Um Ki-joon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Um Ki-joon
180920 SBS '흉부외과' 제작발표회 엄기준.jpg
Um Ki-joon vào tháng 9 năm 2018.
Sinh23 tháng 3, 1976 (46 tuổi)
Hàn Quốc
Học vịSeoul Artspool Conservatory (nhạc kịch)
Nghề nghiệpDiễn viên
Năm hoạt động1995–nay
Người đại diệnYour Entertainment
Chiều cao1,8m
Trang webumkijoon.com
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Romaja quốc ngữEom Gi-jun
McCune–ReischauerŎm Ki-chun

Um Ki-joon (tiếng Hàn엄기준; sinh ngày 22 tháng 4 năm 1976) là một nam diễn viên người Hàn Quốc.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Um Ki-joon xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1995 trong vở kịch Richard III, mặc dù sau đó anh được biết đến nhiều nhất với tư cách là một diễn viên sân khấu nhạc kịch, đóng vai chính trong Singin' in the Rain,[1] The Sorrows of Young Werther,[2] Grease, The Three Musketeers,[3] Jack the Ripper,[4] The Count of Monte Cristo,[5][6] Catch Me If You Can,[7][8][9]Rebecca. Anh cũng xuất hiện trong vở kịch Closer của Patrick Marber.[10]

Sự nổi tiếng của Um Ki-joon tăng lên sau khi anh bắt đầu đóng các vai phụ trong các bộ phim truyền hình như Life Special Investigation Team, Thế giới họ đang sống, Hero,[11] Bay cao ước mơ,[12] Scent of a WomanGiấu mặt.[13][14] Anh cũng là nam diễn viên chính trong Good Job, Good JobThe Virus.[15]

Um Ki-joon lần đầu tiên đóng vai phản diện trong bộ phim Mối thù của người cha, đối diện với Kim Myung-min.[16] Tiếp theo là vai Lee Ki-cheol, một thám tử điều tra những vụ giết người hàng loạt trong bộ phim kinh dị Kỳ án truyện tranh, đối diện với Lee Si-young.[17]

Vào năm 2017, Um Ki-joon đóng vai phản diện trong bộ phim kinh dị hợp pháp đình đám Bị cáo.[18]

Vào năm 2018, anh tái hợp với đạo diễn kiêm biên kịch của Bị cáo trong bộ phim y khoa Heart Surgeons.[19]

Vào năm 2020, anh xuất hiện trong phim truyền hình Cuộc chiến thượng lưu với vai thiên tài bất động sản. Bộ phim được phát sóng trên kênh truyền hình SBS từ ngày 26 tháng 10.[20]

Đóng phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai
2010 Mối thù của người cha Choi Byeong-chul
Villain and Widow Đại diện Ha (khách mời)
Finding Mr. Destiny Kim Jong-wook (khách mời)
2013 Kỳ án truyện tranh Lee Ki-cheol

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Kênh
2006 Drama City "Who Loved Her?" Park Cheol-ho KBS2
2007 Drama City "Grim Reaper with Amnesia" Dong-wook
Hãy cười lên nào Um Ki-joon MBC
2008 Drama City "Secret, Only You Don't Know" Park Hyeong-joo KBS2
Life Special Investigation Team Park Chan-ho MBC
Thế giới họ đang sống Song Gyu-ho KBS2
2009 Good Job, Good Job Choi Seung Hyun MBC
Hero Kang Hye-sung
2011 Bay cao ước mơ Kang Oh-hyuk KBS2
Miss Ripley Công tố viên (khách mời, tập 14) MBC
Scent of a Woman Chae Eun-suk SBS
Can't Lose Cha Seok-hoon (khách mời, tập 14-17) MBC
2012 Giấu mặt Jo Hyun-min SBS
2013 The Virus Lee Myung-hyun OCN
Đôi tai ngoại cảm Um Ki-joon (khách mời, tập 14) SBS
2014 Golden Cross Michael Jang KBS2
2015 Mặt nạ công tố Kang Hyun-woong
2016 Nightmare Teacher Han Bong-gu Naver TV Cast
2017 Bị cáo Cha Sun-ho/Cha Min-ho SBS
Tôi không phải Robot Hong Baek-kyun MBC
2018 Heart Surgeons Choi Suk-han SBS
2020–21 Cuộc chiến thượng lưu Joo Dan-tae/ Mr. Baek/Baek Joon-ki

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ
2007 "Goodbye, 20 Years Old" Toy
"Three People" Lee Ki-chan
2015 "April Snow" Huh Gak

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lee, Eun-joo (ngày 30 tháng 7 năm 2008). “Talk of the town: Poor ticket sales take wind out of festival's sails”. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015.
  2. ^ Sohn, Ji-ae (ngày 6 tháng 12 năm 2013). “Werther's heartbreaking story revived on Korean stage”. Korea.net. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2015.
  3. ^ Kwon, Mee-yoo (ngày 19 tháng 12 năm 2010). “The Three Musketeers defends justice, friendship”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  4. ^ Park, Min-young (ngày 11 tháng 7 năm 2011). “Musical fans get star-studded bonanza”. The Korea Herald. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013.
  5. ^ Chung, Ah-young (ngày 10 tháng 2 năm 2010). “Star-Studded Cast Shine in Monte Cristo”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  6. ^ Jang, Kyung-jin (ngày 22 tháng 4 năm 2010). “PREVIEW: Musical Monte Cristo. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  7. ^ Sunwoo, Carla (ngày 2 tháng 2 năm 2012). “Three join Catch Me if You Can. Korea JoongAng Daily. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013.
  8. ^ Kwaak, Je-yup (ngày 27 tháng 3 năm 2012). “Hallyu star Kim leads in new musical”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  9. ^ Hong, Lucia (ngày 30 tháng 1 năm 2012). “SM Entertainment artists cast in musical Catch Me If You Can. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  10. ^ Chung, Ah-young (ngày 13 tháng 7 năm 2010). “Um, Moon to perform in Closer”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  11. ^ Yoon, Hee-seong (ngày 28 tháng 10 năm 2009). “PREVIEW: MBC TV series Hero. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  12. ^ Kwon, Mee-yoo (ngày 28 tháng 12 năm 2010). “Yonsama-JYP soap to reignite hallyu”. The Korea Times. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  13. ^ Park, So-jung (ngày 1 tháng 6 năm 2011). “Kim Suna, Lee Dong-wook and Um Ki-joon cast in new drama”. 10Asia. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012.
  14. ^ “Uhm Ki-joon in "Ghost - Drama". Hancinema. ngày 21 tháng 3 năm 2012.
  15. ^ “Uhm Ki-joon stars in "The Virus". Hancinema. ngày 14 tháng 1 năm 2013.
  16. ^ Jang, Kyung-jin (ngày 25 tháng 6 năm 2010). “INTERVIEW: Um Ki-joon Man of Vendetta”. 10Asia. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2012.
  17. ^ “Webtoon spooks movie audiences”. The Korea Herald. ngày 19 tháng 6 năm 2013.
  18. ^ 'Defendant' shows there's more to K-dramas than time-slip fantasies”. Yonhap News Agency. ngày 22 tháng 3 năm 2017.
  19. ^ “Uhm Ki-joon Joins "Cardiothoracic Surgery" as Complex Villain”. Hancinema. ngày 29 tháng 6 năm 2018.
  20. ^ “Uhm Ki Joon Takes Lead Role in "Penthouse". ngày 3 tháng 4 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]