USS Bancroft (DD-598)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bancroft (DD-598)
Đặt tên theo: George Bancroft
Hãng đóng tàu: Fore River Shipyard, Bethlehem Steel Company, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 1 tháng 5 năm 1941
Hạ thủy: 31 tháng 12 năm 1941
Đỡ đầu bởi: bà Hester Bancroft Berry
Nhập biên chế: 30 tháng 4 năm 1942
Xuất biên chế: 1 tháng 2 năm 1946
Danh hiệu và
phong tặng:
8 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1973
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Benson
Trọng tải choán nước: 1.620 tấn Anh (1.650 t) (tiêu chuẩn)
2.515 tấn Anh (2.555 t) (đầy tải)
Độ dài: 341 ft (103,9 m) (mực nước)
348 ft 2 in (106,12 m) (chung)
Sườn ngang: 36 ft 1 in (11,00 m)
Mớn nước: 11 ft 9 in (3,58 m) (tiêu chuẩn)
17 ft 9 in (5,41 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số General Electric SR;
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox;
2 × trục;
công suất 50.000 shp (37.000 kW)
Tốc độ: 37,5 hải lý một giờ (69,5 km/h)
33 hải lý một giờ (61,1 km/h) khi đầy tải
Tầm xa: 6.000 nmi (11.110 km) ở tốc độ 15 kn (28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
276
Vũ trang: 5 × pháo 5 in (130 mm) đa dụng;
6 × súng máy 0,5 in (13 mm);
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm);
2 × đường ray thả mìn sâu

USS Bancroft (DD-598) là một tàu khu trục thuộc lớp Benson của Hải quân Hoa Kỳ đã phục vụ trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Bộ trưởng Hải quân George Bancroft (1800-1891).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bancroft được đặt lườn tại xưởng tàu Fore River Shipyard của hãng Bethlehem Steel CompanyQuincy, Massachusetts vào ngày 1 tháng 5 năm 1941. Nó được hạ thủy vào ngày 31 tháng 12 năm 1941; được đỡ đầu bởi bà Hester Bancroft Berry, chắt của Bộ trưởng Bancroft, và được cho nhập biên chế vào ngày 30 tháng 4 năm 1942 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân J. L. Melgaard.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diện để hoạt động cùng Hạm đội Thái Bình Dương, Bancroft đi đến Dutch Harbor, Alaska vào ngày 17 tháng 9 năm 1942, và tiếp tục ở lại khu vực quần đảo Aleut cho đến cuối tháng 8 năm 1943, hỗ trợ cho việc chiếm đóng đảo Amchitka vào ngày 12 tháng 1; Attu từ ngày 11 tháng 5 đến ngày 2 tháng 6; và Kiska vào ngày 15 tháng 8.

Từ tháng 9 năm 1943 đến tháng 7 năm 1945, Bancroft hoạt động như một tàu hỗ trợ hỏa lực, hộ tống vận tải và tàu tuần tra trong các chiến dịch tấn công lên đảo Wake vào các ngày 56 tháng 10 năm 1943; Tarawa thuộc quần đảo Gilbert ngày 18 tháng 9 và từ 20 tháng 11 đến 6 tháng 12; Kwajalein thuộc quần đảo Marshall từ ngày 31 tháng 1 đến ngày 16 tháng 2 năm 1944; đảo san hô Mille, Marshall vào các ngày 17-18 tháng 3; Palau và Woleai từ ngày 29 tháng 3 đến ngày 2 tháng 4; Hollandia từ ngày 21 đến ngày 24 tháng 4; Truk-Satawan-Ponape vào các ngày 28-30 tháng 4; đảo san hô Wotje, Marshall ngày 23 tháng 5; Saipan từ ngày 25 tháng 6 đến ngày 22 tháng 7; đảo san hô Maloelap, Marshall ngày 8 tháng 8; quần đảo Philippine từ ngày 8 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1945; và Borneo từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 5 tháng 7.

Từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1945, Bancroft hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa quần đảo Philippine, OkinawaNhật Bản. Đến ngày 9 tháng 12 năm 1945, nó về đến Norfolk, Virginia; và được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị tại Charleston, South Carolina vào ngày 1 tháng 2 năm 1946. Nó bị bán để tháo dỡ vào năm 1973.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bancroft được tặng thưởng tám Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]