Bước tới nội dung

U-37 (tàu ngầm Đức) (1938)

54°55′B 09°47′Đ / 54,917°B 9,783°Đ / 54.917; 9.783
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tàu ngầm U-37 tại Lorient, năm 1940
Lịch sử
Đức Quốc Xã
Tên gọi U-37
Đặt hàng 29 tháng 7, 1936
Xưởng đóng tàu DeSchiMAG AG Weser, Bremen
Số hiệu xưởng đóng tàu 942
Đặt lườn 15 tháng 3, 1937
Hạ thủy 14 tháng 5, 1937
Nhập biên chế 4 tháng 8, 1938
Tình trạng Bị đánh đắm, 8 tháng 5, 1945 [1]
Đặc điểm khái quát
Lớp tàu Tàu ngầm Type IXA
Trọng tải choán nước
Chiều dài
  • 76,60 m (251 ft 4 in) (chung) [2]
  • 58,75 m (192 ft 9 in) (lườn áp lực) [2]
Sườn ngang
  • 6,51 m (21 ft 4 in) (chung) [2]
  • 4,40 m (14 ft 5 in) (lườn áp lực) [2]
Chiều cao 9,40 m (30 ft 10 in) [2]
Mớn nước 4,70 m (15 ft 5 in) [2]
Công suất lắp đặt
  • 4.400 PS (3.200 kW; 4.300 shp) (diesel) [2]
  • 1.000 PS (740 kW; 990 shp) (điện) [2]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa
  • 10.500 hải lý (19.400 km; 12.100 mi) ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h; 12 mph) (nổi) [2]
  • 65–78 hải lý (120–144 km; 75–90 mi) ở tốc độ 4 hải lý trên giờ (7,4 km/h; 4,6 mph) (lặn) [2]
Độ sâu thử nghiệm 230 m (750 ft) [3]
Thủy thủ đoàn tối đa 4 sĩ quan, 44 thủy thủ
Vũ khí
Thành tích phục vụ[1][4]
Một phần của:
Mã nhận diện: M 21 204
Chỉ huy:
  • Đại úy Heinrich Schuch
  • 4 tháng 8, 1938 – 24 tháng 9, 1939
  • Thiếu tá Werner Hartmann
  • 25 tháng 9, 1939 – 6 tháng 5, 1940
  • Đại úy Victor Oehrn
  • 6 tháng 5 – 26 tháng 10, 1940
  • Đại úy Asmus Nicolai Clausen
  • 26 tháng 10, 1940 – 2 tháng 5, 1941
  • Đại úy Ulrich Folkers
  • 3 tháng 5 – 15 tháng 11, 1941
  • Trung úy Gustav-Adolf Janssen
  • 16 tháng 11, 1941 – 30 tháng 6, 1942
  • Trung úy Albert Lauzemis
  • 1 tháng 7, 1942 – 3 tháng 1, 1943
  • Trung úy Hinrich Kelling
  • 4 tháng 1 – 19 tháng 11, 1943
  • Trung úy Peter Gerlach
  • 20 tháng 11, 1943 – 8 tháng 1, 1944
  • Trung úy Wolfgang Seiler
  • 9 tháng 1 – 21 tháng 12, 1944
  • Đại úy Eberhard von Wenden
  • 22 tháng 12, 1944 – 5 tháng 5, 1945
Chiến dịch:
  • 11 chuyến tuần tra:
  • 1: 19 tháng 8 – 15 tháng 9, 1939
  • 2: 5 tháng 10 – 8 tháng 11, 1939
  • 3: 28 tháng 1 – 27 tháng 2, 1940
  • 4: 30 tháng 3 – 18 tháng 4, 1940
  • 5: 15 tháng 5 – 9 tháng 6, 1940
  • 6: 1 – 12 tháng 8, 1940
  • 7: 17 – 30 tháng 8, 1940
  • 8: 24 tháng 9 – 22 tháng 10, 1940
  • 9: 28 tháng 11, 1940 – 7 tháng 1, 1941
  • 10: 30 tháng 1 – 18 tháng 2, 1941
  • 11: 27 tháng 2 – 22 tháng 3, 1941
Chiến thắng:
  • 53 tàu buôn bị đánh chìm
    (200.063 GRT)
  • 2 tàu chiến bị đánh chìm
    (2.404 tấn)
  • 1 tàu buôn bị hư hại
    (9.494 GRT)

U-37 là một tàu ngầm tuần dương Lớp Type IX thuộc phân lớp Type IXA được Hải quân Đức Quốc Xã chế tạo trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nhập biên chế năm 1938, nó đã thực hiện được mười một chuyến tuần tra, đánh chìm tổng cộng 53 tàu buôn với tổng tải trọng 200.063 GRT và hai tàu chiến với tổng tải trọng 2.404 tấn, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn tải trọng 9.494 GRT. Chiếc tàu ngầm được xếp thứ sáu trong số những tàu ngầm U-boat thành công nhất trong Thế Chiến II.[5] U-37 được rút về làm nhiệm vụ huấn luyện trong khu vực biển Baltic từ giữa năm 1941; và khi Thế Chiến II bước vào giai đoạn kết thúc, trong khuôn khổ Chiến dịch Regenbogen, nó bị đánh đắm trong vịnh Sonderburg ngoài khơi Flensburg vào ngày 8 tháng 5, 1945 để tránh bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh.

Thiết kế và chế tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế

[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế của tàu ngầm Type IX là phiên bản cải biến từ tàu ngầm Type IA.[6] Chúng có trọng lượng choán nước 1.032 t (1.016 tấn Anh) khi nổi và 1.153 t (1.135 tấn Anh) khi lặn).[3] Con tàu có chiều dài chung 76,50 m (251 ft 0 in), lớp vỏ trong chịu áp lực dài 58,75 m (192 ft 9 in), mạn tàu rộng 6,51 m (21 ft 4 in), chiều cao 9,40 m (30 ft 10 in) và mớn nước 4,70 m (15 ft 5 in).[3]

Chúng trang bị hai động cơ diesel MAN M 9 V 40/46 siêu tăng áp 9-xy lanh 4 thì, tổng công suất 4.400 PS (3.200 kW; 4.300 bhp), dẫn động hai trục chân vịt đường kính 1,92 m (6,3 ft), cho phép đạt tốc độ tối đa 18,2 kn (33,7 km/h), và tầm hoạt động tối đa 10.500 nmi (19.400 km) khi đi tốc độ đường trường 10 kn (19 km/h).[3] Khi đi ngầm dưới nước, chúng sử dụng hai động cơ/máy phát điện Siemens-Schuckert 2 GU 345/34 tổng công suất 1.000 PS (740 kW; 990 shp). Tốc độ tối đa khi lặn là 7,7 kn (14,3 km/h), và tầm hoạt động 65–78 nmi (120–144 km) ở tốc độ 4 kn (7,4 km/h).[3] Con tàu có khả năng lặn sâu đến 230 m (750 ft).[3]

Vũ khí trang bị có sáu ống phóng ngư lôi 53,3 cm (21 in), bao gồm bốn ống trước mũi và hai ống phía đuôi, và mang theo tổng cộng 22 quả ngư lôi 53,3 cm (21 in). Tàu ngầm Type IX trang bị một hải pháo 10,5 cm (4,1 in) SK C/32 với 110 quả đạn, một pháo phòng không 3,7 cm (1,5 in) SK C/30 và hai pháo phòng không 2 cm (0,79 in) C/30. Thủy thủ đoàn bao gồm 4 sĩ quan và 44 thủy thủ.[3]

Chế tạo

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 được đặt hàng vào ngày 29 tháng 7, 1936, rõ ràng là một vi phạm những điều khoản của Hiệp ước Versailles,[1] và được đặt lườn tại xưởng tàu AG Weser của hãng DeSchiMAGBremen vào ngày 15 tháng 3, 1937.[1] Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 5, 1938,[1] và nhập biên chế cùng Hải quân Đức Quốc Xã vào ngày 4 tháng 8, 1938[1] dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Heinrich Schuch.[1]

Lịch sử hoạt động

[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến tuần tra thứ nhất

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 xuất phát từ Wilhelmshaven vào ngày 19 tháng 8, 1939 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Heinrich Schuch cho chuyến tuần tra đầu tiên trong chiến tranh. Nó băng qua khe GIUK giữa các quần đảo ShetlandFaroe để hoạt động trong vùng biển Bắc Đại Tây Dương dọc theo phía Tây quần đảo Anh.[7] Chiếc tàu ngầm đã không đánh chìm được mục tiêu nào trong chuyến tuần tra đầu tiên, và quay trở về cảng Wilhelmshaven vào ngày 15 tháng 9.[4]

Chuyến tuần tra thứ hai

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 rời Wilhelmshaven vào ngày 5 tháng 10, 1939 để hoạt động trong thành phần Bầy sói Hartmann dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng mới, Thiếu tá Hải quân Werner Hartmann. Trong chuyến tuần tra này nó đã đánh chìm tám tàu Đồng Minh, bao gồm bốn tàu Anh, hai tàu Hy Lạp, một tàu Pháp và một tàu Thụy Điển. Vào ngày 24 tháng 10, sau khi tấn công và đánh chìm chiếc Tafna, U-37 đã bị các tàu khu trục Anh HMS Keppel, HMS VidetteHMS Watchman xuất phát từ Gibraltar truy lùng và thả mìn sâu tấn công trong suốt mười giờ. Chiếc tàu ngầm sống sót qua đợt tấn công và chỉ bị hư hại khóa nòng một khẩu pháo. Đến ngày 3 tháng 11, nó bị hư hại nhẹ trong một cuộc không kích. Con tàu quay trở về cảng vào ngày 8 tháng 11.[8]

Chuyến tuần tra thứ ba

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 được điều sang Chi hạm đội Tàu ngầm 2 đặt căn cứ tại Wilhelmshaven từ ngày 1 tháng 1, 1940. Nó lên đường vào ngày 28 tháng 1 cho chuyến tuần tra thứ ba, và tiếp tục đánh chìm thêm tám tàu Đồng Minh, bao gồm ba tàu Anh, hai tàu Na Uy, một tàu Đan Mạch, một tàu Pháp và một tàu Hy Lạp. Chiếc tàu ngầm quay trở về Wilhelmshaven vào ngày 27 tháng 2.[9]

Chuyến tuần tra thứ tư

[sửa | sửa mã nguồn]
Thủy thủ đoàn U-37 rời tàu sau khi về đến căn cứ Wilhelmshaven, ngày 18 tháng 4, 1940
U-37 đang neo đậu tại Wilhelmshaven, ngày 18 tháng 4, 1940

Tiếp tục dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Hartmann, U-37 xuất phát từ Wilhelmshaven vào ngày 30 tháng 3 cho chuyến tuần tra thứ tư, và hoạt động tại vùng biển chung quanh Na Uy. Nó đánh chìm được ba tàu buôn: Tosca của Na Uy, Sveaborg của Thụy Điển và Stancliffe của Anh, trước khi quay trở về Wilhelmshaven vào ngày 18 tháng 4.[10]

Chuyến tuần tra thứ năm

[sửa | sửa mã nguồn]
Tàu buôn Argentine SS Uruguay, bị U-37 đánh chìm

Dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng mới, Đại úy Hải quân Victor Oehrn, U-37 xuất phát từ Wilhelmshaven vào ngày 15 tháng 5 cho chuyến tuần tra thứ năm để hoạt động ngoài khơi vùng biển Bồ Đào NhaTây Ban Nha. Nó có chuyến tuần tra thành công nhất trong suốt quãng đời hoạt động, khi đánh trúng 11 tàu buôn và đánh chìm được mười chiếc trong số đó: ba tàu Pháp, hai tàu Hy Lạp, hai tàu Anh, một tàu Thụy Điển, một tàu Phần Lan và một tàu Argentina. Tàu trung lập Argentina Uruguay, vốn đang vận chuyển ngô trên đường từ Rosario, Argentina đến Limerick, Ireland, đã bị U-37 chặn bắt và đánh chìm bằng thuốc nổ; chỉ có 13 người trong số 28 thành viên thủ thủ đoàn của Uruguay sống sót.[11] U-37 kết thúc chuyến tuần tra tại Wilhelmshaven vào ngày 9 tháng 6. [12]

Chuyến tuần tra thứ sáu

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 lại khởi hành từ Wilhelmshaven vào ngày 1 tháng 8 cho chuyến tuần tra thứ sáu, tiếp tục dưới quyền chỉ huy của Đại úy Oehrn. Trong chuyến tuần tra dọc bờ biển phía Tây của Ireland kéo dài hơn mười ngày này, nó chỉ đánh chìm một mục tiêu duy nhất là tàu buôn Anh Upwey Grange. Thay vì quay trở lại Wilhelmshaven, chiếc tàu ngầm đi đến cảng Lorient bên bờ biển Đại Tây Dương của Pháp vào ngày 12 tháng 8, nơi đặt căn cứ mới của Chi hạm đội Tàu ngầm 2.[13]

Chuyến tuần tra thứ bảy

[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên U-37 bắt đầu một chuyến tuần tra từ một địa điểm ngoài nước Đức, từ Lorient, vào ngày 17 tháng 8, và đã hoạt động tại vùng biển ngoài khơi bờ biển Tây Nam Ireland. Bảy tàu buôn đã bị đánh chìm trong chuyến tuần tra thứ bảy này; bao gồm năm chiếc của Anh, một của Na Uy và một của Hy Lạp. Sau hai tuần lễ hoạt động U-37 quay trở về Lorient vào ngày 30 tháng 8.[14]

Chuyến tuần tra thứ tám

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 9, U-37 lại xuất phát từ Lorient cho chuyến tuần tra thứ tám để hoạt động tại khu vực giữa Bắc Đại Tây Dương. Trong thời gian hoạt động kéo dài một tháng, U-37 đã đánh chìm sáu tàu buôn Đồng Minh, trong đó bốn chiếc di chuyển trong đội hình các đoàn tàu vận tải. Tàu buôn Anh Corrientes bị đánh chìm trong thành phần Đoàn tàu OB-217 lúc trên đường từ Liverpool sang Bắc Mỹ; Heminge trên hành trình tương tự trong thành phần Đoàn tàu OB-220; British General bị đánh chìm trong thành phần Đoàn tàu OA-222 lúc từ Anh sang Hoa Kỳ; và Stangrant bị đánh chìm khi đi từ Halifax sang Anh trong thành phần Đoàn tàu HX-77. U-37 quay trở về Lorient vào ngày 22 tháng 10.[15]

Chuyến tuần tra thứ chín

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau một tháng được nghỉ ngơi, bảo trì và tiếp liệu tại căn căn cứ, U-37 xuất phát vào ngày 28 tháng 11 dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng mới, Trung úy Hải quân Asmus Nicolai Clausen, để tuần tra ngoài khơi Tây Ban Nha và dọc bờ biển Tây Phi. U-37 đã đánh chìm bảy tàu Đồng Minh, bao gồm hai tàu Pháp, hai tàu Thụy Điển, hai tàu Anh và một tàu Tây Ban Nha. Các tàu buôn Thụy Điển GwaliaDaphne cùng tàu buôn Anh Jeanne M đã bị đánh chìm khi đi từ Anh đến Gibraltar trong thành phần Đoàn tàu OG-46; trong khi tàu chở dầu Rhône và tàu ngầm Sfax thuộc phe Vichy Pháp bị đánh chìm do bắn nhầm. U-37 quay trở về căn cứ Lorient vào ngày 14 tháng 1, 1941.[16]

Chuyến tuần tra thứ mười và mười một

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 lại xuất phát từ Lorient vào ngày 30 tháng 1, 1941 cho chuyến tuần tra thứ mười, và hoạt động dọc theo bờ biển Bồ Đào Nha. Nó bắt gặp Đoàn tàu HG-53 vào ngày 8 tháng 2, và sang ngày hôm sau đã đánh chìm các tàu buôn Anh CourlandEstrellano. Tàu buôn Anh Brandenburg bị chiếc tàu ngầm đánh chìm vào ngày 10 tháng 2. Chiếc U-boat quay trở về căn cứ Lorient vào ngày 18 tháng 2.[17]

Khởi hành từ Lorient lần cuối cùng vào ngày 27 tháng 2, chuyến tuần tra thứ mười một, cũng là chuyến cuối cùng được U-37 thực hiện tại vùng biển về phía Nam Iceland. Tại đây nó đã đánh chìm hai mục tiêu: tàu buôn Hy Lạp Mentor vào ngày 7 tháng 3 và tàu đánh cá Iceland Pétursey vào ngày 12 tháng 3. Sau đó chiếc tàu ngầm băng ngược lại khe GIUK và về đến cảng Kiel vào ngày 22 tháng 3.[18]

1942 - 1945

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chuyến tuần tra cuối cùng, đến ngày 1 tháng 5, 1941, U-37 được điều sang Chi hạm đội U-boat 26 đặt căn cứ tại Pillau (nay là Baltiysk thuộc tỉnh Kaliningrad, Liên bang Nga) để phục vụ huấn luyện.[1]Con tàu lại được điều sang Chi hạm đội U-boat 22 đặt căn cứ tại Gotenhafen (nay là Gdynia thuộc Ba Lan) từ ngày 1 tháng 4, 1942, và cuối cùng sang Chi hạm đội U-boat 4 từ ngày 1 tháng 7, 1944.[1]

Khi cuộc xung đột bước vào giai đoạn kết thúc, theo dự định của Chiến dịch Regenbogen, U-37 bị thủy thủ đoàn đánh đắm vào ngày 8 tháng 5, 1945 trong vịnh Sonderburg ngoài khơi Flensburg, tại tọa độ 54°55′B 09°47′Đ / 54,917°B 9,783°Đ / 54.917; 9.783, để tránh bị lọt vào tay lực lượng Đồng Minh.[1]

Tóm tắt chiến công

[sửa | sửa mã nguồn]

U-37 đã đánh chìm được tổng cộng 53 tàu buôn với tổng tải trọng 200.063 GRT và hai tàu chiến với tổng tải trọng 2.404 tấn, đồng thời gây hư hại cho một tàu buôn tải trọng 9.494 GRT. U-37 được xếp thứ sáu trong số những tàu ngầm U-boat thành công nhất trong Thế Chiến II:[5]

Ngày Tên tàu Quốc tịch Tải trọng[Ghi chú 1] Số phận[19]
8 tháng 10, 1939 Vistula  Thụy Điển 1.018 Bị đánh chìm
12 tháng 10, 1939 Aris  Hy Lạp 4.810 Bị đánh chìm
15 tháng 10, 1939 Vermont  Pháp 5.186 Bị đánh chìm
17 tháng 10, 1939 Yorkshire  Anh Quốc 10.183 Bị đánh chìm
24 tháng 10, 1939 Ledbury  United Kingdom 3.528 Bị đánh chìm
24 tháng 10, 1939 Menin Ridge  Anh Quốc 2.474 Bị đánh chìm
24 tháng 10, 1939 Tafna  United Kingdom 4.413 Bị đánh chìm
30 tháng 10, 1939 Thrasyvoulos  Hy Lạp 3.693 Bị đánh chìm
4 tháng 2, 1940 Hop  Na Uy 1.365 Bị đánh chìm
4 tháng 2, 1940 Leo Dawson  Anh Quốc 4.330 Bị đánh chìm
10 tháng 2, 1940 Silja  Na Uy 1.259 Bị đánh chìm
11 tháng 2, 1940 Togimo  Anh Quốc 290 Bị đánh chìm
15 tháng 2, 1940 Aase  Đan Mạch 1.206 Bị đánh chìm
17 tháng 2, 1940 Pyrrhus  Anh Quốc 7.418 Bị đánh chìm
18 tháng 2, 1940 Elin  Hy Lạp 4.917 Bị đánh chìm
18 tháng 2, 1940 P.L.M. 15  Pháp 3.754 Bị đánh chìm
10 tháng 4, 1940 Sveaborg  Thụy Điển 9.076 Bị đánh chìm
10 tháng 4, 1940 Tosca  Na Uy 5.128 Bị đánh chìm
12 tháng 4, 1940 Stancliffe  Anh Quốc 4.511 Bị đánh chìm
19 tháng 5, 1940 Erik Frisell  Thụy Điển 5.066 Bị đánh chìm
22 tháng 5, 1940 Dunster Grange  Anh Quốc 9.494 Bị hư hại
24 tháng 5, 1940 Kyma  Hy Lạp 3.994 Bị đánh chìm
27 tháng 5, 1940 Sheaf Mead  Anh Quốc 5.008 Bị đánh chìm
27 tháng 5, 1940 Uruguay  Argentina 3.425 Bị đánh chìm
28 tháng 5, 1940 Brazza  Pháp 10.387 Bị đánh chìm
28 tháng 5, 1940 Julien  Pháp 116 Bị đánh chìm
28 tháng 5, 1940 Maria Rosé]]  Pháp 2.477 Bị đánh chìm
29 tháng 5, 1940 Telena  Anh Quốc 7.406 Bị đánh chìm
1 tháng 6, 1940 Ioanna  Hy Lạp 950 Bị đánh chìm
3 tháng 6, 1940 Snabb  Phần Lan 2.317 Bị đánh chìm
8 tháng 8, 1940 Upwey Grange  Anh Quốc 9.130 Bị đánh chìm
22 tháng 8, 1940 Keret  Na Uy 1.718 Bị đánh chìm
23 tháng 8, 1940 Severn Leigh  Anh Quốc 5.242 Bị đánh chìm
24 tháng 8, 1940 Brookwood  Anh Quốc 5.100 Bị đánh chìm
24 tháng 8, 1940 HMS Penzance  Hải quân Hoàng gia Anh 1.025 Bị đánh chìm
25 tháng 8, 1940 Blairmore  Anh Quốc 4.141 Bị đánh chìm
25 tháng 8, 1940 Yewcrest  Anh Quốc 3.774 Bị đánh chìm
27 tháng 8, 1940 Theodoros T  Hy Lạp 3.409 Bị đánh chìm
27 tháng 9, 1940 Georges Mabro  Ai Cập 2.555 Bị đánh chìm
28 tháng 9, 1940 Corrientes  Anh Quốc 6.863 Bị đánh chìm
30 tháng 9, 1940 Heminge  Anh Quốc 2.499 Bị đánh chìm
30 tháng 9, 1940 Samala  Anh Quốc 5.390 Bị đánh chìm
6 tháng 10, 1940 British General  United Kingdom 6.989 Bị đánh chìm
13 tháng 10, 1940 Stangrant  United Kingdom 5.804 Bị đánh chìm
1 tháng 12, 1940 Palmella  United Kingdom 1.578 Bị đánh chìm
2 tháng 12, 1940 Gwalia  Sweden 1.258 Bị đánh chìm
2 tháng 12, 1940 Jeanne M.  United Kingdom 2.465 Bị đánh chìm
4 tháng 12, 1940 Daphne  Sweden 1.513 Bị đánh chìm
16 tháng 12, 1940 San Carlos  Spain 223 Bị đánh chìm
19 tháng 12, 1940 Rhône  Vichy France 2.785 Bị đánh chìm
19 tháng 12, 1940 Sfax (Q 182)  Pháp Vichy 1.379 Bị đánh chìm
9 tháng 2, 1941 Courland  Anh Quốc 1.325 Bị đánh chìm
9 tháng 2, 1941 Estrellano  Anh Quốc 1.983 Bị đánh chìm
10 tháng 2, 1941 Brandenburg  Anh Quốc 1.473 Bị đánh chìm
7 tháng 3, 1941 Mentor  Hy Lạp 3.050 Bị đánh chìm
12 tháng 3, 1941 Petursey  Iceland 91 Bị đánh chìm

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Tàu buôn theo tấn đăng ký toàn phần. Tàu quân sự theo trọng lượng choán nước.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c d e f g h i j Helgason, Guðmundur. "The Type IXA U-boat U-37". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  2. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p Helgason, Guðmundur. "Type IX". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  3. ^ a b c d e f g Gröner, Jung & Maass (1991), tr. 68.
  4. ^ a b Helgason, Guðmundur. "War Patrols by German U-boat U-37". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  5. ^ a b Helgason, Guðmundur. "The Most Successful U-boats". uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  6. ^ Williamson (2005), tr. 40.
  7. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (first patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  8. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (second patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  9. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (third patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  10. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (fourth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  11. ^ Helgason, Guðmundur. "Uruguay - Argentinian Steam merchant". Ships hit by U-boats – uboat.net. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2024.
  12. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (fifth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  13. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (sixth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  14. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (seventh patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  15. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (eighth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  16. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (ninth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  17. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (tenth patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  18. ^ Helgason, Guðmundur. "Patrol info for U-37 (eleventh patrol)". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  19. ^ Helgason, Guðmundur. "Ships hit by U-37". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.

Thư mục

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). German U-boat commanders of World War II : a biographical dictionary. Brooks, Geoffrey biên dịch. London, Annapolis, Maryland: Greenhill Books, Naval Institute Press. ISBN 1-55750-186-6.
  • Busch, Rainer; Röll, Hans-Joachim (1999). Deutsche U-Boot-Verluste von September 1939 bis Mai 1945 [German U-boat losses from September 1939 to May 1945]. Der U-Boot-Krieg (bằng tiếng Đức). Quyển IV. Hamburg, Berlin, Bonn: Mittler. ISBN 3-8132-0514-2.
  • Gröner, Erich; Jung, Dieter; Maass, Martin (1991). U-boats and Mine Warfare Vessels. German Warships 1815–1945. Quyển 2. Thomas, Keith; Magowan, Rachel biên dịch. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-593-4.
  • Kemp, Paul (1997). U-Boats Destroyed - German Submarine Losses in the World Wars. Arms & Armour. ISBN 1-85409-515-3.
  • Neistlé, Axel (2014). German U-Boat Losses during World War II: Details of Destruction (ấn bản thứ 2). Havertown: Frontline Books. ISBN 978-1848322103.
  • Sharpe, Peter (1998). U-Boat Fact File: Detailed Service Histories of the Submarines Operated by the Kriegsmarine 1935-1945. Leicester: Midland Publishing. ISBN 1-85780-072-9.
  • Williamson, Gordon (2005). Wolf Pack: The Story of the U-boat in World War II. Osprey. ISBN 1841768723.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Helgason, Guðmundur. "The Type IXA boat U-37". German U-boats of WWII - uboat.net. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.
  • Hofmann, Markus. "U 37". Deutsche U-Boote 1935-1945 - u-boot-archiv.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2024.