USS Moale (DD-693)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
USS Moale.jpg
Tàu khu trục USS Moale (DD-693)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Moale (DD-693)
Đặt tên theo: Đại úy Hải quân Edward Moale, Jr.
Hãng đóng tàu: Federal Shipbuilding, Kearny, New Jersey
Đặt lườn: 5 tháng 8 năm 1943
Hạ thủy: 16 tháng 1 năm 1944
Đỡ đầu bởi: bà Edward S. Moale
Nhập biên chế: 28 tháng 2 năm 1944
Xuất biên chế: 2 tháng 7 năm 1973
Xóa đăng bạ: 2 tháng 7 năm 1973
Danh hiệu và
phong tặng:
6 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Bán để tháo dỡ
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner
Trọng tải choán nước: 2.200 tấn Anh (2.200 t) (tiêu chuẩn);
3.515 tấn Anh (3.571 t) (đầy tải)
Độ dài: 369 ft (112 m) (mực nước);
376 ft 6 in (114,76 m) (chung)
Sườn ngang: 40 ft (12 m)
Mớn nước: 15 ft 9 in (4,80 m) (tiêu chuẩn);
19 ft (5,8 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 4 × nồi hơi;
2 × turbine hơi nước hộp số;
2 × trục;
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 34 kn (39 mph; 63 km/h)
Tầm xa: 6.000 nmi (11.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
336 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
12 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×4 & 2×2);
11 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);

6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu

USS Moale (DD-693) là một tàu khu trục lớp Allen M. Sumner được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Đại úy Hải quân Edward Moale, Jr. (1866–1903), người đã chiến đấu dũng cảm trong các cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa KỳChiến tranh Philippines-Hoa Kỳ. Nó đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, và tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên và sau đó cho đến khi xuất biên chế năm 1973 và bị tháo dỡ. Con tàu được tặng thưởng năm Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm một Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Moale được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Federal Shipbuilding and Drydock CompanyKearny, New Jersey vào ngày 5 tháng 8 năm 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 16 tháng 1 năm 1944; được đỡ đầu bởi bà Edward S. Moale, con dâu Đại úy Moale, Jr., và nhập biên chế tại Xưởng hải quân Brooklyn vào ngày 28 tháng 2 năm 1944 dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hải quân Walter M. Foster.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1944[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất chạy thử máy tại vùng biển Bermuda, Moale tiếp tục ở lại khu vực bờ biển Đại Tây Dương tiến hành những thử nghiệm và huấn luyện thủy thủ đoàn tàu khu trục. Nó gặp gỡ thiết giáp hạm Missouri (BB-63)tàu tuần dương lớn Alaska (CB-1) vừa mới nhập biên chế vào ngày 21 tháng 8 năm 1944, rồi cùng Đội khu trục 120 lên đường đi Trinidad thuộc quần đảo Tây Ấn và tiếp tục hành trình băng qua kênh đào Panama để đi đến San Pedro, California. Nó trình diện để phục vụ cùng Tư lệnh Khu trục, Hạm đội Thái Bình Dương tại Trân Châu Cảng vào ngày 15 tháng 9, tiến hành các hoạt động huấn luyện cùng tàu sân bay, thực hành tác xạ ban đêm và thực tập bắn phá bờ biển cho đến ngày 23 tháng 10.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Moale được tặng thưởng năm Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II, và thêm một Ngôi sao Chiến trận khác trong Chiến tranh Triều Tiên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]