UEFA Champions League 2019-20

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
UEFA Champions League 2019-20
LuzLissabon.jpg
Sân vận động Ánh sángLisbon là nơi tổ chức trận chung kết
Chi tiết giải đấu
Thời gianVòng loại:
25 tháng 6 – 28 tháng 8 năm 2019
Vòng đấu chính:
17 tháng 9 năm 2019 – 23 tháng 8 năm 2020
Số độiVòng đấu chính: 32
Tổng cộng: 79 (từ 54 hiệp hội)
Vị trí chung cuộc
Vô địchĐức Bayern München (lần thứ 6)
Á quânPháp Paris Saint-Germain
Thống kê giải đấu
Số trận đấu119
Số bàn thắng386 (3,24 bàn/trận)
Số khán giả4.758.398 (39.987 khán giả/trận)
Vua phá lướiBa Lan Robert Lewandowski
(15 bàn)
Cầu thủ
xuất sắc nhất

UEFA Champions League 2019-20 là mùa giải thứ 65 của giải đấu bóng đá cấp câu lạc bộ hàng đầu của châu Âu được tổ chức bởi UEFA, và là mùa giải thứ 28 kể từ khi nó được đổi tên từ Cúp C1 châu Âu thành UEFA Champions League.

Bayern München đánh bại Paris Saint-Germain 1–0 trong trận chung kết, được diễn ra tại Sân vận động Ánh sángLisbon, Bồ Đào Nha và trở thành đội vô địch Cúp C1 châu Âu đầu tiên toàn thắng cả giải đấu. Thêm vào đó, họ cũng giành cú ăn ba lục địa thứ hai của họ, trở thành câu lạc bộ châu Âu thứ hai đạt được thành tích này, và trở thành đội bóng đầu tiên vô địch bất kỳ giải đấu châu Âu với thành tích thắng 100%. Với tư cách là đội vô địch, Bayern München giành quyền để thi đấu với Sevilla, đội vô địch của UEFA Europa League 2019-20 trong trận Siêu cúp châu Âu 2020, và cũng lọt vào FIFA Club World Cup 2020 ở Qatar. Vì họ đã lọt vào vòng bảng UEFA Champions League 2020-21 thông qua thành tích ở giải vô địch quốc gia của họ, suất dự ban đầu dành riêng cho đội đương kim vô địch Champions League được đưa cho đội đứng đầu của Eredivisie 2019-20 khi giải bị hủy bỏ do đại dịch COVID-19, Ajax, hiệp hội xếp hạng 11 theo danh sách tham dự của mùa sau.

Do tác động của đại dịch COVID-19, giải đấu bị hoãn vào giữa tháng 3 năm 2020 và trở lại vào tháng 8. Vòng tứ kết trở về sau được diễn ra theo thể thức đấu một trận loại trực tiếp tại các địa điểm trung lập ở Lisbon, Bồ Đào Nha (Sân vận động Ánh sáng và Sân vận động José Alvalade) mà không có khán giả từ ngày 12 đến ngày 23 tháng 8.[5]

Công nghệ video hỗ trợ trọng tài (VAR) được sử dụng ở giải đấu kể từ vòng play-off.[6]

Liverpool là đương kim vô địch, nhưng họ - cùng với đội lọt vào trận chung kết khác của mùa trước, Tottenham Hotspur - đã bị loại ở vòng 16 đội, sau khi thất bại lần lượt trước Atlético MadridRB Leipzig.

Phân bố đội của các hiệp hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng có 79 đội từ 54 trong số 55 hiệp hội thành viên UEFA tham dự UEFA Champions League 2019-20 (ngoại trừ Liechtenstein, do không tổ chức giải quốc nội). Thứ hạng hiệp hội dựa trên hệ số quốc gia UEFA được dùng để xác định số đội tham dự cho mỗi hiệp hội:[7]

  • Các hiệp hội từ 1-4 có 4 đội tham dự.
  • Các hiệp hội từ 5-6 có 3 đội tham dự.
  • Các hiệp hội từ 7-15 có 2 đội tham dự.
  • Các hiệp hội từ 16-55 (trừ Liechtenstein) có 1 đội tham dự.
  • Nhà vô địch UEFA Champions League 2018-19UEFA Europa League 2018-19 đều được nhận 1 suất bổ sung nếu họ không lọt vào UEFA Champions League 2019-20 thông qua giải quốc nội.

Xếp hạng hiệp hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với UEFA Champions League 2019-20, các hiệp hội được phân bố dựa trên hệ số quốc gia UEFA năm 2018, tính đến thành tích của họ tại các giải đấu ở châu Âu từ mùa giải 2013-14 đến 2017-18.[8]

Ngoài việc phân bố số lượng đội dựa trên hệ số quốc gia, các hiệp hội có thể có thêm đội tham dự Champions League, như được ghi chú dưới đây:

  • (UCL) – Suất bổ sung cho đội đương kim vô địch UEFA Champions League
  • (UEL) – Suất bổ sung cho đội đương kim vô địch UEFA Europa League
Xếp hạng hiệp hội cho UEFA Champions League 2019-20
XH Hiệp hội Hệ số Số đội Ghi chú
1  Tây Ban Nha 106.998 4
2  Anh 79.605
3  Ý 76.249
4  Đức 71.427
5  Pháp 56.415 3
6  Nga 53.382
7  Bồ Đào Nha 47.248 2
8  Ukraina 41.133
9  Bỉ 38.500
10  Thổ Nhĩ Kỳ 35.800
11  Áo 32.850
12  Thụy Sĩ 30.200
13  Cộng hòa Séc 30.175
14  Hà Lan 29.749
15  Hy Lạp 28.600
16  Croatia 26.000 1
17  Đan Mạch 25.950
18  Israel 21.750
19  Síp 21.550
XH Hiệp hội Hệ số Số đội Ghi chú
20  Romania 20.450 1
21  Ba Lan 20.125
22  Thụy Điển 19.975
23  Azerbaijan 19.125
24  Bulgaria 19.125
25  Serbia 18.750
26  Scotland 18.625
27  Belarus 18.625
28  Kazakhstan 18.125
29  Na Uy 17.425
30  Slovenia 14.500
31  Liechtenstein 13.000 0
32  Slovakia 12.125 1
33  Moldova 10.000
34  Albania 8.500
35  Iceland 8.250
36  Hungary 8.125
37  Bắc Macedonia 7.500
XH Hiệp hội Hệ số Số đội Ghi chú
38  Phần Lan 6.900 1
39  Cộng hòa Ireland 6.700
40  Bosnia và Herzegovina 6.625
41  Latvia 5.625
42  Estonia 5.500
43  Litva 5.375
44  Montenegro 5.000
45  Gruzia 5.000
46  Armenia 4.875
47  Malta 4.500
48  Luxembourg 4.375
49  Bắc Ireland 4.250
50  Wales 3.875
51  Quần đảo Faroe 3.750
52  Gibraltar 3.000
53  Andorra 1.331
54  San Marino 0.499
55  Kosovo 0.000

Phân phối[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách tham dự cho mùa giải này.[9]

Danh sách tham dự cho UEFA Champions League 2019-20
Các đội tham dự vòng đấu này Các đội đi tiếp từ vòng đấu trước
Vòng sơ loại
(4 đội)
  • 4 đội vô địch từ các hiệp hội xếp hạng 52–55
Vòng loại thứ nhất
(32 đội)
  • 31 đội vô địch từ các hiệp hội xếp hạng 20–51 (ngoại trừ Liechtenstein)
  • 1 đội thắng từ vòng sơ loại
Vòng loại thứ hai Nhóm các đội vô
địch giải quốc nội
(20 đội)
  • 4 đội vô địch từ các hiệp hội xếp hạng 16–19
  • 16 đội thắng từ vòng loại thứ nhất
Nhóm các đội không
vô địch giải quốc nội
(4 đội)
  • 4 đội á quân từ các hiệp hội xếp hạng 12–15
Vòng loại thứ ba Nhóm các đội vô
địch giải quốc nội
(12 đội)
  • 2 đội vô địch từ các hiệp hội xếp hạng 14–15
  • 10 đội thắng từ vòng loại thứ hai (Nhóm các đội vô địch giải quốc nội)
Nhóm các đội không
vô địch giải quốc nội
(8 đội)
  • 5 đội á quân từ các hiệp hội xếp hạng 7–11
  • 1 đội đứng thứ ba từ hiệp hội xếp hạng 6
  • 2 đội thắng từ vòng loại thứ hai (Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội)
Vòng play-off Nhóm các đội vô
địch giải quốc nội
(8 đội)
  • 2 đội vô địch từ các hiệp hội xếp hạng 12–13
  • 6 đội thắng từ vòng loại thứ ba (Nhóm các đội vô địch giải quốc nội)
Nhóm các đội không
vô địch giải quốc nội
(4 đội)
  • 4 đội thắng từ vòng loại thứ ba (Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội)
Vòng bảng
(32 đội)
  • 11 đội vô địch từ các hiệp hội xếp hạng 1–11
  • 6 đội á quân từ các hiệp hội xếp hạng 1–6
  • 5 đội đứng thứ ba từ các hiệp hội xếp hạng 1–5
  • 4 đội đứng thứ tư từ các hiệp hội xếp hạng 1–4
  • 4 đội thắng từ vòng play-off (Nhóm các đội vô địch giải quốc nội)
  • 2 đội thắng từ vòng play-off (Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội)
Vòng đấu loại trực tiếp
(16 đội)
  • 8 đội đứng thứ nhất từ vòng bảng
  • 8 đội đứng thứ nhì từ vòng bảng

Các đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí giải quốc nội của mùa giải trước được thể hiện trong dấu ngoặc đơn (TH: Đương kim vô địch Champions League; EL: Đương kim vô địch Europa League).[9]

Các đội tham dự UEFA Champions League 2019-20 (theo vòng đấu lọt vào)
Vòng bảng
Anh LiverpoolTH (2) Anh Tottenham Hotspur (4) Đức RB Leipzig (3) Bồ Đào Nha Benfica (1)
Anh ChelseaEL (3) Ý Juventus (1) Đức Bayer Leverkusen (4) Ukraina Shakhtar Donetsk (1)
Tây Ban Nha Barcelona (1) Ý Napoli (2) Pháp Paris Saint-Germain (1) Bỉ Genk (1)
Tây Ban Nha Atlético Madrid (2) Ý Atalanta (3) Pháp Lille (2) Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray (1)
Tây Ban Nha Real Madrid (3) Ý Inter Milan (4) Pháp Lyon (3) Áo Red Bull Salzburg (1)
Tây Ban Nha Valencia (4) Đức Bayern München (1) Nga Zenit Saint Petersburg (1)
Anh Manchester City (1) Đức Borussia Dortmund (2) Nga Lokomotiv Moscow (2)
Vòng play-off
Nhóm các đội vô địch giải quốc nội Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội
Thụy Sĩ Young Boys (1) Cộng hòa Séc Slavia Prague (1)
Vòng loại thứ ba
Nhóm các đội vô địch giải quốc nội Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội
Hà Lan Ajax (1) Hy Lạp PAOK (1) Nga Krasnodar (3) Bỉ Club Brugge (2)
Bồ Đào Nha Porto (2) Thổ Nhĩ Kỳ İstanbul Başakşehir (2)
Ukraina Dynamo Kyiv (2) Áo LASK (2)
Vòng loại thứ hai
Nhóm các đội vô địch giải quốc nội Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội
Croatia Dinamo Zagreb (1) Israel Maccabi Tel Aviv (1) Thụy Sĩ Basel (2) Hà Lan PSV Eindhoven (2)
Đan Mạch Copenhagen (1) Cộng hòa Síp APOEL (1) Cộng hòa Séc Viktoria Plzeň (2) Hy Lạp Olympiacos (2)
Vòng loại thứ nhất
România CFR Cluj (1) Kazakhstan Astana (1) Bắc Macedonia Shkëndija (1) Gruzia Saburtalo Tbilisi (1)
Ba Lan Piast Gliwice (1) Na Uy Rosenborg (1) Phần Lan HJK (1) Armenia Ararat-Armenia (1)
Thụy Điển AIK (1) Slovenia Maribor (1) Cộng hòa Ireland Dundalk (1) Malta Valletta (1)
Azerbaijan Qarabağ (1) Slovakia Slovan Bratislava (1) Bosna và Hercegovina Sarajevo (1) Luxembourg F91 Dudelange (1)
Bulgaria Ludogorets Razgrad (1) Moldova Sheriff Tiraspol (1) Latvia Riga FC (1) Bắc Ireland Linfield (1)
Serbia Red Star Belgrade (1) Albania Partizani (1) Estonia Nõmme Kalju (1) Wales The New Saints (1)
Scotland Celtic (1) Iceland Valur (1) Litva Sūduva (1) Quần đảo Faroe HB Tórshavn (1)
Belarus BATE Borisov (1) Hungary Ferencváros (1) Montenegro Sutjeska Nikšić (1)
Vòng sơ loại
Gibraltar Lincoln Red Imps (1) Andorra FC Santa Coloma (1) San Marino Tre Penne (1) Kosovo Feronikeli (1)

Lịch thi đấu và bốc thăm[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch thi đấu của giải đấu như sau (tất cả các lễ bốc thăm đều được tổ chức tại trụ sở UEFA ở Nyon, Thụy Sĩ, trừ khi có thông báo khác).[10]

Giải đấu đã bị hoãn vào ngày 17 tháng 3 năm 2020 do đại dịch COVID-19 ở châu Âu.[11] Một nhóm làm việc được thành lập để quyết định lịch của phần còn lại của mùa giải.[12] Vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, UEFA đã công bố lịch sửa đổi cho vòng tứ kết, bán kết và chung kết của giải đấu, sẽ được diễn ra theo thể thức một trận duy nhất.[13]

Lịch thi đấu cho UEFA Champions League 2019-20
Giai đoạn Vòng Ngày bốc thăm Lượt đi Lượt về
Vòng loại Vòng sơ loại 11 tháng 6 năm 2019 25 tháng 6 năm 2019 (bán kết) 28 tháng 6 năm 2019 (chung kết)
Vòng loại thứ nhất 18 tháng 6 năm 2019 9–10 tháng 7 năm 2019 16–17 tháng 7 năm 2019
Vòng loại thứ hai 19 tháng 6 năm 2019 23–24 tháng 7 năm 2019 30–31 tháng 7 năm 2019
Vòng loại thứ ba 22 tháng 7 năm 2019 6–7 tháng 8 năm 2019 13 tháng 8 năm 2019
Play-off Vòng play-off 5 tháng 8 năm 2019 20–21 tháng 8 năm 2019 27–28 tháng 8 năm 2019
Vòng bảng Lượt trận thứ nhất 29 tháng 8 năm 2019
(Monaco)
17–18 tháng 9 năm 2019
Lượt trận thứ hai 1–2 tháng 10 năm 2019
Lượt trận thứ ba 22–23 tháng 10 năm 2019
Lượt trận thứ tư 5–6 tháng 11 năm 2019
Lượt trận thứ năm 26–27 tháng 11 năm 2019
Lượt trận thứ sáu 10–11 tháng 12 năm 2019
Vòng đấu loại trực tiếp Vòng 16 đội 16 tháng 12 năm 2019 18–19 & 25–26 tháng 2 năm 2020 10–11 tháng 3 & 7–8 tháng 8 năm 2020[a]
Tứ kết 10 tháng 7 năm 2020[b] 12–15 tháng 8 năm 2020[c]
Bán kết 18–19 tháng 8 năm 2020[d]
Chung kết 23 tháng 8 năm 2020 tại Sân vận động Ánh sáng, Lisbon[e]
  1. ^ Các trận đấu của tuần thứ hai ban đầu dự kiến vào ngày 17–18 tháng 3 năm 2020
  2. ^ Lễ bốc thăm vòng tứ kết, vòng bán kết và chung kết ban đầu dự kiến vào ngày 20 tháng 3 năm 2020
  3. ^ Lượt đi vòng tứ kết ban đầu dự kiến vào ngày 7–8 tháng 4, và lượt về vào ngày 14–15 tháng 4 năm 2020
  4. ^ Lượt đi vòng tứ kết ban đầu dự kiến vào ngày 28–29 tháng 4, và lượt về vào ngày 5–6 tháng 5 năm 2020
  5. ^ Trận chung kết ban đầu dự kiến vào ngày 30 tháng 5 năm 2020

Tác động của đại dịch COVID-19[sửa | sửa mã nguồn]

Các cặp đấu vòng 16 đội được diễn ra trong thời gian 4 tuần, với lượt đi được diễn ra trong 2 tuần của tháng 2 và lượt về được diễn ra trong 2 tuần của tháng 3. Vì lý do này, các cặp đấu lượt đi không bị ảnh hưởng bởi đại dịch, nhưng các cặp đấu lượt về bị ảnh hưởng theo những cách khác nhau. Tất cả bốn trận đấu ở tuần đầu tiên được diễn ra nhưng do mức độ nghiêm trọng gia tăng của đại dịch COVID-19 ở Tây Ban NhaPháp, các trận đấu sân nhà của ValenciaPSG được diễn ra mà không có khán giả.[14][15] Vào ngày 15 tháng 3, UEFA thông báo tạm dừng giải đấu nghĩa là các trận đấu lượt về còn lại bị hoãn vô thời hạn.[11][16] Một nhóm làm việc được thành lập để xếp lịch lại phần còn lại của mùa giải.[12] Vào ngày 23 tháng 3, thông báo được đưa ra rằng Sân vận động Olympic AtatürkIstanbul, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không còn tổ chức trận chung kết giải đấu, ban đầu dự kiến vào ngày 30 tháng 5, nhưng thay vào đó sẽ tổ chức trận chung kết năm 2021.[17]

Vào ngày 17 tháng 6, thông báo được đưa ra rằng Champions League sẽ trở lại vào ngày 7 tháng 8 và kết thúc vào ngày 23 tháng 8,[5] với phần còn lại của giải đấu được tổ chức ở Bồ Đào Nha, ngoại trừ 4 trận đấu lượt về vòng 16 đội chưa diễn ra được tổ chức tại địa điểm ban đầu.[18] 8 đội cuối cùng của giải đấu sẽ thi đấu theo kiểu giải đấu mini với các trận đấu còn lại được diễn ra theo thể thức đấu một trận duy nhất.[5] Tất cả các cặp đấu còn lại của giải đấu được diễn ra mà không có khán giả do đại dịch COVID-19 ở châu Âu vẫn còn diễn ra.[19]

Địa điểm vòng chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Lisbon Lisbon
Sân vận động Ánh sáng
(Địa điểm trận chung kết)
Sân vận động José Alvalade
Sức chứa: 64.642 Sức chứa: 50.095
Estadio da Luz 2012.jpg Estádio Alvalade XXI - Lisboa - Portugal (439714401).jpg

Vòng sơ loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vòng sơ loại, các đội được chia ra làm nhóm hạt giống và nhóm không hạt giống dựa trên Hệ số câu lạc bộ UEFA năm 2019,[20] và được xếp cặp với nhau để thi đấu trận bán kết 1 lượt và trận chung kết. Đội thua ở các trận bán kết và chung kết tham dự vòng loại thứ hai UEFA Europa League 2019-20.

Lễ bốc thăm vòng sơ loại được tổ chức vào ngày 11 tháng 6 năm 2019, lúc 12:00 CEST, để xác định các cặp đấu ở bán kết và đội "chủ nhà" hành chính cho các trận bán kết và chung kết.[21] Các trận bán kết được diễn ra vào ngày 25 tháng 6, và trận chung kết được diễn ra vào ngày 28 tháng 6 năm 2019, tất cả đều được diễn ra tại Sân vận động Fadil VokrriPristina, Kosovo.

Đội 1  Tỉ số  Đội 2
Bán kết
Feronikeli Kosovo 1–0 Gibraltar Lincoln Red Imps
Tre Penne San Marino 0–1 Andorra FC Santa Coloma
Đội 1  Tỉ số  Đội 2
Chung kết
Feronikeli Kosovo 2–1 Andorra FC Santa Coloma

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vòng loại và vòng play-off, các đội được chia ra làm nhóm hạt giống và nhóm không hạt giống dựa trên Hệ số câu lạc bộ UEFA năm 2019,[20] và xếp cặp với nhau để thi đấu theo thể thức hai lượt đi và về.

Vòng loại thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Đội thua tham dự vòng loại thứ hai UEFA Europa League 2019-20, ngoại trừ một đội được bốc thăm để nhận suất vào thẳng vòng loại thứ ba UEFA Europa League 2019-20.

Lễ bốc thăm vòng loại thứ nhất được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 năm 2019, lúc 14:30 CEST.[22] Lượt đi được diễn ra vào ngày 9 và 10 tháng 7, và lượt về được diễn ra vào ngày 16 và 17 tháng 7 năm 2019.

Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nõmme Kalju Estonia 2–2 (a) Bắc Macedonia Shkëndija 0–1 2–1
Sūduva Litva 1–2 Serbia Red Star Belgrade 0–0 1–2
Ararat-Armenia Armenia 3–4 Thụy Điển AIK 2–1 1–3
Astana Kazakhstan 2–3 România CFR Cluj 1–0 1–3
Ferencváros Hungary 5–3[upper-alpha 1] Bulgaria Ludogorets Razgrad 2–1 3–2
Partizani Albania 0–2 Azerbaijan Qarabağ 0–0 0–2
Slovan Bratislava Slovakia 2–2 (2–3 p) Montenegro Sutjeska Nikšić 1–1 1–1 (h.p.)
Sarajevo Bosna và Hercegovina 2–5[upper-alpha 2][upper-alpha 3] Scotland Celtic 1–3 1–2
Sheriff Tiraspol Moldova 3–4 Gruzia Saburtalo Tbilisi 0–3 3–1
F91 Dudelange Luxembourg 3–3 (a) Malta Valletta 2–2 1–1
Linfield Bắc Ireland 0–6 Na Uy Rosenborg 0–2 0–4
Valur Iceland 0–5 Slovenia Maribor 0–3 0–2
Dundalk Cộng hòa Ireland 0–0 (5–4 p) Latvia Riga 0–0 0–0 (h.p.)
The New Saints Wales 3–2 Kosovo Feronikeli 2–2 1–0
HJK Phần Lan 5–2 Quần đảo Faroe HB Tórshavn 3–0 2–2
BATE Borisov Belarus 3–2 Ba Lan Piast Gliwice 1–1 2–1

Ghi chú

  1. ^ Sau khi có sai sót không làm đúng quy trình ở lần bốc thăm chính thức, UEFA tiến hành bốc thăm lại để xác định đội nhà cho mỗi lượt trong cặp đấu Ferencváros-Ludogorets Razgrad. Do đó, thứ tự lượt đấu được đảo ngược. Sai sót này không ảnh hưởng đến các cặp đấu khác.[23]
  2. ^ Thứ tự lượt đấu được đảo ngược sau lễ bốc thăm chính thức.
  3. ^ Đội thua được bốc thăm để nhận suất vào thẳng vòng loại thứ ba Europa League.

Vòng loại thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại thứ hai được tách ra làm hai nhóm riêng biệt: Nhóm các đội vô địch giải quốc nội (dành cho các đội vô địch giải vô địch quốc gia) và Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội (dành cho các đội không vô địch giải vô địch quốc gia). Đội thua từ cả hai nhóm tham dự vòng loại thứ ba UEFA Europa League 2019-20.

Lễ bốc thăm vòng loại thứ hai được tổ chức vào ngày 19 tháng 6 năm 2019, lúc 12:00 CEST.[24] Lượt đi được diễn ra vào ngày 23 và 24 tháng 7, và lượt về được diễn ra vào ngày 30 và 31 tháng 7 năm 2019.

Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nhóm các đội vô địch giải quốc nội
CFR Cluj România 3–2 Israel Maccabi Tel Aviv 1–0 2–2
BATE Borisov Belarus 2–3 Na Uy Rosenborg 2–1 0–2
The New Saints Wales 0–3 Đan Mạch Copenhagen 0–2 0–1
Ferencváros Hungary 4–2 Malta Valletta 3–1 1–1
Dundalk Cộng hòa Ireland 1–4 Azerbaijan Qarabağ 1–1 0–3
Saburtalo Tbilisi Gruzia 0–5 Croatia Dinamo Zagreb 0–2 0–3
Celtic Scotland 7–0 Estonia Nõmme Kalju 5–0 2–0
Red Star Belgrade Serbia 3–2 Phần Lan HJK 2–0 1–2
Sutjeska Nikšić Montenegro 0–4 Cộng hòa Síp APOEL 0–1 0–3
Maribor Slovenia 4–4 (a) Thụy Điển AIK 2–1 2–3 (h.p.)
Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội
Viktoria Plzeň Cộng hòa Séc 0–4 Hy Lạp Olympiacos 0–0 0–4
PSV Eindhoven Hà Lan 4–4 (a) Thụy Sĩ Basel 3–2 1–2

Vòng loại thứ ba[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại thứ ba được tách ra làm hai nhóm riêng biệt: Nhóm các đội vô địch giải quốc nội (dành cho các đội vô địch giải vô địch quốc gia) và Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội (dành cho các đội không vô địch giải vô địch quốc gia). Đội thua từ Nhóm các đội vô địch giải quốc nội tham dự vòng play-off UEFA Europa League 2019-20, trong khi đội thua từ Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội tham dự vòng bảng UEFA Europa League 2019-20.

Lễ bốc thăm vòng loại thứ ba được tổ chức vào ngày 22 tháng 7 năm 2019, lúc 12:00 CEST.[25] Lượt đi được diễn ra vào ngày 6 và 7 tháng 8, và lượt về được diễn ra vào ngày 13 tháng 8 năm 2019.

Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nhóm các đội vô địch giải quốc nội
CFR Cluj România 5–4 Scotland Celtic 1–1 4–3
APOEL Cộng hòa Síp 3–2 Azerbaijan Qarabağ 1–2 2–0
PAOK Hy Lạp 4–5 Hà Lan Ajax 2–2 2–3
Dinamo Zagreb Croatia 5–1 Hungary Ferencváros 1–1 4–0
Red Star Belgrade Serbia 2–2 (7–6 p) Đan Mạch Copenhagen 1–1 1–1 (h.p.)
Maribor Slovenia 2–6 Na Uy Rosenborg 1–3 1–3
Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội
İstanbul Başakşehir Thổ Nhĩ Kỳ 0–3 Hy Lạp Olympiacos 0–1 0–2
Krasnodar Nga 3–3 (a) Bồ Đào Nha Porto 0–1 3–2
Club Brugge Bỉ 4–3 Ukraina Dynamo Kyiv 1–0 3–3
Basel Thụy Sĩ 2–5 Áo LASK 1–2 1–3

Vòng play-off[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng play-off được tách ra làm hai nhóm riêng biệt: Nhóm các đội vô địch giải quốc nội (dành cho các đội vô địch giải vô địch quốc gia) và Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội (dành cho các đội không vô địch giải vô địch quốc gia). Đội thua từ cả hai nhóm tham dự vòng bảng UEFA Europa League 2019-20. Từ vòng đấu này, công nghệ video hỗ trợ trọng tài được sử dụng.

Lễ bốc thăm vòng play-off được tổ chức vào ngày 5 tháng 8 năm 2019, lúc 12:00 CEST.[26] Lượt đi được diễn ra vào ngày 20 và 21 tháng 8, và lượt về được diễn ra vào ngày 27 và 28 tháng 8 năm 2019.

Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nhóm các đội vô địch giải quốc nội
Dinamo Zagreb Croatia 3–1 Na Uy Rosenborg 2–0 1–1
CFR Cluj România 0–2 Cộng hòa Séc Slavia Prague 0–1 0–1
Young Boys Thụy Sĩ 3–3 (a) Serbia Red Star Belgrade 2–2 1–1
APOEL Cộng hòa Síp 0–2 Hà Lan Ajax 0–0 0–2
Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Nhóm các đội không vô địch giải quốc nội
LASK Áo 1–3 Bỉ Club Brugge 0–1 1–2
Olympiacos Hy Lạp 6–1 Nga Krasnodar 4–0 2–1

Vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Địa điểm của các đội bóng tham dự vòng bảng UEFA Champions League 2019-20.
Brown pog.svg Nâu: Bảng A; Red pog.svg Đỏ: Bảng B; Orange pog.svg Cam: Bảng C; Yellow pog.svg Vàng: Bảng D;
Green pog.svg Xanh lục: Bảng E; Blue pog.svg Xanh lam: Bảng F; Purple pog.svg Tím: Bảng G; Pink pog.svg Hồng: Bảng H.

Lễ bốc thăm vòng bảng được tổ chức vào ngày 29 tháng 8 năm 2019, lúc 18:00 CEST, tại Grimaldi Forum ở Monaco.[27] 32 đội được phân thành tám bảng 4 đội, với hạn chế các đội từ cùng hiệp hội không nằm cùng bảng với nhau. Đối với lễ bốc thăm, các đội được xếp vào bốn nhóm hạt giống dựa trên những nguyên tắc sau đây:[28][29]

  • Nhóm 1 bao gồm đội đương kim vô địch Champions League và Europa League, và các đội vô địch giải quốc gia của 6 hiệp hội hàng đầu dựa trên hệ số quốc gia UEFA năm 2018.
  • Nhóm 2, 3 và 4 bao gồm các đội còn lại, được phân nhóm dựa trên hệ số câu lạc bộ UEFA năm 2019 của họ.[20]

Ở mỗi bảng, các đội đối đầu với nhau theo thể thức vòng tròn 2 lượt đi và về. Hai đội đầu bảng đi tiếp vào vòng 16 đội, trong khi đội đứng thứ ba tham dự vòng 32 đội UEFA Europa League 2019-20. Các lượt trận được diễn ra vào các ngày 17–18 tháng 9, 1–2 tháng 10, 22–23 tháng 10, 5–6 tháng 11, 26–27 tháng 11, và 10–11 tháng 12 năm 2019.

Tổng cộng có 16 hiệp hội quốc gia có đại diện ở vòng bảng. Atalanta lần đầu tiên tham dự vòng bảng.

Bảng A[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự PAR RM BRU GAL
1 Pháp Paris Saint-Germain 6 5 1 0 17 2 +15 16 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 3–0 1–0 5–0
2 Tây Ban Nha Real Madrid 6 3 2 1 14 8 +6 11 2–2 2–2 6–0
3 Bỉ Club Brugge 6 0 3 3 4 12 −8 3 Chuyển qua Europa League 0–5 1–3 0–0
4 Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray 6 0 2 4 1 14 −13 2 0–1 0–1 1–1
Nguồn: UEFA

Bảng B[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự BAY TOT OLY RSB
1 Đức Bayern Munich 6 6 0 0 24 5 +19 18 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 3–1 2–0 3–0
2 Anh Tottenham Hotspur 6 3 1 2 18 14 +4 10 2–7 4–2 5–0
3 Hy Lạp Olympiacos 6 1 1 4 8 14 −6 4 Chuyển qua Europa League 2–3 2–2 1–0
4 Serbia Red Star Belgrade 6 1 0 5 3 20 −17 3 0–6 0–4 3–1
Nguồn: UEFA

Bảng C[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự MC ATA SHK DZG
1 Anh Manchester City 6 4 2 0 16 4 +12 14 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 5–1 1–1 2–0
2 Ý Atalanta 6 2 1 3 8 12 −4 7 1–1 1–2 2–0
3 Ukraina Shakhtar Donetsk 6 1 3 2 8 13 −5 6 Chuyển qua Europa League 0–3 0–3 2–2
4 Croatia Dinamo Zagreb 6 1 2 3 10 13 −3 5 1–4 4–0 3–3
Nguồn: UEFA

Bảng D[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự JUV ATL LEV LOM
1 Ý Juventus 6 5 1 0 12 4 +8 16 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 1–0 3–0 2–1
2 Tây Ban Nha Atlético Madrid 6 3 1 2 8 5 +3 10 2–2 1–0 2–0
3 Đức Bayer Leverkusen 6 2 0 4 5 9 −4 6 Chuyển qua Europa League 0–2 2–1 1–2
4 Nga Lokomotiv Moscow 6 1 0 5 4 11 −7 3 1–2 0–2 0–2
Nguồn: UEFA

Bảng E[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự LIV NAP SAL GNK
1 Anh Liverpool 6 4 1 1 13 8 +5 13 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 1–1 4–3 2–1
2 Ý Napoli 6 3 3 0 11 4 +7 12 2–0 1–1 4–0
3 Áo Red Bull Salzburg 6 2 1 3 16 13 +3 7 Chuyển qua Europa League 0–2 2–3 6–2
4 Bỉ Genk 6 0 1 5 5 20 −15 1 1–4 0–0 1–4
Nguồn: UEFA

Bảng F[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự BAR DOR INT SLP
1 Tây Ban Nha Barcelona 6 4 2 0 9 4 +5 14 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 3–1 2–1 0–0
2 Đức Borussia Dortmund 6 3 1 2 8 8 0 10 0–0 3–2 2–1
3 Ý Inter Milan 6 2 1 3 10 9 +1 7 Chuyển qua Europa League 1–2 2–0 1–1
4 Cộng hòa Séc Slavia Prague 6 0 2 4 4 10 −6 2 1–2 0–2 1–3
Nguồn: UEFA

Bảng G[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự RBL LYO BEN ZEN
1 Đức RB Leipzig 6 3 2 1 10 8 +2 11 Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 0–2 2–2 2–1
2 Pháp Lyon 6 2 2 2 9 8 +1 8 2–2 3–1 1–1
3 Bồ Đào Nha Benfica 6 2 1 3 10 11 −1 7[a] Chuyển qua Europa League 1–2 2–1 3–0
4 Nga Zenit Saint Petersburg 6 2 1 3 7 9 −2 7[a] 0–2 2–0 3–1
Nguồn: UEFA
Ghi chú:
  1. ^ a ă Bằng điểm đối đầu (3). Hiệu số bàn thắng bại đối đầu: Benfica +1, Zenit Saint Petersburg −1.

Bảng H[sửa | sửa mã nguồn]

VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự VAL CHL AJX LIL
1 Tây Ban Nha Valencia 6 3 2 1 9 7 +2 11[a] Đi tiếp vào vòng đấu loại trực tiếp 2–2 0–3 4–1
2 Anh Chelsea 6 3 2 1 11 9 +2 11[a] 0–1 4–4 2–1
3 Hà Lan Ajax 6 3 1 2 12 6 +6 10 Chuyển qua Europa League 0–1 0–1 3–0
4 Pháp Lille 6 0 1 5 4 14 −10 1 1–1 1–2 0–2
Nguồn: UEFA
Ghi chú:
  1. ^ a ă Điểm đối đầu: Valencia 4, Chelsea 1.

Vòng đấu loại trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở vòng đấu loại trực tiếp, các đội đối đầu với nhau theo thể thức hai lượt đi và về trên sân nhà và sân khách, ngoại trừ trận chung kết đấu một trận.

Cơ chế bốc thăm cho mỗi vòng như sau:

  • Ở lễ bốc thăm cho vòng 16 đội, 8 đội nhất bảng được xếp vào nhóm hạt giống, và 8 đội nhì bảng được xếp vào nhóm không hạt giống. Các đội hạt giống được xếp cặp để đối đầu với các đội không hạt giống, với các đội hạt giống làm đội chủ nhà cho trận lượt về. Các đội đến từ cùng bảng hoặc cùng hiệp hội không được xếp cặp để đối đầu với nhau.
  • Ở lễ bốc thăm cho vòng tứ kết và vòng bán kết, không có đội hạt giống, và các đội đến từ cùng bảng hoặc cùng hiệp hội có thể được xếp cặp để đối đầu với nhau. Vì bốc thăm vòng tứ kết và vòng bán kết được tổ chức cùng nhau trước khi vòng tứ kết được diễn ra, danh tính của đội thắng vòng tứ kết không được biết tại thời điểm bốc thăm vòng bán kết. Một lượt bốc thăm cũng được diễn ra để xác định đội thắng vòng bán kết nào được chỉ định là đội "chủ nhà" cho trận chung kết (vì mục đích hành chính khi nó được diễn ra tại sân trung lập).

Đối với vòng tứ kết và vòng bán kết, các đội đến từ cùng thành phố không được xếp lịch để thi đấu tại sân nhà vào cùng ngày hoặc vào các ngày liên tiếp, vì lý do hậu cần và kiểm soát đám đông.[30] Để tránh trường hợp mâu thuẫn lịch thi đấu, nếu hai đội được xếp cặp để chơi tại sân nhà cho cùng lượt trận, thứ tự lượt trận của cặp đấu có bao gồm đội với thứ hạng giải quốc nội thấp hơn ở mùa giải vòng loại được đảo ngược từ lần bốc thăm ban đầu.[31]

Vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, UEFA thông báo rằng do đại dịch COVID-19 ở châu Âu, giai đoạn cuối của giải đấu có sự thay đổi về thể thức. Vòng tứ kết, bán kết và chung kết được diễn ra theo thể thức đấu một trận duy nhất từ ngày 12 đến ngày 23 tháng 8 năm 2020 tại Sân vận động Ánh sángSân vận động José AlvaladeLisbon, Bồ Đào Nha. Các trận đấu được diễn ra mà không có khán giả, mặc dù khán giả có thể được phép tuỳ theo việc xem xét lại tình hình và các quyết định của chính quyền quốc gia và địa phương.

Sau khi giải đấu trở lại vào tháng 8 năm 2020, mỗi đội được phép thay tối đa 5 cầu thủ, với cầu thủ thứ sáu được phép ở hiệp phụ. Tuy nhiên, mỗi đội chỉ có 3 cơ hội để thực hiện quyền thay người, với cơ hội thứ tư được áp dụng ở hiệp phụ, ngoại trừ quyền thay người được thực hiện ở thời gian nghỉ giữa giờ, trước khi bắt đầu hiệp phụ và quãng nghỉ giữa hai hiệp phụ. Điều này được thông qua sau đề xuất từ FIFA và được IFAB chấp thuận để giảm bớt tác động của lịch thi đấu dày đặc.[32]

Nhánh đấu[sửa | sửa mã nguồn]

 
Vòng 16 độiTứ kếtBán kếtChung kết
 
                      
 
 
 
 
Anh Tottenham Hotspur000
 
 
 
Đức RB Leipzig134
 
Đức RB Leipzig2
 
 
 
Tây Ban Nha Atlético Madrid1
 
Tây Ban Nha Atlético Madrid (h.p.)134
 
 
 
Anh Liverpool022
 
Đức RB Leipzig0
 
 
 
Pháp Paris Saint-Germain3
 
Ý Atalanta448
 
 
 
Tây Ban Nha Valencia134
 
Ý Atalanta1
 
 
 
Pháp Paris Saint-Germain2
 
Đức Borussia Dortmund202
 
23 tháng 8 – Lisbon (Luz)
 
Pháp Paris Saint-Germain123
 
Pháp Paris Saint-Germain0
 
 
 
Đức Bayern Munich1
 
Tây Ban Nha Real Madrid112
 
 
 
Anh Manchester City224
 
Anh Manchester City1
 
 
 
Pháp Lyon3
 
Pháp Lyon (a)112
 
 
 
Ý Juventus022
 
Pháp Lyon0
 
 
 
Đức Bayern Munich3
 
Ý Napoli112
 
 
 
Tây Ban Nha Barcelona134
 
Tây Ban Nha Barcelona2
 
 
 
Đức Bayern Munich8
 
Anh Chelsea011
 
 
Đức Bayern Munich347
 

Vòng 16 đội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm cho vòng 16 đội được tổ chức vào ngày 16 tháng 12 năm 2019, lúc 12:00 CET.[33] Lượt đi được diễn ra vào ngày 18, 19, 25 và 26 tháng 2, cùng với các trận đấu đầu tiên của lượt về được diễn ra vào ngày 10 và 11 tháng 3 năm 2020. Do những lo ngại về đại dịch COVID-19, các trận đấu còn lại của lượt về đã bị hoãn bởi UEFA vào ngày 13 tháng 3 năm 2020.[16] Vào ngày 17 tháng 6 năm 2020, UEFA thông báo rằng lượt về được diễn ra vào ngày 7–8 tháng 8 năm 2020, với địa điểm được quyết định có thể là sân vận động của đội nhà hoặc một sân vận động trung lập ở Bồ Đào Nha (tại Sân vận động DragãoPortoSân vận động D. Afonso HenriquesGuimarães).[34] Tuy nhiên, vào ngày 9 tháng 7 năm 2020, UEFA thông báo rằng các trận đấu lượt về còn lại được diễn ra tại tại các địa điểm dự kiến ​​ban đầu.[35]

Đội 1 TTS Đội 2 Lượt đi Lượt về
Borussia Dortmund Đức 2–3 Pháp Paris Saint-Germain 2–1 0–2
Real Madrid Tây Ban Nha 2–4 Anh Manchester City 1–2 1–2
Atalanta Ý 8–4 Tây Ban Nha Valencia 4–1 4–3
Atlético Madrid Tây Ban Nha 4–2 Anh Liverpool 1–0 3–2 (h.p.)
Chelsea Anh 1–7 Đức Bayern Munich 0–3 1–4
Lyon Pháp 2–2 (a) Ý Juventus 1–0 1–2
Tottenham Hotspur Anh 0–4 Đức RB Leipzig 0–1 0–3
Napoli Ý 2–4 Tây Ban Nha Barcelona 1–1 1–3

Tứ kết[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm cho vòng tứ kết được tổ chức vào ngày 10 tháng 7 năm 2020.[16][36] Các trận đấu được diễn ra từ ngày 12 đến 15 tháng 8 năm 2020.

Đội 1  Tỉ số  Đội 2
Manchester City Anh 1–3 Pháp Lyon
RB Leipzig Đức 2–1 Tây Ban Nha Atlético Madrid
Barcelona Tây Ban Nha 2–8 Đức Bayern Munich
Atalanta Ý 1–2 Pháp Paris Saint-Germain

Bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm cho vòng bán kết được tổ chức vào ngày 10 tháng 7 năm 2020 (sau khi bốc thăm vòng tứ kết). Các trận đấu được diễn ra vào ngày 18 và 19 tháng 8 năm 2020.

Đội 1  Tỉ số  Đội 2
Lyon Pháp 0–3 Đức Bayern Munich
RB Leipzig Đức 0–3 Pháp Paris Saint-Germain

Chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chung kết được diễn ra tại Sân vận động Ánh sángLisbon. Đội "chủ nhà" (vì mục đích hành chính) được xác định bằng một lượt bốc thăm bổ sung được tổ chức sau khi bốc thăm vòng tứ kết và vòng bán kết.[36]

Paris Saint-Germain Pháp 0–1 Đức Bayern Munich
Chi tiết

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê ở vòng loại và vòng play-off không được tính đến.

Các cầu thủ ghi bàn hàng đầu[sửa | sửa mã nguồn]

XH Cầu thủ Đội Số bàn
thắng
Số phút
đã chơi
1 Ba Lan Robert Lewandowski Đức Bayern München 15 887
2 Na Uy Erling Haaland Áo Red Bull Salzburg
Đức Borussia Dortmund
10 554
3 Đức Serge Gnabry Đức Bayern München 9 767
4 Anh Harry Kane Anh Tottenham Hotspur 6 450
Bỉ Dries Mertens Ý Napoli 586
Brasil Gabriel Jesus Anh Manchester City 590
Hà Lan Memphis Depay Pháp Lyon 594
Anh Raheem Sterling Anh Manchester City 599
9 Hàn Quốc Son Heung-min Anh Tottenham Hotspur 5 365
Argentina Mauro Icardi Pháp Paris Saint-Germain 480
Slovenia Josip Iličić Ý Atalanta 516
Argentina Lautaro Martínez Ý Inter Milan 521
Uruguay Luis Suárez Tây Ban Nha Barcelona 567
Pháp Karim Benzema Tây Ban Nha Real Madrid 643
Pháp Kylian Mbappé Pháp Paris Saint-Germain 652

Nguồn:[38]

Các cầu thủ kiến tạo hàng đầu[sửa | sửa mã nguồn]

XH Cầu thủ Đội Số pha
kiến tạo
Số phút
đã chơi
1 Argentina Ángel Di María Pháp Paris Saint-Germain 6 750
Ba Lan Robert Lewandowski Đức Bayern München 887
3 Maroc Hakim Ziyech Hà Lan Ajax 5 499
Pháp Kylian Mbappé Pháp Paris Saint-Germain 652
Pháp Houssem Aouar Pháp Lyon 715
6 Pháp Corentin Tolisso Đức Bayern München 4 341
Algérie Riyad Mahrez Anh Manchester City 572
Brasil Neymar Pháp Paris Saint-Germain 585
Brasil Roberto Firmino Anh Liverpool 629
Canada Alphonso Davies Đức Bayern München 713

Nguồn:[39]

Đội hình tiêu biểu của mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm nghiên cứu chiến thuật của UEFA lựa chọn 23 cầu thủ sau đây vào đội hình tiêu biểu của giải đấu.[40]

VT Cầu thủ Đội
TM Đức Manuel Neuer Đức Bayern München
Slovenia Jan Oblak Tây Ban Nha Atlético Madrid
Bồ Đào Nha Anthony Lopes Pháp Lyon
HV Canada Alphonso Davies Đức Bayern München
Đức Joshua Kimmich Đức Bayern München
Hà Lan Virgil van Dijk Anh Liverpool
Pháp Dayot Upamecano Đức RB Leipzig
Tây Ban Nha Angeliño Đức RB Leipzig
Áo David Alaba Đức Bayern München
TV Tây Ban Nha Thiago Đức Bayern München
Bỉ Kevin De Bruyne Anh Manchester City
Pháp Houssem Aouar Pháp Lyon
Đức Leon Goretzka Đức Bayern München
Áo Marcel Sabitzer Đức RB Leipzig
Brasil Marquinhos Pháp Paris Saint-Germain
Argentina Alejandro Gómez Ý Atalanta
Đức Thomas Müller Đức Bayern München
Đức Serge Gnabry Đức Bayern München
Ba Lan Robert Lewandowski Đức Bayern München
Pháp Kylian Mbappé Pháp Paris Saint-Germain
Brasil Neymar Pháp Paris Saint-Germain
Argentina Lionel Messi Tây Ban Nha Barcelona
Anh Raheem Sterling Anh Manchester City

Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Các lá phiếu được bầu chọn cho các cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải bởi các huấn luyện viên của 32 đội ở vòng bảng, cùng với 55 nhà báo do nhóm European Sports Media (ESM) lựa chọn, đại diện cho mỗi hiệp hội thành viên của UEFA. Các huấn luyện viên không được phép bầu chọn cầu thủ từ chính đội của họ. Các thành viên ban giám khảo đã chọn ba cầu thủ hàng đầu của họ, với người đầu tiên nhận được 5 điểm, người thứ hai là 3 điểm và người thứ ba là 1 điểm. Danh sách rút gọn ba cầu thủ hàng đầu được công bố vào ngày 16 tháng 9 năm 2020.[41] Những cầu thủ giành giải thưởng đã được công bố và trao tặng trong lễ bốc thăm vòng bảng UEFA Champions League 2020-21 ở Thụy Sĩ vào ngày 1 tháng 10 năm 2020.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Các trận đấu còn lại của giải đấu, được tổ chức vào tháng 8 năm 2020, được diễn ra mà không có khán giả do đại dịch COVID-19 ở châu Âu.[19]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Manuel Neuer: Champions League Goalkeeper of the Season”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020. 
  2. ^ a ă “Joshua Kimmich: Champions League Defender of the Season”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020. 
  3. ^ a ă “Kevin De Bruyne: Champions League Midfielder of the Season”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020. 
  4. ^ a ă “Robert Lewandowski: Champions League Forward of the Season”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 1 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020. 
  5. ^ a ă â “Champions League to resume on 7 August”. UEFA.com. 17 tháng 6 năm 2020. 
  6. ^ “VAR to be introduced in 2019/20 UEFA Champions League”. UEFA.com (Union of European Football Associations). Ngày 27 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2018. 
  7. ^ a ă “Regulations of the UEFA Champions League 2019/20” (PDF). UEFA.com. 
  8. ^ “Country coefficients 2017/18”. UEFA.com. Union of European Football Associations. Ngày 4 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  9. ^ a ă “Champions League and Europa League changes next season”. UEFA.com (Union of European Football Associations). Ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018. 
  10. ^ “2019/20 Champions League match and draw calendar”. UEFA.com. Ngày 14 tháng 1 năm 2019. 
  11. ^ a ă “UEFA postpones EURO 2020 by 12 months”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 17 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2020.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  12. ^ a ă “Resolution of the European football family on a coordinated response to the impact of the COVID-19 on competitions”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 17 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2020. 
  13. ^ https://www.uefa.com/uefachampionsleague/news/025e-0f9a3f8c5c4d-3323c8a96a4d-1000--when-will-the-champions-league-resume/
  14. ^ https://www.espn.com/soccer/uefa-champions-league/story/4070952/coronavirus-psg-dortmund-champions-league-clash-to-be-played-behind-closed-doors?platform=amp
  15. ^ https://www.espn.co.uk/football/uefa-champions-league/story/4066185/coronavirus-valencia-vs-atalanta-champions-league-clash-behind-closed-doors?platform=amp
  16. ^ a ă â “All of this week's UEFA matches postponed”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 15 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020. 
  17. ^ “UEFA Club Finals postponed”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 23 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2020. 
  18. ^ https://amp.dw.com/en/champions-league-final-to-be-held-in-lisbon-cologne-gets-europa-league/a-53846514
  19. ^ a ă “Venues for Round of 16 matches confirmed”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 9 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2020. 
  20. ^ a ă â “Club coefficients”. UEFA.com. Union of European Football Associations. Ngày 10 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2018. 
  21. ^ “UEFA Champions League preliminary round draw: Tuesday 11 June”. UEFA.com. 6 tháng 6 năm 2019. 
  22. ^ “UEFA Champions League first qualifying round draw”. UEFA.com. 
  23. ^ “UEFA-botrány: Üres teremben sorsolták újra a Fradi-Ludogorecet” (bằng tiếng Hungarian). origo.hu. 
  24. ^ “UEFA Champions League second qualifying round draw”. UEFA.com. 
  25. ^ “UEFA Champions League third qualifying round draw”. UEFA.com. 
  26. ^ “UEFA Champions League play-off round draw”. UEFA.com. 
  27. ^ “UEFA Champions League group stage draw”. UEFA.com. 
  28. ^ “Champions League: Domestic title winners to receive top-seed status”. BBC Sport. Ngày 9 tháng 10 năm 2014. 
  29. ^ “Champions' bonus for group stage draw”. UEFA.com. Ngày 24 tháng 4 năm 2015. 
  30. ^ “Why Manchester United's UEFA Champions League home leg vs Barcelona has been reversed”. Manchester Evening News. Ngày 15 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2019. 
  31. ^ “Champions League quarter-final and semi-final draws: all you need to know”. UEFA. Ngày 13 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2019. 
  32. ^ “Five substitutes option temporarily allowed for competition organisers”. International Football Association Board. 8 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2020. 
  33. ^ “UEFA Champions League round of 16 draw”. UEFA.com. 
  34. ^ “UEFA competitions to resume in August”. UEFA. 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2020. 
  35. ^ “Champions League round of 16 venues confirmed”. UEFA.com (Union of European Football Associations). 9 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2020. 
  36. ^ a ă “UEFA Champions League quarter-final, semi-final and final draws”. UEFA.com. 
  37. ^ “Full Time Report Final – Paris Saint-Germain v Bayern Munich” (PDF). UEFA.com. Union of European Football Associations. 23 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020. 
  38. ^ “UEFA Champions League – Top Scorers”. UEFA.com. Union of European Football Associations. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020. 
  39. ^ “UEFA Champions League – Top Assists”. UEFA.com. Union of European Football Associations. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020. 
  40. ^ “UEFA Champions League Squad of the Season”. UEFA.com. 28 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2020. 
  41. ^ “Champions League positional awards nominees announced”. UEFA.com. Union of European Football Associations. 16 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2020. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]