục được" trước khi thực hiện kiểm duyệt tiền xuất bản. Trong ý kiến riêng, Thẩm phán Black và Douglas cho rằng Hiến pháp Hoa Kỳ cấm hoàn toàn việc kiểm duyệt tiền xuất bản.[100]
Tòa án Tối cao hiếm khi ủng hộ việc kiểm duyệt nội dung của báo chí. Trong án lệ Miami Herald Publishing Co. kiện Tornillo (năm 1974),[101] Tòa án Tối cao nhất trí hủy bỏ luật của Florida quy định một tờ báo chỉ trích một ứng cử viên phải đăng bài phản hồi của ứng cử viên đó và xác định rằng nhà nước không có quyền buộc một tờ báo phải đăng nội dung mà tờ báo đó không muốn đăng.[102][103]
Quyền kiến nghị và tự do hội họp
[sửa | sửa mã nguồn]
Điều khoản Kiến nghị đảm bảo quyền "kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình".[45] Quyền kiến nghị đã được mở rộng để bao gồm quyền tiếp xúc với quan chức, vận động quan chức và đệ đơn kiện tại tòa án.[92][104] Tòa án Tối cao xác định rằng Điều khoản Kiến nghị đảm bảo quyền kiến nghị của tư nhân, vì tư lợi[105] và quyền kiến nghị sửa đổi luật pháp một cách hòa bình.[106]
Quyền tự do hội họp hòa bình ban đầu được phân biệt với quyền kiến nghị.[104] Trong án lệ Hoa Kỳ kiện Cruikshank (năm 1875),[107] vụ việc đầu tiên liên quan đến quyền tự do hội họp,[104] Tòa án Tối cao xác định rằng quyền tự do hội họp phát sinh từ quyền kiến nghị. Bắt đầu từ án lệ De Jonge kiện Oregon (năm 1937), quyền tự do hội họp được coi là quan trọng ngang bằng với quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí.[104]
Trong án lệ Hague kiện Ủy ban Tổ chức Công nghiệp (năm 1939), Tòa án Tối cao xác định rằng quyền tự do hội họp bao gồm quyền sử dụng nơi công cộng như đường phố, công viên[104][108] và được mở rộng để bao gồm quyền truyền đạt ý kiến về các vấn đề quốc gia[109] cũng như quyền tổ chức các cuộc họp, phổ biến thông tin.[110]
Tự do lập hội
[sửa | sửa mã nguồn]Tuy Tu chính án thứ 1 không trực tiếp đề cập đến quyền tự do lập hội, nhưng Tòa án Tối cao đã xác định rằng Tu chính án thứ 1 đảm bảo quyền tự do lập hội và quyền riêng tư của hội viên là một phần thiết yếu của quyền tự do lập hội trong án lệ NAACP kiện Alabama (năm 1958).[111] Trong án lệ Roberts kiện United States Jaycees (năm 1984), Tòa án Tối cao xác định rằng quyền tham gia vào các hoạt động thuộc diện bảo vệ của Tu chính án thứ 1 bao hàm quyền kết giao với người khác nhằm theo đuổi mục đích chính trị, xã hội, kinh tế, giáo dục, tôn giáo, văn hóa[112] và một hội đoàn không được loại trừ một người vì lý do không liên quan đến phát ngôn của hội đoàn, chẳng hạn như giới tính.
Tuy nhiên, trong án lệ Hurley kiện Irish-American Gay, Lesbian, and Bisexual Group of Boston (năm 1995),[113] Tòa án Tối cao cho phép một hội đoàn loại trừ một người nếu sự hiện diện của người đó ảnh hưởng đến khả năng ủng hộ một quan điểm cụ thể của hội đoàn. Tương tự, trong án lệ Hội Hướng đạo Mỹ kiện Dale (năm 2000), Tòa án Tối cao phán quyết rằng luật của New Jersey yêu cầu Hội Hướng đạo Mỹ phải kết nạp một thành viên đồng tính công khai vi phạm quyền tự do lập hội.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ See for the topic First Amendment and state actor exemplarily the 2019 United States Supreme Court case Manhattan Community Access Corp. v. Halleck, No. 17-1702, 587 U.S. ___ (2019).
- ^ Justice Tom C. Clark did not participate because he had ordered the prosecutions when he was Attorney General.
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]Trích dẫn
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "America's Founding Documents – The Bill of Rights: A Transcription". archives.gov. National Archives and Records Administration. ngày 4 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2024.
- ^ Kratz, Jessie (ngày 23 tháng 1 năm 2020). "Unratified Amendments". Pieces of History (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2024.
- ^ Lecher, Colin (ngày 17 tháng 6 năm 2019). "First Amendment constraints don't apply to private platforms, Supreme Court affirms". The Verge. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2019.
- ^ "First Amendment". Cornell University Law School Legal Information Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2013.
- ^ Lewis 2007, tr. 6–7.
- ^ Beeman 2009, tr. 341–43.
- ^ Jasper 1999, tr. 2.
- ^ Lewis 2007, tr. 10.
- ^ "Bill of Rights". National Archives. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- ^ "The New United States of America Adopted the Bill of Rights: December 15, 1791". Library of Congress. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- ^ "American History: Massachusetts Bay Colony". Encyclopaedia Britannica. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2020.
- ^ a b c Farr, Thomas (ngày 1 tháng 11 năm 2019). "What in the World is Religious Freedom?". Religious Freedom Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2020.
- ^ a b c Director Religious Freedom Education Project Charles C. Haynes (ngày 26 tháng 12 năm 2002). "History of Religious Liberty in America. Written for Civitas: A Framework for Civic Education (1991) by the Council for the Advancement of Citizenship and the Center for Civic Education". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2020.
- ^ a b "McCreary County v. American Civil Liberties Union of Ky., 545 U.S. 844 (2005), at Part IV". Justia US Supreme Court Center. ngày 27 tháng 6 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
- ^ Michelle Boorstein (ngày 3 tháng 11 năm 2020). "Religion: Religious conservatives hopeful new Supreme Court majority will redefine religious liberty precedents". The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2020.
- ^ Richard L. Pacelle Jr. (ngày 19 tháng 9 năm 2023). "Preferred Position Doctrine". Free Speech Center at Middle Tennessee State University. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Murdock v. Pennsylvania, 319 U.S. 105 (1943), at 115". Justia US Supreme Court Center. ngày 3 tháng 5 năm 1943. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Walz v. Tax Comm'n of City of New York, 397 U.S. 664 (1970, at 669". Justia US Supreme Court Center. Justia US Supreme Court Center. ngày 4 tháng 5 năm 1970. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2023.
- ^ John R. Vile. "Gillette v. United States (1971)". The First Amendment Encyclopedia presented by the John Seigenthaler Chair of Excellence in First Amendment Studies. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Wallace v. Jaffree, 472 U.S. 38 (1985), at 50". Justia US Supreme Court Center. ngày 4 tháng 6 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2020.
- ^ "Religious liberty in public life: Establishment Clause overview". First Amendment Center. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2020.
- ^ Vile, John R. "Established Churches in Early America". The First Amendment Encyclopedia presented by the John Seigenthaler Chair of Excellence in First Amendment Studies. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
- ^ "Larkin v. Grendel's Den, Inc., 459 U.S. 116 (1982) at 126-127". Justia US Supreme Court Center. ngày 13 tháng 12 năm 1982. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
- ^ "First Amendment". Encyclopædia Britannica. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2013.
- ^ "Everson v. Board of Education of Ewing Township (1947)". National Constitution Center. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b Ryman, Hana M.; Alcorn, J. Mark (ngày 3 tháng 1 năm 2025). "Establishment Clause: Separation of Church and State". Free Speech Center. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ^ "Jefferson's Letter to the Danbury Baptists—The Final Letter, as Sent on January 1, 1802". Library of Congress. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2014.
- ^ Shultz, David (2005). Encyclopedia of the Supreme Court. New York City, New York: Infobase Publishing. ISBN 9780816067398.
- ^ Shultz 2005, tr. 147.
- ^ Elena Kagan (ngày 7 tháng 2 năm 2019). "Jefferson S. Dunn, Commissioner, Alabama Department of Corrections, Applicant v. Domineque Hakim Marcelle Ray on Application Number 18A815 to vacate stay" (PDF). United States Supreme Court. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
- ^ "Larson v. Valente, 456 U.S. 228 (1982), at 244". Justia US Supreme Court Center. ngày 21 tháng 4 năm 1982. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2020.
- ^ Kritzer, H. M.; Richards, M. J. (2003). "Jurisprudential Regimes and Supreme Court Decisionmaking: The Lemon Regime and Establishment Clause Cases". Law & Society Review. 37 (4): 830. doi:10.1046/j.0023-9216.2003.03704005.x.
- ^ Shultz 2005, tr. 144.
- ^ Lupu, Ira; Tuttle, Robert (ngày 28 tháng 6 năm 2022). "Kennedy v. Bremerton School District – A Sledgehammer to the Bedrock of Nonestablishment". American Constitution Society. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
- ^ Hutchison, Harry (ngày 29 tháng 6 năm 2022). "The ACLJ Participates in Another Supreme Court Victory as the Court Upholds Coach Kennedy's Right to Pray after Football Games in Kennedy v. Bremerton School District". American Center for Law and Justice (ACLJ). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2022.
- ^ "Abington School District v. Schempp, 374 U.S. 203 (1963) at 222-223". Justia US Supreme Court Center. ngày 17 tháng 6 năm 1963. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Supreme Court Cases: Reynolds v. United States, 1879". PHSchool.com. Pearson Prentice Hall. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2016.
- ^ Shultz 2005, tr. 65.
- ^ "freedom of speech". The American Heritage Dictionary of the English Language (ấn bản thứ 5). Houghton Mifflin Harcourt. 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
- ^ "freedom of speech". Merriam-Webster. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
- ^ "free speech". Cambridge Advanced Learner's Dictionary. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
- ^ "freedom of speech". Dictionary.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
- ^ "Riley v. National Federation of the Blind, 487 U.S. 781 (1988), at 796 – 797". Justia US Supreme Court Center. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020.
- ^ Morillo, Elaine (ngày 4 tháng 1 năm 2023). "How Would an Absolute First Amendment Benefit Modern Society?". Thesocialtalks. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2023.
It is important to note that the First Amendment applies to many expressions, including verbal and non-verbal communication, written communication, sign language, body language, facial expressions, gestures, symbols, and images. This means that the First Amendment protects not just what we say but also how we express ourselves.
- ^ a b c d "First Amendment: An Overview". Wex Legal Dictionary / Encyclopedia. Legal Information Institute of the Cornell University. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014.
- ^ a b c McConnell, Michael W. (tháng 11 năm 2013). "Reconsidering Citizens United as a Press Clause Case". The Yale Law Journal. 123 2013–2014: 266–529. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Murdock v. Pennsylvania, 319 U.S. 105 (1943), at 116". Justia US Supreme Court Center. ngày 3 tháng 5 năm 1943. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Stanley v. Georgia, 394 U.S. 557 (1969), at 564–566". Justia US Supreme Court Center. ngày 7 tháng 4 năm 1969. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2020.
- ^ "What Does Free Speech Mean?". United States Courts. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2022.
- ^ Willingham, AJ (ngày 6 tháng 9 năm 2018). "The First Amendment doesn't guarantee you the rights you think it does". CNN. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2019.
- ^ Pruneyard Shopping Center v. Robins, 447 U.S. 74 (1980)
- ^ a b Lewis 2007, tr. 15.
- ^ a b c d e f Stone, Geoffrey R.; Volokh, Eugene. "Freedom of Speech and the Press". National Constitution Center. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
- ^ Lewis 2007, tr. 27.
- ^ Lewis 2007, tr. 25.
- ^ Abrams 2006, tr. 65–66.
- ^ Schenck v. United States, 249 U.S. 47 (1919)
- ^ Lewis 2007, tr. 26.
- ^ Lewis 2007, tr. 34.
- ^ Lewis 2007, tr. 35, 108.
- ^ Jasper 1999, tr. 24.
- ^ Lewis 2007, tr. 35.
- ^ Lewis 2007, tr. 36.
- ^ Jasper 1999, tr. 26.
- ^ Terminiello v. City of Chicago 337 U.S. 1 (1949) at 4
- ^ Antieu, Chester James, Commentaries on the Constitution of the United States, Wm. S. Hein Publishing, 1998, p 219, ISBN 9781575884431. Antieu names Feiner v. New York, 340 U.S. 315 (1951); Chaplinsky v. New Hampshire 315 U.S. 568 (1942); and Kovacs v. Cooper, 335 U.S. 77 (1949).
- ^ 18 U.S.C. § 2385
- ^ a b Jasper 1999, tr. 28.
- ^ a b c Jasper 1999, tr. 32.
- ^ Lewis 2007, tr. 124.
- ^ Hayward, Allison (ngày 11 tháng 1 năm 2025). "Anonymous Speech". Free Speech Center. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b Jasper 1999, tr. 43.
- ^ Dallas, Kelsey (ngày 29 tháng 8 năm 2025). "The Supreme Court and flag burning: an explainer". SCOTUSblog. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2025.
- ^ "West Virginia State Board of Education v. Barnette". Encyclopædia Britannica. ngày 7 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2020.
- ^ Howe, Amy (ngày 27 tháng 6 năm 2018). "Opinion analysis: Court strikes down public-sector union fees". SCOTUSblog. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018.
- ^ "Is Hate Speech Legal?". Foundation for Individual Rights and Expression. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ^ a b "Hate Speech and Hate Crime". American Library Association. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ^ Liptak, Adam (ngày 2 tháng 3 năm 2011). "Justices Rule for Protesters at Military Funerals". The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
- ^ Shultz 2005, tr. 162–163.
- ^ a b Hudson Jr., David L. "Defamation and the First Amendment". Foundation for Individual Rights and Expression. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2025.
- ^ Newell 1898, tr. 33–37.
- ^ Nelson 1994, tr. 93.
- ^ Rick Schmitt, "Window to the Past: New York Times Co. v. Sullivan" Lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2016 tại Wayback Machine, Washington Lawyer, October 2014.
- ^ Jasper 1999, tr. 9–10.
- ^ "Milkovich v. Lorain Journal Co. 497 U.S. 1 (1990)". Encyclopedia of the American Constitution. ngày 1 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- ^ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên:8 - ^ New York v. Ferber, 458 U.S. 747 (1982)
- ^ Osborne v. Ohio, 495 U.S. 103 (1990)
- ^ Jasper 1999, tr. 51.
- ^ Lovell v. City of Griffin, 303 U.S. 444 (1938)
- ^ Liptak, Adam (ngày 27 tháng 6 năm 2011). "Justices Reject Ban on Violent Video Games for Children". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- ^ a b "First Amendment (United States Constitution)". Encyclopædia Britannica. ngày 8 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2014.
- ^ "Mills v. Alabama, 384 U.S. 214 (1966), at 218-219". Justia US Supreme Court Center. ngày 23 tháng 5 năm 1966. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
- ^ "Pennekamp v. Florida, 328 U.S. 331 (1946), at 364. Concurring opinion by Felix Frankfurter". Justia US Supreme Court Center. ngày 3 tháng 6 năm 1946. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2020.
- ^ "Branzburg v. Hayes 408 U.S. 665 (1972)". Encyclopedia of the American Constitution. ngày 1 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- ^ Near v. Minnesota, 283 U.S. 697 (1931)
- ^ Lewis 2007, tr. 43.
- ^ Lewis 2007, tr. 46–47.
- ^ New York Times Co. v. United States, 403 U.S. 713 (1971)
- ^ Schauer, Frederick (ngày 1 tháng 1 năm 2000). "New York Times Co. v. United States 403 U.S. 713 (1971)". Encyclopedia of the American Constitution. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- ^ Miami Herald Publishing Co. v. Tornillo, 418 U.S. 241 (1974)
- ^ Hevesi, Dennis (ngày 2 tháng 2 năm 2010). "Dan Paul, 85, leading lawyer for press freedom". The Boston Globe. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- ^ Lee, William E.; Stewart, Daxton R.; Peters, Jonathan (ngày 6 tháng 7 năm 2019). The Law of Public Communication (bằng tiếng Anh). Taylor & Francis. ISBN 978-1-351-69235-9.
- ^ a b c d e "Findlaw Annotation 21—First Amendment—Rights of assembly and petition". FindLaw. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2020.
- ^ 365 U.S. 127 (1961)
- ^ "Frequently Asked Questions—Petition". First Amendment Center. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- ^ United States v. Cruikshank, 92 U.S. 542 (1875)
- ^ "The Successes of the American Civil Liberties Union". American Civil Liberties Union. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ^ "Hague v. Committee for Industrial Organization, 307 U.S. 496 (1939), at 516". Justia US Supreme Court Center. ngày 5 tháng 6 năm 1939. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ "Hague v. Committee for Industrial Organization, 307 U.S. 496 (1939), at 525". Justia US Supreme Court Center. ngày 5 tháng 6 năm 1939. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2023.
- ^ NAACP v. Alabama, 357 U.S. 449 (1958)
- ^ Roberts v. United States Jaycees, 468 U.S. 609 (1984)
- ^ Hurley v. Irish-American Gay, Lesbian, and Bisexual Group of Boston, 515 U.S. 557 (1995)
Thư mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Abrams, Floyd (ngày 4 tháng 4 năm 2006). Speaking freely. Penguin. ISBN 978-0-14-303675-3. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- Beeman, Richard (2009). Plain, Honest Men: The Making of the American Constitution. Random House. ISBN 978-1-58836-726-6. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- Jasper, Margaret C. (1999). The Law of Speech and the First Amendment. Oceana Publications. ISBN 978-0-379-11335-8. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013.
- Nelson, William Edward (1994). Americanization of the Common Law: The Impact of Legal Change on Massachusetts Society, 1760-1830. University of Georgia Press. ISBN 978-0-8203-1587-4. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- Newell, Martin L. (1898). The Law of Libel and Slander in Civil and Criminal Cases: As Administered in the Courts of the United States of America. Callaghan. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013.
- Lewis, Anthony (2007). Freedom for the Thought That We Hate: A Biography of the First Amendment. Basic Books. ISBN 978-0-465-01819-2.
Đọc thêm
[sửa | sửa mã nguồn]- Curtis, Michael Kent (2000). Free Speech, "The People's Darling Privilege": Struggles for Freedom of Expression in American History. Duke University Press. ISBN 0822325292.
- Daniel L. Dreisbach and Mark David Hall. The Sacred Rights of Conscience: Selected Readings on Religious Liberty and Church-State Relations in the American Founding. Indianapolis, IN: Liberty Fund Press, 2009.
- Daniel L. Dreisbach, Mark David Hall, and Jeffry Morrison. The Forgotten Founders on Religion and Public Life Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press, 2009.
- Thomas I. Emerson, "Toward a General Theory of the First Amendment", Yale Law Journal, vol. 72, no. 5 (1963), pp. 877–956. doi:10.2307/794655doi:10.2307/794655. JSTOR 794655.
- Godwin, Mike (2003). Cyber Rights: Defending Free Speech in the Digital Age. MIT Press. ISBN 0262571684.
- Peter Irons, A People's History of the Supreme Court. New York: Penguin, 1999.
- McLeod, Kembrew (2007). Freedom of Expression: Resistance and Repression in the Age of Intellectual Property. foreword by Lawrence Lessig. University of Minnesota Press. ISBN 978-0816650316.
- Kabala, James S., Church-State Relations in the Early American Republic, 1787–1846. London: Pickering and Chatto, 2013.
- Johnny Killian and George Costello (eds.) (2000). The Constitution of the United States of America: Analysis and Interpretation,. Current version Lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2022 tại Wayback Machine
- Nicholas P. Miller, The Religious Roots of the First Amendment: Dissenting Protestants and the Separation of Church and State. New York: Oxford University Press, 2012.
- Nelson, Samuel P. (2005). Beyond the First Amendment: The Politics of Free Speech and Pluralism. The Johns Hopkins University Press. ISBN 0801881730.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Cornell Law School—Annotated Constitution
- Ruane, Kathleen Anne (ngày 8 tháng 9 năm 2014). "Freedom of Speech and Press: Exceptions to the First Amendment" (PDF). Legislative Attorney. Congressional Research Service. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
