USS Crane (DD-109)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Crane (DD-109)
Tàu khu trục USS Crane (DD-109)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Crane
Đặt tên theo: William M. Crane
Hãng đóng tàu: Union Iron Works, San Francisco, California
Đặt lườn: 7 tháng 1 năm 1918
Hạ thủy: 4 tháng 7 năm 1918
Đỡ đầu bởi: bà M. McGuire
Nhập biên chế: 18 tháng 4 năm 1919
Tái biên chế: 18 tháng 12 năm 1939
Xuất biên chế: 7 tháng 6 năm 1922
14 tháng 11 năm 1945
Xóa đăng bạ: 19 tháng 12 năm 1945
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1 tháng 11 năm 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Crane (DD-109) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong cả hai cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhấtthứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Đại tá Hải quân William M. Crane (1776–1846).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Crane được đặt lườn vào ngày 7 tháng 1 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Union Iron WorksSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, được đỡ đầu bởi bà M. McGuire, và được đưa ra hoạt động vào ngày 18 tháng 4 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân W. F. Gresham.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi hành từ San Francisco vào ngày 21 tháng 4 năm 1919, Crane đi đến Newport, Rhode Island vào ngày 13 tháng 5, rồi lên đường đi làm nhiệm vụ tại vùng biển Châu Âu vào ngày 5 tháng 6. Nó viếng thăm các cảng ở AnhPháp, tham gia đoàn hộ tống cho chiếc George Washington đưa Tổng thống Woodrow Wilson đi tham dự hội nghị hòa bình. Quay trở về New York vào ngày 27 tháng 7, Crane được điều động về Hạm đội Thái Bình Dương, và đi đến San Francisco vào ngày 1 tháng 9. Tại đây nó tham gia cuộc Duyệt binh Hải quân, được Bộ trưởng Hải quân Josephus Daniels thị sát vào ngày 4 tháng 9. Sau các hoạt động ngoài khơi bờ biển Washington, Crane được đưa vào thành phần dự bị tại San Diego từ ngày 26 tháng 1 năm 1920, thỉnh thoảng tham gia các cuộc cơ động cho đến khi được cho xuất biên chế vào ngày 7 tháng 6 năm 1922 tại San Diego.

Được tái biên chế trở lại vào ngày 18 tháng 12 năm 1939, Crane gia nhập lực lượng Tuần tra Trung lập tại Thái Bình Dương, thực hiện các chuyến tuần tra cùng các chuyến đi huấn luyện Hải quân Dự bị và Vệ binh vũ trang cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra. Nó tiếp tục ở lại khu vực bờ Tây Hoa Kỳ, làm nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm, hộ tống vận tải, huấn luyện và bảo vệ cho các cuộc tập trận đổ bộ cho đến ngày 22 tháng 4 năm 1944, khi nó được điều về Trường huấn luyện thủy âm bờ Tây. Sau chiến tranh, nó khởi hành từ San Diego vào ngày 2 tháng 10 năm 1945, đi đến Philadelphia ngày 19 tháng 10, và được cho ngừng hoạt động vào ngày 14 tháng 11 năm 1945. Crane bị bán để tháo dỡ vào ngày 1 tháng 11 năm 1946.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]