USS Tomich (DE-242)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
USS Tomich (DE-242) moored in the Huangpu River, Shanghai, China, in February 1946.jpg
Tàu hộ tống khu trục USS Tomich (DE-242) trên sông Hoàng Phố, Thượng Hải, tháng 2 năm 1946
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS Tomich
Đặt tên theo Peter Tomich
Xưởng đóng tàu Brown Shipbuilding, Houston, Texas
Đặt lườn 15 tháng 9, 1942
Hạ thủy 28 tháng 12, 1942
Nhà tài trợ bà O. L. Hammonds
Nhập biên chế 27 tháng 7, 1943
Xuất biên chế 20 tháng 9, 1946
Xóa đăng bạ 1 tháng 11, 1972
Danh hiệu và phong tặng 1 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận Bán để tháo dỡ, 18 tháng 1, 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp tàu lớp Edsall
Trọng tải choán nước
Chiều dài 306 ft (93 m)
Sườn ngang 36 ft 7 in (11,15 m)
Mớn nước 10 ft 5 in (3,18 m) (đầy tải)
Công suất lắp đặt 6.000 shp (4.500 kW)
Động cơ đẩy
Tốc độ 21 hải lý trên giờ (39 km/h)
Tầm xa
  • 10.800 hải lý (20.000 km; 12.400 mi)
  • ở vận tốc 12 hải lý trên giờ (22 km/h)
Thủy thủ đoàn tối đa 186
Hệ thống cảm biến và xử lý 1 × radar SC
Vũ khí

USS Tomich (DE-242) là một tàu hộ tống khu trục lớp Edsall từng phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt cái tên này, theo tên hạ sĩ quan người gốc Croatia Peter Tomich (1893-1941), người từng phục vụ trên tàu mục tiêu Utah (AG-16), đã tử trận trong cuộc Tấn công Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12, 1941 và được truy tặng Huân chương Danh dự.[1] Nó đã phục vụ cho đến khi chiến tranh kết thúc, xuất biên chế năm 1946, rồi cuối cùng bị bán để tháo dỡ vào năm 1974. Tomich được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Edsall có thiết kế hầu như tương tự với lớp Cannon dẫn trước; khác biệt chủ yếu là ở hệ thống động lực Kiểu FMR do được trang bị động cơ diesel Fairbanks-Morse dẫn động qua hộp số giảm tốc đến trục chân vịt. Đây là cấu hình động cơ được áp dụng rộng rãi trên tàu ngầm, được chứng tỏ là có độ tin cậy cao hơn so với lớp Cannon.[2][3]

Vũ khí trang bị bao gồm ba pháo 3 in (76 mm)/50 cal trên tháp pháo nòng đơn có thể đối hạm hoặc phòng không, một khẩu đội pháo phòng không Bofors 40 mm nòng đôi và tám pháo phòng không Oerlikon 20 mm. Vũ khí chống ngầm bao gồm một dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog Mk. 10 (có 24 nòng và mang theo 144 quả đạn); hai đường ray Mk. 9 và tám máy phóng K3 Mk. 6 để thả mìn sâu.[4][5] Con tàu vẫn giữ lại ba ống phóng ngư lôi Mark 15 21 inch (533 mm), và được trang bị radar SC dò tìm không trung và mặt biển. Thủy thủ đoàn đầy đủ bao gồm 186 sĩ quan và thủy thủ.[4]

Tomich được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Brown Shipbuilding, ở Houston, Texas vào ngày 15 tháng 9, 1942. Nó được hạ thủy vào ngày 28 tháng 12, 1942, được đỡ đầu bởi bà O. L. Hammonds, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 7, 1943 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân Hadlai Austin Hull.[1][6][7]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Đại Tây Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Tomich khởi hành từ Galveston, Texas, vào ngày 12 tháng 8, 1943 để đi đến New Orleans, Louisiana, nơi nó được tiếp tục trang bị, rồi lên đường đi Bermuda vào ngày 19 tháng 8 cho đợt chạy thử máy huấn luyện kéo dài bốn tuần lễ. Nó cùng tàu chị em Farquhar (DE-139) rời Bermuda vào ngày 23 tháng 9 hộ tống cho chiếc tàu tiếp dầu USS Merrimack (AO-37) trong hành trình đi Norfolk, Virginia, trước khi đi đến Charleston, South Carolina để được đại tu sau chạy thử máy.[1]

Lên đường hướng đến Cuba vào ngày 9 tháng 10 để tiếp tục huấn luyện, Tomich đi đến vịnh Guantánamo, Cuba ba ngày sau đó. Nó gặp gỡ chiếc USAT George Washington vào ngày 17 tháng 10 để hộ tống chiếc tàu vận tải Lục quân này đi sang Kingston, Jamaica. Khi quay trở lại vịnh Guantánamo cùng ngày hôm đó, Tomich được lệnh tìm kiếm chiếc tàu ngầm Dorado (SS-248), vốn đã khởi hành từ New London, Connecticut vào ngày 6 tháng 10, và theo lịch trình đã phải đến vùng kênh đào Panama vào ngày 14 tháng 10. Nó đã tìm kiếm cho đến ngày 22 tháng 10, nhưng không thể tìm thấy dấu vết gì cùa chiếc tàu ngầm bị mất tích.[1]

Khởi hành đi Hampton Roads vào ngày 28 tháng 10, Tomich hộ tống cho chiếc tàu ngầm Pike (SS-173) đi Norfolk, rồi tách ra vào ngày 30 tháng 10 để quay trở lại vịnh Guantánamo. Con tàu lại đi lên phía Bắc để đến Norfolk vào ngày 5 tháng 11, rồi đến ngày 14 tháng 11 đã tham gia thành phần hộ tống cho Đoàn tàu UGS-24 vượt Đại Tây Dương hướng sang Bắc Phi. Đoàn tàu đi đến Casablanca, Maroc thuộc Pháp vào ngày 2 tháng 12, và nó về đến New York vào sáng ngày Giáng Sinh 25 tháng 12. Nó vào Xưởng hải quân New York để được bảo trì cho đến đầu năm 1944.[1]

Rời xưởng tàu vào ngày 5 tháng 1, 1944, Tomich đi đến vùng eo biển Block Island để thực hành huấn luyện tác xạ và chống tàu ngầm ngoài khơi Montauk Point, Long Island. Cùng các đơn vị khác thuộc Đội hộ tống 7, nó lên đường đi Norfolk, Virginia vào ngày 10 tháng 1, và gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 63 để hộ tống cho Đoàn tàu UGS-30 đi sang Casablanca. Đi đến Gibraltar, nó neo đậu bên cạnh thiết giáp hạm HMS Warspite (03), rồi rời căn cứ Hải quân Anh này vào ngày 4 tháng 2 để gia nhập Đoàn tàu GUS-29 vào ngày hôm sau cho hành trình quay trở về Hoa Kỳ.[1]

Tách khỏi Đoàn tàu GUS-29 vào ngày 8 tháng 2, Tomich đi đến quần đảo Azores để đón các tàu buôn SS Phoenis BanningSS Abraham Baldwin để đưa họ gia nhập cùng Đoàn tàu GUS-29. Nó hộ tống đoàn tàu vượt đại dương cho đến khi tách ra vào ngày 17 tháng 2, và sang ngày hôm sau hộ tống cho tàu tiếp dầu Mattaponi (AO-41) và tàu buôn SS Sangara đi Bermuda. Nó lại đi đến Xưởng hải quân New York vào ngày 22 tháng 2 để được bảo trì cho đến ngày 5 tháng 3. Nó lên đường đi Bayonne, New Jersey để được khử từ trước khi tiếp tục đi đến Montauk Point để huấn luyện ôn tập. Sau đó con tàu đi đến Norfolk vào ngày 11 tháng 3, rồi cùng Đoàn tàu UGS-36 lên đường hai ngày sau đó để vượt đại dương hướng sang Tunisia, băng qua eo biển Gibraltar vào ngày 30 tháng 3 và tiếp tục hướng đến Bizerte.[1]

Lúc chiều tối ngày 31 tháng 3, Tomich theo dõi một mục tiêu dò được qua sonar, đặt trong tình trạng báo động tác chiến, và đã thả hai lượt 13 quả mìn sâu nhắm vào mục tiêu nghi ngờ là tàu ngầm U-boat đối phương. Nó phối hợp cùng tàu xà lúp Hải quân Anh HMS Black Swan (L53) tuần tra chống tàu ngầm suốt đêm. Khoảng 04 giờ 01 phút sáng ngày 1 tháng 4, khi Tomich đã gia nhập trở lại đoàn tàu vận tải, nó phát hiệm náy bay đối phương tiếp cận từ phía trước bên mạn trái. Con tàu chạy zigzag bên mạn trái đoàn tàu, đồng thời khai hỏa dàn hỏa lực phòng không nhắm vào những kẻ tấn công. Những máy bay ném bom Junkers Ju 88 hai động cơ đối phương áp sát nhanh ở độ cao thấp, nhưng bị hỏa lực phòng không của các tàu hộ tống đánh đuổi mà không gây thiệt hại gì cho đoàn tàu.[1]

Sau khi đoàn tàu đi đến Bizerte an toàn, Tomich tháp tùng để hộ tống cho Đoàn tàu GUS-36 trong chặng quay trở về. Tuy nhiên nó phải tách khỏi đoàn tàu vào ngày 13 tháng 4 để đi đến Oran, Algeria, do nghi ngờ trục chân vịt bên mạn phải của nó có sự cố kỹ thuật. Sau khi được kiểm tra, nó gia nhập trở lại đoàn tàu vào ngày hôm sau, và về đến New York vào ngày 2 tháng 5. Con tàu được bảo trì trong xưởng tàu trước khi tiến hành huấn luyện ôn tập, và đi đến Norfolk vào ngày 20 tháng 5.[1]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tomich được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.[1][6]

Bản mẫu:Ribbon devices/alt Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Bronze star
Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Bản mẫu:Ribbon devices/alt
Dãi băng Hoạt động Tác chiến
(truy tặng)
Huân chương Chiến dịch Hoa Kỳ
Huân chương Chiến dịch Châu Á-Thái Bình Dương Huân chương Chiến dịch Châu Âu-Châu Phi-Trung Đông
với 1 Ngôi sao Chiến trận
Huân chương Chiến thắng Thế Chiến II

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e f g h i j Naval Historical Center. Tomich (DE-242). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History and Heritage Command. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  2. ^ Friedman 1982.
  3. ^ Rivet, Eric; Stenzel, Michael. “Classes of Destroyer Escorts”. History of Destroyer Escorts. Destroyer Escort Historical Museum. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  4. ^ a b Whitley 2000, tr. 300–301.
  5. ^ Friedman 1982, tr. 146, 418.
  6. ^ a b Yarnall, Paul R. (27 tháng 2 năm 2014). “USS Tomich (DE 242)”. NavSource.org. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2022.
  7. ^ Helgason, Guðmundur. “USS Tomich (DE 242)”. uboat.net. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2021.

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]