USS J. Richard Ward (DE-243)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
USS J. Richard Ward (DE-243) off the New York Naval Shipyard (USA) on 14 May 1944 (19-N-70846).jpg
Tàu hộ tống khu trục USS J. Richard Ward (DE-243) ngoài khơi Xưởng hải quân New York, tháng 5 năm 1944
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS J. Richard Ward
Đặt tên theo James Richard Ward
Xưởng đóng tàu Brown Shipbuilding, Houston, Texas
Đặt lườn 30 tháng 9, 1942
Hạ thủy 6 tháng 1, 1943
Nhà tài trợ cô Marjorie Ward
Nhập biên chế 5 tháng 7, 1943
Xuất biên chế 13 tháng 6, 1946
Xóa đăng bạ 2 tháng 1, 1971
Số phận Bán để tháo dỡ, 10 tháng 4, 1972
Đặc điểm khái quát
Lớp tàu lớp Edsall
Trọng tải choán nước
Chiều dài 306 ft (93 m)
Sườn ngang 36 ft 7 in (11,15 m)
Mớn nước 10 ft 5 in (3,18 m) (đầy tải)
Công suất lắp đặt 6.000 shp (4.500 kW)
Động cơ đẩy
Tốc độ 21 hải lý trên giờ (39 km/h)
Tầm xa
  • 10.800 hải lý (20.000 km; 12.400 mi)
  • ở vận tốc 12 hải lý trên giờ (22 km/h)
Thủy thủ đoàn tối đa 186
Hệ thống cảm biến và xử lý 1 × radar SC
Vũ khí

USS J. Richard Ward (DE-243) là một tàu hộ tống khu trục lớp Edsall từng phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, theo tên thủy thủ James Richard Ward (1921-1941), người phục vụ trên thiết giáp hạm Oklahoma (BB-37), đã tử trận trong cuộc Tấn công Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12, 1941 và được truy tặng Huân chương Danh dự.[1] Nó đã phục vụ cho đến khi chiến tranh kết thúc, xuất biên chế năm 1946, rồi cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào năm 1972.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Edsall có thiết kế hầu như tương tự với lớp Cannon dẫn trước; khác biệt chủ yếu là ở hệ thống động lực Kiểu FMR do được trang bị động cơ diesel Fairbanks-Morse dẫn động qua hộp số giảm tốc đến trục chân vịt. Đây là cấu hình động cơ được áp dụng rộng rãi trên tàu ngầm, được chứng tỏ là có độ tin cậy cao hơn so với lớp Cannon.[2][3]

Vũ khí trang bị bao gồm ba pháo 3 in (76 mm)/50 cal trên tháp pháo nòng đơn có thể đối hạm hoặc phòng không, một khẩu đội pháo phòng không Bofors 40 mm nòng đôi và tám pháo phòng không Oerlikon 20 mm. Vũ khí chống ngầm bao gồm một dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog Mk. 10 (có 24 nòng và mang theo 144 quả đạn); hai đường ray Mk. 9 và tám máy phóng K3 Mk. 6 để thả mìn sâu.[4][5] Con tàu vẫn giữ lại ba ống phóng ngư lôi Mark 15 21 inch (533 mm), và được trang bị radar SC dò tìm không trung và mặt biển. Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 186 sĩ quan và thủy thủ.[4]

J. Richard Ward được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Brown Shipbuilding, ở Houston, Texas vào ngày 30 tháng 9, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 1, 1943, được đỡ đầu bởi cô Marjorie Ward, em gái thủy thủ Ward, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 5 tháng 7, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Thomas S. Dunstan.[1][6][7]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy huấn luyện tại khu vực Bermuda, J. Richard Ward đi đến Charleston, South Carolina vào ngày 1 tháng 9, 1943, nơi nó gia nhập một đoàn tàu vận tải cho hành trình vượt Đại Tây Dương để hướng sang Bắc Phi. Trong những tháng tiếp theo, con tàu thực hiện ba chuyến hộ tống vận tải khứ hồi giữa Norfolk, VirginiaGibraltar. Sau khi thực hành huấn luyện vào tháng 3, 1944, nó gia nhập một đội đặc nhiệm tìm-diệt tàu ngầm được hình thành chung quanh tàu sân bay hộ tống Tripoli (CVE-64). Rời New York vào ngày 15 tháng 3, đội đặc nhiệm hoạt động tuần tra dọc theo các tuyến hàng hải tại khu vực Nam Đại Tây Dương giữa Brazil và quần đảo Cape Verde, nhằm truy tìm tàu ngầm U-boat Đức. Họ không tìm thấy đối thủ, và đội đặc nhiệm quay trở về New York vào ngày 18 tháng 6.[1]

Đi đến Norfolk vào tháng 7, J. Richard Ward đảm trách vai trò một tàu huấn luyện cho đến tháng 8, khi nó lại được điều động vào một đội đặc nhiệm chống tàu ngầm khác, lần này do tàu sân bay hộ tống Core (CVE-13) dẫn đầu. Đội đặc nhiệm lên đường vào ngày 8 tháng 8, và sau một lượt huấn luyện ngoài khơi đã bắt đầu tuần tra tại khu vực Bắc Đại Tây Dương, nhiều lần phát hiện tín hiệu sonar của tàu ngầm đối phương trong tháng 8. Đơn vị được tiếp nhiên liệu tại Argentia, Newfoundland trước khi tiếp tục chuyến tuần tra, rồi quay trở về New York vào ngày 9 tháng 10.[1]

Trong gia đoàn từ tháng 10, 1944 đến tháng 1, 1945, J. Richard Ward phục vụ canh phòng máy bay cho hoạt động huấn luyện phi công của các tàu sân bay. Nó quay trở lại nhiệm vụ tuần tra chống tàu ngầm vào ngày 24 tháng 1, hoạt động tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương đầy sóng gió, và quay trở về cảng vào ngày 28 tháng 3. Con tàu đang trong chuyến đi cuối cùng tại Đại Tây Dương khi chiến tranh kết thúc tại Châu Âu, và nó quay trở về New York vào ngày 11 tháng 5.[1]

Sau khi được hiện đại hóa tại Xưởng hải quân Boston, J. Richard Ward chuẩn bị để được điều động sang khu vực Mặt trận Thái Bình Dương. Nó khởi hành vào ngày 28 tháng 6, tiến hành huấn luyện ôn tập tại vùng biển Caribe trước khi băng qua kênh đào Panama để hướng đến khu vực quần đảo Hawaii. Tuy nhiên, lúc đang trên đường đi, Nhật Bản chấp nhận đầu hàng vào ngày 15 tháng 8, giúp chấm dứt vĩnh viễn cuộc xung đột. Sau khi đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 1 tháng 9, nó phục vụ cho việc huấn luyện phi công của tàu sân bay hộ tống Tripoli (CVE-64).

J. Richard Ward quay trở về San Diego, California vào ngày 17 tháng 10. Nó tiếp tục hành trình quay về vùng bờ Đông, đi qua kênh đào Panama và ghé đến Norfolk trước khi được chuyển đến Green Cove Springs, Florida vào ngày 13 tháng 12, 1945. Con tàu được cho xuất biên chế tại đây vào ngày 13 tháng 6, 1946, và được đưa về Hạm đội Dự bị Đại Tây Dương.[1][6][7] Tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 2 tháng 1, 1971,[1][6][7] và nó bị bán để tháo dỡ vào ngày 10 tháng 4, 1972.[1][6][7]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: Navsource Naval History[6]
Bronze star
Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ
với 1 Ngôi sao Chiến trận
Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e f g h Naval Historical Center. J. Richard Ward (DE-243). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History and Heritage Command. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  2. ^ Friedman 1982.
  3. ^ Rivet, Eric; Stenzel, Michael. “Classes of Destroyer Escorts”. History of Destroyer Escorts. Destroyer Escort Historical Museum. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  4. ^ a b Whitley 2000, tr. 300–301.
  5. ^ Friedman 1982, tr. 146, 418.
  6. ^ a b c d e Yarnall, Paul R. (5 tháng 1 năm 2021). “USS J. Richard Ward (DE 243)”. NavSource.org. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  7. ^ a b c d Helgason, Guðmundur. “USS J. Richard Ward (DE 243)”. uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]