USS Cod (SS-224)

USS Cod;0822430.jpg
Tàu ngầm USS Cod (SS-224) ngoài khơi Block Island, Rhode Island, tháng 12 năm 1951.
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS Cod
Đặt tên theo cá tuyết[1][2]
Xưởng đóng tàu Electric Boat Company, Groton, Connecticut[2]
Đặt lườn 21 tháng 7, 1942 [3]
Hạ thủy 21 tháng 3, 1943 [3]
Nhập biên chế 21 tháng 6, 1943 [3]
Tái biên chế 1951 [3]
Xuất biên chế
Xếp lớp lại
Xóa đăng bạ 15 tháng 12, 1971 [3]
Danh hiệu và phong tặng 7 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận Tàu bảo tàng tại Cleveland, Ohio, 1 tháng 5, 1976 [4]
Đặc điểm khái quát
Kiểu tàu tàu ngầm Diesel-điện
Trọng tải choán nước
  • 1.525 tấn Anh (1.549 t) (mặt nước) [4]
  • 2.424 tấn Anh (2.463 t) (lặn)[4]
Chiều dài 311 ft 9 in (95,02 m) [4]
Sườn ngang 27 ft 3 in (8,31 m) [4]
Mớn nước 17 ft (5,2 m) tối đa [4]
Động cơ đẩy
Tốc độ
Tầm xa 11.000 hải lý (20.000 km) trên mặt nước ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h)[7]
Tầm hoạt động
  • 48 giờ lặn ở tốc độ 2 hải lý trên giờ (3,7 km/h)[7]
  • 75 ngày (tuần tra)
Độ sâu thử nghiệm 300 ft (90 m)[7]
Thủy thủ đoàn tối đa 6 sĩ quan, 54 thủy thủ[7]
Vũ khí
USS Cod (tàu ngầm)
Cleveland August 2015 36 (USS Cod).jpg
USS Cod neo đậu tại North Coast Harbor, Cleveland, Ohio.
Vị tríCleveland, Ohio
Tọa độ41°30′36,3″B 81°41′29,7″T / 41,5°B 81,68333°T / 41.50000; -81.68333
Diện tíchChưa đến một hec-ta
Xây/Thành lập1942
Người xây dựngElectric Boat Company, Groton, Connecticut
Kiểu kiến trúcTàu ngầm
Số NRHP #86000088[8]
Những ngày quan trọng
Đưa vào NRHP14 tháng 1, 1986
Công nhận NHL14 tháng 1, 1986

USS Cod (SS/AGSS/IXSS-224) là một tàu ngầm lớp Gato từng phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, theo tên loài cá tuyết[1][2] phổ biến tại Bắc Đại Tây Dương và Bắc Thái Bình Dương. Nó đã phục vụ trong suốt Thế chiến II, thực hiện tổng cộng bảy chuyến tuần tra, đánh chìm tám tàu với tổng tải trọng hơn 26.985 tấn[9] và gây hư hại cho khoảng 36.000 tấn tải trọng khác. Được cho ngừng hoạt động sau khi xung đột chấm dứt vào năm 1946, nó được huy động trở lại để tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh từ năm 1951 đến năm 1954, được xếp lại lớp như một "tàu ngầm phụ trợ" AGSS-224 vào năm 1962 rồi như một "tàu ngầm đa dụng không phân loại" IXSS-224 vào năm 1971 trong thành phần dự bị. Con tàu hiện đang được giữ lại như một tàu bảo tàng tại Cleveland, Ohio và được công nhận là một Danh lam Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ.[8] Cod được tặng thưởng bảy Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp tàu ngầm Gato được thiết kế cho mục đích một tàu ngầm hạm đội nhằm có tốc độ trên mặt nước cao, tầm hoạt động xa và vũ khí mạnh để tháp tùng hạm đội chiến trận.[10] Con tàu dài 311 ft 9 in (95,02 m) và có trọng lượng choán nước 1.525 tấn Anh (1.549 t) khi nổi và 2.424 tấn Anh (2.463 t) khi lặn.[4] Chúng trang bị động cơ diesel dẫn động máy phát điện để cung cấp điện năng cho bốn động cơ điện,[4][6] đạt được công suất 5.400 shp (4.000 kW) khi nổi và 2.740 shp (2.040 kW) khi lặn,[4] cho phép đạt tốc độ tối đa 21 hải lý trên giờ (39 km/h) và 9 hải lý trên giờ (17 km/h) tương ứng.[7] Tầm xa hoạt động là 11.000 hải lý (20.000 km) khi đi trên mặt nước ở tốc độ 10 hải lý trên giờ (19 km/h) và có thể hoạt động kéo dài đến 75 ngày[7] và lặn được sâu tối đa 300 ft (90 m).[7]

Lớp tàu ngầm Gato được trang bị mười ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm), gồm sáu ống trước mũi và bốn ống phía phía đuôi tàu, chúng mang theo tối đa 24 quả ngư lôi. Vũ khí trên boong tàu gồm một hải pháo 3 inch/50 caliber, và thường được tăng cường một khẩu pháo phòng không Bofors 40 mm nòng đơn và một khẩu đội Oerlikon 20 mm nòng đôi, kèm theo súng máy .50 caliber.30 caliber.[7] Tiện nghi cho thủy thủ đoàn bao gồm điều hòa không khí, thực phẩm trữ lạnh, máy lọc nước, máy giặt và giường ngủ cho hầu hết mọi người, giúp họ chịu đựng cái nóng nhiệt đới tại Thái Bình Dương cùng những chuyến tuần tra kéo dài đến hai tháng rưỡi.[11][12]

Cod được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Electric Boat CompanyGroton, Connecticut vào ngày 21 tháng 7, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 21 tháng 3, 1943, được đỡ đầu bởi bà G. M. Mahoney, và được cho nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 21 tháng 6, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân James C. Dempsey.[1][2][13]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1943 - 1944[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến tuần tra thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy huấn luyện ngoài khơi New London, Connecticut và sửa chữa sau chạy thử máy, Cod chuẩn bị để được điều động sang khu vực Mặt trận Thái Bình Dương. Nó đi đến Brisbane, Australia vào ngày 2 tháng 10, 1943, và lên đường vào ngày 22 tháng 10 cho chuyến tuần tra đầu tiên tại biển Đông. Cho dù bắt gặp một số mục tiêu, nó chỉ tấn công mật lần vào ngày 29 tháng 11 nhưng không thể xác định kết quả. Con tàu quay trở về Fremantle, Australia để tái trang bị từ ngày 16 tháng 12, 1943 đến ngày 11 tháng 1, 1944.[1]

Chuyến tuần tra thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Cod tiến hành chuyến tuần tra thứ hai tại các khu vực biển Đông, ngoài khơi JavaHalmahera. Vào ngày 16 tháng 2, nó trồi lên mặt nước để đánh chìm một thuyền buồm bằng hải pháo, và một tuần sau đó đã phóng ngư lôi vào một tàu buôn mà không rõ kết quả. Nó đánh chìm một tàu buôn khác, chiếc Taisoku Maru (2.473 tấn) vào ngày 27 tháng 2, và tấn công một chiếc thứ ba hai ngày sau đó, nhưng buộc phải lặn sâu để né tránh mìn sâu thả từ một tàu hộ tống Nhật Bản, nên không thể đánh giá kết quả. Sau khi quay trở về cảng Fremantle, nó được tái trang bị từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 6 tháng 4.[1]

Chuyến tuần tra thứ ba và thứ tư[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chuyến tuần tra thứ ba tại các khu vực biển Sulu và biển Đông ngoài khơi Luzon, vào ngày 10 tháng 5, Cod tấn công một đoàn tàu vận tải 32 chiếc được hộ tống chặt chẽ, đánh chìm tàu khu trục Karukaya và tàu buôn Shohei Maru (7.256 tấn) trước khi phải lặn xuống để né tránh sự phản công của các tàu hộ tống. Nó quay trở về Fremantle để được tái trang bị vào ngày 1 tháng 6.[1]

Lên đường vào ngày 3 tháng 7 để tiến hành chuyến tuần tra thứ tư tại các vùng biển Luzon và Java, Cod đánh chìm chiếc Seiko Maru (708 tấn) vào ngày 3 tháng 8, và tàu đổ bộ LSV-129 vào ngày 14 tháng 8, trước khi quay trở về Fremantle vào ngày 25 tháng 8.[1]

Chuyến tuần tra thứ năm[sửa | sửa mã nguồn]

Lên đường vào ngày 18 tháng 9 cho chuyến tuần tra thứ năm, Cod hướng sang vùng biển Philippines. Nó bắt gặp và đánh chìm chiếc tàu buôn Tatsushiro Maru (6.886 tấn) vào ngày 5 tháng 10, và đến ngày 25 tháng 10 lại tung ra nhiều lượt tấn công nhắm vào một đoàn tàu vận tải lớn nhưng không có kết quả. Sau khi tiêu phí hết số ngư lôi mang theo, nó theo dõi để báo cáo vị trí của đoàn tàu thêm một ngày đêm, trước khi chuyển sang nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu ngoài khơi Luzon, phục vụ cho Chiến dịch giải phóng Philippines.[1]

Quay trở về Trân Châu Cảng vào ngày 20 tháng 11, Cod tiếp tục đi về vùng bờ Tây, nơi nó được đại tu tại Xưởng hải quân Mare Island. Sau khi hoàn tất việc sửa chữa, con tàu đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 3, 1945.[1]

1945[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến tuần tra thứ sáu[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất phát từ Trân Châu Cảng vào ngày 24 tháng 3, 1945, Cod tiến hành chuyến tuần tra thứ sáu tại vùng biển Hoa Đông, chủ yếu vào nhiệm vụ tìm kiếm và giải cứu. Nó đánh chìm một tàu kéo và sà lan bằng hải pháo vào ngày 17 tháng 4, cứu vớt ba người sống sót; rồi đến ngày 24 tháng 4 đã tấn công một đoàn tàu vận tải, và bị đối phương phản công bằng mìn sâu; và sang ngày hôm sau, nó đánh chìm tàu quét mìn W-41. Vào ngày 26 tháng 4, một vụ hỏa hoạn xảy ra ở phòng ngư lôi phía đuôi tàu, nhưng nhanh chóng được dập tắt sau khi phóng bỏ một quả ngư lôi đang sẵn sàng trong ống phóng đề phòng nó bị kích nổ. Hai thủy thủ đã bị rơi xuống biển trong tai nạn này, nhưng chỉ một người được cứu vớt; đây là tổn thất nhân mạng duy nhất của con tàu trong suốt cuộc chiến tranh.[14] Chiếc tàu ngầm quay trở về Guam để tái trang bị từ ngày 29 tháng 5 đến ngày 26 tháng 6.[1]

Chuyến tuần tra thứ bảy[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu ngầm O-19 đang bị mắc cạn tại bãi Đá Lát

Cod tiến hành chuyến tuần tra cuối cùng trong chiến tranh dọc theo bờ biển Đông Dương thuộc Pháp và trong vịnh Thái Lan. Vào các ngày 910 tháng 7, nó đi đến để trợ giúp cho chiếc tàu ngầm Hải quân Hoàng gia Hà Lan HNLMS O-19, vốn bị mắc cạn tại bãi Đá Lát thuộc quần đảo Trường Sa lúc đang trên đường đi sang vịnh Subic, Philippines. Không thể kéo con tàu bạn ra khỏi chỗ mắc cạn, nó giúp di tản thủy thủ đoàn, rồi phá hủy O 19 bằng chất nổ, hải pháo và ngư lôi để ngăn không cho đối phương chiếm được. Nó đưa thủy thủ đoàn người Hà Lan đi đến vịnh Subic rồi tiếp tục nhiệm vụ tuần tra.[15][1]

Trong giai đoạn từ ngày 21 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8, Cod đã 20 lượt tấn công bằng hải pháo những thuyền buồm, ghe xuồng và sà lan, là những phương tiện duy nhất còn lại để tiếp liệu cho quân Nhật tại Singapore. Nó khám xét những con tàu để giải phóng thủy thủ đoàn dân sự trước khi phá hủy tổng cộng 23 tàu bè. Nó phải lặn xuống né tránh khi bị một máy bay đối phương bắn phá vào ngày 1 tháng 8, nên đã bỏ lại một đội đổ bộ trên bờ; những người này được tàu ngầm Blenny (SS-324) giải cứu hai ngày sau đó.[1]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cod được tặng thưởng bảy Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.[1] Nó được ghi công đã đánh chìm tám tàu Nhật Bản với tổng tải trọng 26.985 tấn.[9]

Bản mẫu:Ribbon devices/alt Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Silver star
Bronze star
Bronze star
Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Bản mẫu:Ribbon devices/alt Bản mẫu:Ribbon devices/alt Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Dãi băng Hoạt động Tác chiến Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ Huân chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương
với 7 Ngôi sao Chiến trận
Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II Huân chương Phục vụ Phòng vệ Quốc gia Huân chương Giải phóng Philippine
(Philippine)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m Naval Historical Center. Cod (SS-224). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History and Heritage Command. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2022.
  2. ^ a b c d Yarnall, Paul R. “USS Cod (SS-224)”. NavSource.org. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2022.
  3. ^ a b c d e f g Friedman 1995, tr. 285–304
  4. ^ a b c d e f g h i Bauer & Roberts 1991, tr. 271-273
  5. ^ a b c d e Bauer & Roberts 1991, tr. 270-280
  6. ^ a b Friedman 1995, tr. 261
  7. ^ a b c d e f g h i j k l m Friedman 1995, tr. 305–311
  8. ^ a b “Hệ thống Thông tin Sổ bộ Quốc gia”. Sổ bộ Địa danh Lịch sử Quốc gia Hoa Kỳ. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ. 9 tháng 7 năm 2010.
  9. ^ a b The Joint Army-Navy Assessment Committee. “Japanese Naval and Merchant Shipping Losses During World War II by All Causes”. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2022.
  10. ^ Friedman 1995, tr. 99–104
  11. ^ Alden 1979, tr. 48, 97
  12. ^ Blair 2001, tr. 65
  13. ^ Helgason, Guðmundur. “USS Cod (SS-224)”. uboat.net. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2022.
  14. ^ McDaniel 2005, tr. 241-242
  15. ^ “Dutch Submarines: The submarine O 19”. dutchsubmarines.com. 2012. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2013.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Butowsky, Harry A. (tháng 5 năm 1985). “Accompanying Photos” (pdf). Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2012.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]