Uno Shoma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Uno. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Uno Shoma
Shoma Uno Podium 2017 World Championships.jpg
Uno ở giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới 2017
Thông tin cá nhân
Đại diện cho quốc gia Nhật Bản
Sinh 17 tháng 12, 1997 (20 tuổi)
Nagoya, Nhật Bản
Quê nhà Nagoya, Nhật Bản
Cao 1,59 m (5 ft 2 12 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Huấn luyện viên Yamada Machiko
Higuchi Mihoko
Biên đạo múa Higuchi Mihoko
Biên đạo múa trước đây Yamada Machiko
Câu lạc bộ trượt băng nghệ thuật Toyota
Bắt đầu trượt băng từ 2002
Điểm cá nhân tốt nhất do ISU chấm
Điểm tổng 319.84
2017 CS Lombardia Trophy
Short program 104.87
2017 CS Lombardia Trophy
Free skate 214.97
2017 CS Lombardia Trophy

Uno Shoma (Nhật: 宇野 昌磨 (Vũ Dã Xương Ma)? sinh ngày 17 tháng 12 năm 1997) là một vận động viên trượt băng nghệ thuật người Nhật Bản. Anh đạt được huy chương Bạc giải Vô địch Thế giới 2017, huy chương Đồng giải Vô địch Bốn châu lục 2017, huy chương Bạc Grand Prix Final 2017-2018, huy chương Đồng Grand Prix Final các năm 2015, 2016, nhà vô địch Đại hội Thể thao Mùa đông châu Á 2017, và 2 lần vô địch giải Quốc gia Nhật Bản (2016, 2017). Trước đó, anh cũng là nhà vô địch Thế giới cấp Thiếu niên 2015, nhà vô địch Grand Prix Final cấp Thiếu niên 2014-2015, và giành huy chương Bạc giải Thế vận hội Giới trẻ 2012.

Uno là vận động viên trượt băng đầu tiên tiếp đất thành công cú flip bốn vòng trong một giải đấu quốc tế.[1] Anh cũng đang nắm giữ kỉ lục điểm số cao nhất của vận động viên cấp thiếu niên trong bài thi ngắn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Uno Shoma sinh ngày 17 tháng 12 năm 1997 ở Nagoya, Nhật Bản[2]. Anh có một em trai tên Uno Itsuki.

Uno từng học ở trường trung học cơ sở Nagoya Shiritsu Fuji[3] và trường phổ thông trung học Chukyo trực thuộc Đại học Chukyo. Anh bắt đầu theo học ngành Khoa học Thể thao tại Đại học Chukyo từ tháng 4 năm 2016.

Uno thích chơi game, phi tiêu và golf[2]. Anh rất ghét ăn rau, đặc biệt là những loại rau màu xanh và tím. Món ăn yêu thích của Uno là thịt nướng với cơm trắng. Anh cũng rất thích uống trà sữa.

Uno bắt đầu trượt băng từ năm 5 tuổi, khi gặp gỡ vận động viên Asada Mao trong một lần đến thăm sân băng. Chị Asada đã gợi ý cho anh thử tập trượt, và khi chọn giữa môn khúc côn cầu trên băng, trượt băng nghệ thuật và trượt băng tốc độ, Uno đã chọn trượt băng nghệ thuật vì muốn tham gia môn thể thao mà Asada đang tập luyện. Thần tượng của Uno là Takahashi Daisuke, và phong cách của anh cũng ảnh hưởng khá nhiều từ vận động viên này.[4]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 2011[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mùa giải 2009-2010, Uno đã giành chức vô địch Toàn quốc Nhật Bản cấp thiếu nhi (novice) và đứng hạng 3 ở giải vô địch Toàn quốc Nhật Bản cấp thiếu niên.

Năm 2010, anh lại lần nữa chiến thắng giải Toàn quốc Nhật Bản cấp thiếu nhi và đứng hạng 4 ở giải vô địch Toàn quốc Nhật Bản cấp thiếu niên.

Mùa giải 2011-2012: Ra mắt cấp độ thiếu niên tại các giải quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Uno bắt đầu tham gia hệ thống Grand Prix cấp thiếu niên (Junior Grand Prix, JGP) từ mùa giải này. Anh giành tấm huy chương Grand Prix cấp thiếu niên đầu tiên, đứng hạng 3 ở vòng loại Tallinn Cup (Estonia) sau khi về hạng 4 ở vòng loại trước đó được tổ chức tại Ba Lan. Anh đứng hạng 5 ở giải Toàn quốc cấp thiếu niên, và hạng 9 ở giải Toàn quốc Nhật Bản, được cử làm đại diện cấp thiếu niên tham gia giải Vô địch thế giới năm đó.

Tại Thế vận hội Giới trẻ 2012, Uno đã bật lên từ vị trí thứ 6 sau bài thi ngắn và giành huy chương Bạc ở thành tích cá nhân, góp phần mang đến chiến thắng cho toàn đội. Ở giải Vô địch thế giới cấp thiếu niên, anh đứng hạng 10.

Mùa giải 2012-2013[sửa | sửa mã nguồn]

Uno đứng hạng 6 ở vòng loại JGP tại Slovenia, và đạt được huy chương Bạc ở vòng loại tổ chức tại Đức với kỉ lục cá nhân mới ở cả 2 bài thi và tổng điểm 188.48. Anh cũng tiếp tục giành chức vô địch ở giải Toàn quốc Nhật Bản cấp thiếu nhi, và đứng hạng 11 ở giải Toàn quốc. Anh được chọn đi tham gia giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên sau khi Tanaka Keiji rút khỏi đội tuyển vì chấn thương[5], và xếp hạng 7 ở giải này.

Mùa giải 2013-2014: Ra mắt cấp độ trưởng thành tại các giải quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là năm thứ 3 Uno tham gia JGP, giành huy chương Đồng ở vòng loại Riga Cup (Latvia) và đứng hạng 4 ở vòng loại Tallinn (Estonia). Ở giải Vô địch Toàn quốc, anh thi đấu trong nhóm cuối và được cọ xát với những đàn anh cấp trưởng thành đang cạnh tranh giành vé tham gia Thế vận hội Mùa đông 2014. Anh đứng hạng 7 chung cuộc, và được chọn tham gia giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên. Ở giải này, anh xếp hạng 5.

Đây cũng là năm Uno lần đầu tham gia các giải cấp trưởng thành quốc tế, và chiến thắng giải đấu cấp trưởng thành đầu tiên, Gardena Spring Trophy.

Mùa giải 2014-2015: Vô địch Thế giới cấp thiếu niên[sửa | sửa mã nguồn]

Uno bắt đầu mùa giải khi giành chiến thắng lần thứ hai ở một giải đấu cấp trưởng thành quốc tế, Asian Trophy 2014, cũng là lần đầu tiên anh tiếp đất thành công một cú nhảy 4 vòng - Toe loop. Anh được chỉ định tham gia các vòng loại JGP tại Nhật Bản và Croatia. Anh đứng hạng nhì ở Nhật và đứng nhất ở Croatia với điểm kỉ lục cá nhân mới và lần đầu lọt vào vòng Chung kết Grand Prix cấp thiếu niên (JGP Final). Uno cũng lần đầu đạt danh hiệu vô địch quốc gia tại giải Vô địch Toàn quốc Nhật Bản cấp thiếu niên 2014-2015, trong đó anh đã tiếp đất thành công lần đầu cú Axel 3 vòng mà anh đã gặp khó khăn khi thực hiện suốt mấy năm qua. Tháng sau đó, anh giành huy chương vàng tại JGP Final, đứng hạng 3 sau bài thi ngắn và chiến thắng bài thi tự do mà không phạm lỗi nào, lập kỉ lục thế giới cho điểm bài thi tự do và tổng điểm của trượt băng đơn nam cấp thiếu niên, trở thành vận động viên đơn nam thứ 3 của Nhật Bản đạt danh hiệu này kể từ khi Hanyu Yuzuru giành chiến thắng năm 2009[6]. Tại giải Vô địch Toàn quốc Nhật Bản 2014-2015, anh đứng hạng 3 trong cả hai bài thi và giành huy chương bạc.

Uno ra mắt cấp độ trưởng thành ở các giải trượt băng của ISU tại giải Vô địch Bốn châu lục 2015; anh đứng nhì sau bài thi ngắn, thứ 5 sau bài thi tự do, và hạng 5 chung cuộc, giành điểm kỉ lục cá nhân mới ở cả hai bài thi. Anh kết thúc mùa giải bằng chiến thắng tại giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên 2015, đứng nhất bài thi ngắn với kỉ lục thế giới mới 84.87 điểm và đứng nhì ở bài thi tự do, trở thành vận động viên đơn nam Nhật thứ 5 giành chiến thắng ở giải này[4]. Đây cũng đánh dấu lần đầu có 2 vận động viên đơn nam thiếu niên của Nhật cùng được bước lên bục nhận giải, Uno hạng nhất và Yamamoto Sota hạng 3.[7]

Mùa giải 2015–2016: Thực hiện cú flip 4 vòng đầu tiên trên thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Uno tại vòng Chung kết Grand Prix 2015-2016

Uno bắt đầu mùa giải với kết quả đứng hạng 5 ở giải U.S Classic 2015, xếp hạng 9 sau bài thi ngắn nhưng giành chiến thắng ở bài thi tự do. Ít lâu sau, anh chiến thắng ở hạng mục đơn nam tại giải trượt băng Nhật Bản Mở rộng 2015 (Japan Open) với số điểm 185.48, vượt qua nhà vô địch thế giới Javier Fernandez, Brian JoubertPatrick Chan, góp phần làm nên chiến thắng của đội Nhật Bản tại giải này.

Lần đầu bước vào cấp trưởng thành tại giải Grand Prix, Uno giành huy chương bạc ở vòng loại Skate America 2015 sau khi đứng hạng 4 ở bài thi ngắn và hạng nhất ở bài thi tự do, chỉ kém nhà vô địch Max Aaron 1.52 điểm. Uno sau giải này đã thay đổi cách tập luyện, cho rằng "Trong giải Skate America, tôi nhận thấy thể lực mình không đủ nên đã tăng số lần tập dượt bài thi trong các buổi huấn luyện hàng ngày và bắt đầu có các buổi rèn luyện thể lực ngoài sân băng."[8] Tại vòng loại Trophée Éric Bompard 2015 sau đó, Uno đứng hạng nhất ở bài thi ngắn. Do các vụ tấn công Paris tháng 11 năm 2015, phần thi tự do đã bị hủy bỏ và xếp hạng sau bài thi ngắn được tính thành kết quả chung cuộc. Uno, vì vậy, đã chiến thắng giải này và giành vé vào vòng Chung kết Grand Prix 2015-2016 (Grand Prix Final) tại Barcelona.[9] Ở Tây Ban Nha, anh đã giành huy chương đồng và đạt kỉ lục cá nhân mới cho bài thi tự do là 190 điểm, xếp sau Hanyu và Fernández. Đây cũng là lần đầu tiên một tân binh trong hạng mục đơn nam tham gia Grand Prix Final đạt được huy chương.

Sau lần thứ hai giành được huy chương bạc toàn quốc (hạng 2 sau bài thi ngắn và hạng 3 ở bài thi tự do), Uno được chọn vào đội tuyển Nhật Bản tham gia giải Vô địch Bốn châu lục và giải Vô địch Thế giới. Uno đứng hạng 4 chung cuộc sau Patrick Chan, Jin BoyangYan Han tại giải Vô địch Bốn châu lục 2016, với hạng 2 ở bài thi ngắn xếp sau Jin và hạng 5 ở bài thi tự do do mắc lỗi trong cú nhảy 4 vòng. Tại giải Vô địch Thế giới 2016 ở Boston, anh đứng hạng 4 sau bài thi ngắn, hạng 6 sau bài thi tự do, và hạng 7 chung cuộc. Tuy vậy, cùng với thành tích đứng thứ 2 của đàn anh Hanyu Yuzuru, anh đã góp phần mang lại 3 suất tham dự giải Vô địch thế giới của đội tuyển Nhật vào năm 2017.

Ít lâu sau, tại Team Challenge Cup 2016, Uno trở thành vận động viên đầu tiên tiếp đất cú flip 4 vòng trong một cuộc thi quốc tế.[1][10] Anh đã thực hiện 2 cú nhảy 4 vòng ở bài thi ngắn - flip 4 vòng và cú nhảy phối hợp toe loop 4 vòng-toe loop 3 vòng, và đạt điểm kỉ lục cá nhân mới 105.74 điểm (không chính thức, không tính vào thành tích ISU).[11]

Mùa giải 2016–2017: Lần đầu Vô địch Quốc gia, đạt huy chương bạc giải Vô địch Thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Uno và Hanyu Yuzuru tại giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới 2017

Mở đầu mùa giải, Uno lần đầu giành chiến thắng tại Lombardia Trophy. Ở giải Nhật Bản Mở rộng, anh đạt kỉ lục cá nhân mới cho bài thi tự do với 198.55 điểm, góp phần mang đến chiến thắng cho đội Nhật Bản.

Ở vòng loại Skate America thuộc hệ thống giải Grand Prix, Uno lần đầu tiếp đất 3 cú nhảy 4 vòng trong 1 bài thi tự do, giành được huy chương vàng. Anh về nhì ở vòng loại Rostelecom Cup và đủ tiêu chuẩn lọt vào Grand Prix Final năm thứ 2 liên tiếp. Tháng 12 năm 2016, ở Grand Prix Final, Uno đứng hạng bốn ở phần thi ngắn với số điểm 86.82 sau khi ngã ở cú toe loop 4 vòng, do đó làm hỏng cú nhảy kết hợp. Anh trở lại ở phần thi tự do với điểm kỉ lục cá nhân 195.69 điểm và đứng hạng hai ở phần thi này. Anh xếp hạng ba chung cuộc và giành tấm huy chương đồng thứ hai liên tiếp, chỉ kém huy chương bạc Nathan Chen 0.34 điểm và kém 11.39 điểm so với nhà vô địch Hanyu Yuzuru.[12] Cuối tháng đó, anh lần đầu thắng giải Quốc gia tại Osaka, được triệu tập vào đội tuyển quốc gia tham gia giải Vô địch Thế giới, giải Vô địch Bốn Châu lục và Đại hội Thể thao Mùa đông châu Á.[13]

Tháng 2 năm sau đó, lần đầu tiên trong sự nghiệp, Uno phá vỡ mốc 100 điểm ở phần thi ngắn với số điểm 100.28 tại giải Vô địch Bốn Châu lục, trở thành người thứ 4 làm được điều này.[14] Ở phần thi tự do, anh tiếp đất 4 cú nhảy 4 vòng, bao gồm cả cú loop 4 vòng đầu tiên của anh ở đấu trường quốc tế và cú flip 4 vòng, nhưng lại ngã ở cả hai cú nhảy kết hợp axel 3 vòng.[15] Anh xếp hạng 2 ở phần thi ngắn, 3 ở phần thi tự do và giành huy chương đồng với số điểm 288.05 sau Nathan Chen và Hanyu Yuzuru.

Uno đứng thứ 2 sau bài thi ngắn, nhưng lội ngược dòng với bài thi tự do 188,84 điểm, giành chức vô địch ở Đại hội Thể thao Mùa đông châu Á 2017 tổ chức tại Sapporo.[16] Đầu tháng 3, anh tham gia giải Coupe du Printemps và giành chiến thắng, trong đó ghi được điểm kỉ lục cá nhân mới 104,31 điểm cho bài thi ngắn và 199,37 cho bài thi tự do (không chính thức, không ghi nhận vào thành tích ISU).[17]

Phục thù thất bại năm ngoái, ở giải Vô địch Thế giới tại Helsinki, anh lập kỉ lục cá nhân mới ở cả phần thi ngắn với 104.86 điểm và phần thi tự do với 214.45 điểm, giành huy chương bạc với tổng điểm 319.31 cao thứ 4 thế giới từ trước đến giờ, kém Nhà Vô địch Thế giới Hanyu Yuzuru chỉ vỏn vẹn 2.28 điểm và hơn vận động viên huy chương đồng Jin Boyang 15.73 điểm.[18]

Ở giải đấu cuối cùng của mùa này, World Team Trophy tổ chức tại Tokyo, Uno đã cùng đồng đội mang huy chương vàng về cho đội tuyển Nhật. Anh đứng đầu bài thi ngắn với 103.53 điểm và đứng thứ 2 ở bài thi tự do với 198.49 điểm sau người đồng đội Hanyu Yuzuru. Xét tổng điểm ở mảng đơn nam, anh giành được số điểm cao nhất, 303.02.[19]

Mùa giải 2016-2017 này là một mùa giải đại thành công với Uno, khi anh đoạt huy chương trong tất cả những giải đã tham gia.

Mùa giải 2017–2018: Mùa giải Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi mùa giải bắt đầu, ngày 01 tháng 06 năm 2017, Uno được kết nạp vào công ty Toyota, chính thức được đơn vị này tài trợ.[20] Anh cũng công bố 2 bài thi sẽ sử dụng trong mùa này - bản concerto Winter thuộc bộ tứ nhạc phẩm Bốn mùa của Antonio Vivaldi cho bài thi ngắn và trích đoạn Nessun Dorma thuộc nhạc kịch Turandot của Giacomo Puccini cho bài thi tự do.[21]

Shoma bắt đầu mùa giải với chiến thắng tại giải Lombardia Trophy thuộc ISU Challenger Series tổ chức tại Bergamo, Ý, lập kỉ lục cá nhân mới trong tất cả các phần thi. Đây cũng là lần đầu tiên Uno thực hiện 5 cú nhảy 4 vòng trong 1 bài thi tự do, với cú nhảy 4 vòng anh mới thực hiện được - Salchow 4 vòng.[22] Ở giải Nhật Bản Mở rộng 2017, anh cùng đồng đội giành huy chương bạc.

Bắt đầu giải Grand Prix, Uno đoạt huy chương vàng tại vòng loại Skate Canada, đứng đầu cả 2 bài thi. Sau khi hoàn thành cuộc thi này và trở về Nhật, Uno ngã bệnh, sốt cao 39 °C, được chẩn đoán mắc bệnh cúm. Tại vòng loại tiếp theo, Internationaux de France, do thể chất suy nhược chưa kịp hồi phục sau cơn bệnh, Uno thi đấu không tốt, đứng thứ 2 trong bài thi ngắn và thứ nhất bài thi tự do, về nhì chung cuộc sau Javier Fernandez, chấm dứt chuỗi điểm số hơn 300 kể từ Coupe du Printemps mùa trước. Kết quả tại 2 cuộc thi này giúp anh giành vé tham gia Grand Prix Final tổ chức tại chính quê nhà Nagoya của anh.[23] Tại đây, anh giành huy chương bạc với tỉ số cách biệt chỉ 0.5 điểm so với nhà vô địch Nathan Chen.

Tại giải Vô địch Toàn quốc Nhật Bản, Uno đã bảo toàn được danh hiệu vô địch quốc gia của mình mùa trước, đứng đầu cả 2 phần thi.[24] Ngày 24 tháng 12 năm 2017, Uno được triệu tập tham gia đội tuyển đại diện Nhật Bản thi đấu ở giải Vô địch Bốn Châu lục 2018 (tổ chức tại Đài Bắc), Thế vận hội Mùa đông 2018 (tổ chức tại Pyeongchang, Hàn Quốc), và giải Vô địch Thế giới (tổ chức tại Milan, Ý).[25][26]

Tại giải Vô địch Bốn Châu lục 2018, Uno đứng đầu sau bài thi ngắn với điểm số 100.49, chỉ hơn Jin Boyang của Trung Quốc 0.32 điểm. Anh đứng thứ 2 ở bài thi tự do với 197.45 điểm, chung cuộc nhận huy chương bạc, xếp sau Jin Boyang.

Kĩ năng trượt băng[sửa | sửa mã nguồn]

Kĩ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Uno có thể nhảy 4 kĩ thuật nhảy 4 vòng (Toe loop, Salchow, Loop, Flip) trong 5 kĩ thuật đã được thực hiện và 6 kĩ thuật tổng thể.

Toe loop là cú nhảy 4 vòng đầu tiên Uno thực hiện được. Những ngày còn cạnh tranh trong cấp thiếu niên, Uno gặp khó khăn khi không có được điểm kĩ thuật cao, và anh bắt đầu luyện tập cú Axel 3 vòng. Tuy vậy, anh lại gặp khó khăn với cú nhảy này trong nhiều năm, nên đến năm 2014, anh bắt đầu tập nhảy toe loop 4 vòng và tiếp đất thành công lần đầu tại Asian Trophy 2014. Cùng năm đó, Uno cũng đã thành công với cú Axel 3 vòng và đến hiện tại, đó là một trong những cú nhảy mạnh nhất của anh, thường xuyên nhận được điểm thưởng (GOE dương) cao.

Uno là người đầu tiên thực hiện cú Flip 4 vòng trong thi đấu quốc tế tại giải Team Challenge Cup 2016, được sách Kỷ lục Thế giới Guinness ghi nhận.[1] Cú nhảy này cũng đã trở thành vũ khí mạnh của anh, được đưa vào cả những bài thi ngắn và tự do. Anh cũng từng thử cú nhảy phối hợp Flip 4 vòng - Toe loop 3 vòng trong luyện tập [27], song chưa từng đưa vào thi đấu.

Uno đã luyện tập Loop 4 vòng và từng tiếp đất thành công ở các buổi luyện tập tại giải Vô địch Bốn Châu lục 2016 [28], và là người thứ 2 trên thế giới thành công tiếp đất Loop 4 vòng trong thi đấu quốc tế vào giải Vô địch Bốn Châu lục 2017, sau đàn anh Hanyu Yuzuru.[29]

Cú Salchow 4 vòng được Uno tập luyện từ mùa giải 2014-2015, khi còn ở cấp thiếu niên, song phải đến tận Lombardia Trophy 2017, Uno mới thành công tiếp đất cú nhảy này trong thi đấu quốc tế.[30] Ban đầu Uno dự định sử dụng Salchow 4 vòng làm bệ đỡ tăng điểm cơ bản cho mùa giải 2017-2018, nhưng sau đó đã từ bỏ ý định này và sử dụng cấu trúc bài thi của năm trước để đạt độ ổn định.[31]

Là một trong số ít những vận động viên có khả năng thực hiện nhiều kĩ thuật nhảy 4 vòng và thường xuyên sử dụng chúng trong thi đấu, Uno đạt được điểm kĩ thuật cơ bản cao - một vũ khí lợi hại giúp anh cạnh tranh trên trường quốc tế. Tuy vậy, các cú nhảy của Uno thiên về số lượng hơn chất lượng. Nhiều cú nhảy của anh bị các lỗi thiếu vòng, xoay chân trước khi nhảy (đặc biệt là Flip và Lutz), cú nhảy có độ cao và xa không được tốt. Anh cũng bị lỗi nhảy sai cạnh cú Lutz (còn gọi là lỗi Flutz, là cú Lutz được bật lên với cạnh trong thay vì cạnh ngoài lưỡi trượt). Kĩ thuật của anh đã dần được cải thiện sau khi bắt đầu tập với huấn luyện viên Alexander OuriashevChicago, Hoa Kỳ, song vẫn còn một chặng đường dài để đạt đến mức hoàn hảo.[32]

Kĩ thuật xoay tại chỗ và chuỗi các bước trượt của Uno rất tốt, thường được chấm cấp độ 4 (cấp độ cao nhất) và nhiều điểm thưởng. Trong bài thi tự do tại Grand Prix Final 2016, anh đã nhận được điểm thưởng tối đa cho tổ hợp xoay tại chỗ phối hợp.[33] Đây là lần đầu tiên 1 vận động viên đơn nam nhận được điểm thưởng tối đa cho 1 tổ hợp xoay tại chỗ kể từ thời vận động viên Stephane Lambiel.

Các yếu tố thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Động tác cantilever của Uno trong bài thi ngắn mùa giải 2016-2017

Từ những ngày còn thi đấu ở cấp thiếu niên, dù chưa vươn cao được vì thiếu các cú nhảy khó trong bài thi, Uno vẫn để lại ấn tượng khá sâu đậm về kĩ năng trình bày và diễn dịch. Càng về sau, khả năng biểu diễn của Uno càng được biết đến rộng rãi. Uno thể hiện kĩ năng chuyển động thân trên, đặc biệt là các cử động tay một cách phong phú và sáng tạo. Cộng với nhạc cảm tốt, biểu cảm xuất thần, Uno đã chinh phục nhiều khán giả, biến yếu tố diễn dịch thành điểm mạnh nhất của anh, thường xuyên nhận được điểm số trên 9 cho phần này.

Uno thể hiện một kĩ thuật trượt cơ bản chắc chắn. Các cử động đầu gối của anh khá uyển chuyển, có độ mướt cao, với cạnh lưỡi giày được nhấn sâu trong khi trượt thể hiện một kĩ thuật tốt. Tốc độ lướt trên băng của Uno vào loại khá, với độ bao phủ mặt băng ổn. Tuy vậy, Uno lại có nhược điểm là lạm dụng quá nhiều các bước chéo chân tăng tốc, khiến số lượng bước một chân và thời gian trượt một chân bị hạn chế, tính liên kết của bài thi không cao. Các bước liên kết vào cú nhảy của anh cũng thiếu đa dạng, nhưng gần đây đã có cải thiện nhất định.

“Bài tủ” của Uno là động tác cantilever, thường xuyên được anh sử dụng trong cả các bài thi và các bài biểu diễn. Ở bài thi ngắn mùa giải 2016-2017, Uno đã từng nhảy cú Axel 3 vòng cực khó với mở đầu là spread eagle, kết thúc với cantilever và thường nhận được điểm thưởng cao vì độ khó của nó.

Các kỉ lục và thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiếp đất thành công cú Flip 4 vòng tại Team Challenge Cup 2016, trở thành vận động viên trượt băng đầu tiên làm được điều này ở một giải đấu quốc tế.[1]
  • Phá kỉ lục điểm số cho bài thi ngắn của trượt băng nghệ thuật đơn nam cấp thiếu niên với 84.87 điểm tại giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới cấp thiếu niên 2015.
  • Phá kỉ lục điểm số cho tổng điểm 2 bài thi của trượt băng nghệ thuật đơn nam cấp thiếu niên với 238.27 điểm tại vòng Chung kết Grand Prix cấp thiếu niên 2014-2015. Kỉ lục trên sau đó đã được vận động viên Cha Jun-hwan phá vỡ tại vòng loại Grand Prix cấp thiếu niên Nhật Bản 2016.
  • Phá kỉ lục điểm số cho bài thi tự do của trượt băng nghệ thuật đơn nam cấp thiếu niên với 163.06 điểm tại vòng Chung kết Grand Prix cấp thiếu niên 2014-2015. Kỉ lục trên sau đó đã được vận động viên Daniel Samohin phá vỡ tại giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới cấp thiếu niên 2016.

Các bài thi[sửa | sửa mã nguồn]

Uno và các vận động viên đoạt giải ở giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới 2017
Uno và các vận động viên đoạt giải ở Grand Prix Final 2015-2016
Uno và các vận động viên đoạt giải ở giải Vô địch Trượt băng nghệ thuật Thế giới cấp thiếu niên 2015
Mùa giải Bài thi ngắn Bài thi tự do Biểu diễn thưởng lãm
2017–2018
[34]

2016–2017
[2][8]
  • Buenos Aires Hora Cero
  • Balada para un loco
    bởi Astor Piazolla
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi


2015–2016
[36][37]

2014–2015
[38]
  • Violin Sonata No.9
    bởi Ludwig van Beethoven
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi
  • Don Juan DeMarco
    bởi Michael Kamen
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi
  • The Blessed Spirits
    bởi Vanessa-Mae
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi, Machiko Yamada
2013–2014
[39]
  • The Blessed Spirits
    bởi Vanessa-Mae
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi, Machiko Yamada
  • Steps
    bơi Secret Garden
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi, Machiko Yamada
  • Tanguera
    bởi Mariano Mores
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi, Machiko Yamada
2012–2013
[40]
  • Tanguera
    bởi Mariano Mores
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi, Machiko Yamada
  • Steps
    bơi Secret Garden
    biên đạo bởi Mihoko Higuchi, Machiko Yamada
  • Bad Boy Good Man
    bởi Tape Five
2011–2012
[41]
2010–2011

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Uno trên bục huy chương tại Grand Prix Final 2016-17
Uno trên bục huy chương tại Junior Grand Prix Final 2014–15
Quốc tế[42]
Sự kiện 2009-10 2010-11 2011-12 2012-13 2013-14 2014-15 2015-16 2016-17 2017-18
Thế vận hội Mùa đông 2
Giải Vô địch Thế giới 7 2
Giải Vô địch Bốn Châu Lục 5 4 3 2
Grand Prix Final 3 3 2
Trophée Éric Bompard 1 2
Cup of Russia 2
Skate America 2 1
Skate Canada 1
Lombardia Trophy 1 1
U.S. Classic 5
Đại hội Thể thao Mùa đông châu Á 1
Asian Trophy 1
Gardena Spring Trophy 1
Coupe du Printemps 1
Quốc tế: Cấp thiếu niên[42]
Giải Vô địch Thế giới Thiếu niên 10 7 5 1
Thế vận hội Giới trẻ 2
Junior Grand Prix Final 1
Junior Grand Prix Croatia 1
Junior Grand Prix Estonia 3 4
Junior Grand Prix Đức 2
Junior Grand Prix Nhật Bản 2
Junior Grand Prix Latvia 3
Junior Grand Prix Ba Lan 4
Junior Grand Prix Slovenia 6
Quốc gia[43]
Giải Quốc gia Nhật Bản 9 11 7 2 2 1 1
Giải Quốc gia Nhật Bản cấp thiếu niên 3 4 5 2 2 1
Đồng đội
Team Challenge Cup 3 Đ
1 CN
Giải Nhật Bản Mở Rộng 1 Đ
1 CN
1 Đ
1 CN
2 Đ
3 CN
Thế vận hội Giới trẻ 1 Đ
2 CN
World Team Trophy 1 Đ
1 CN
R = Rút
Đ = Kết quả đội; CN = Kết quả cá nhân. Huy chương chỉ được trao cho kết quả đồng đội.

Kết quả chi tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Huy chương nhỏ cho bài thi ngắn và trượt tự do chỉ được trao tại những Giải đấu thuộc hệ thống giải của ISU. Trong những cuộc thi đồng đội, huy chương chỉ được trao dựa trên kết quả toàn đội. Đ – Kết quả đội. CN – Kết quả cá nhân. Điểm kỉ lục cá nhân sẽ được in đậm.

Uno tại Grand Prix Final 2016-17
Uno tại Grand Prix Final 2015-16
Mùa giải 2017-18
Ngày Sự kiện SP FS Tổng
16-17 tháng 2 năm 2018 Thế vận hội Mùa đông 2018 3
104.17
3
202.73
2
306.90
22-28 tháng 1 năm 2018 Giải Vô địch Bốn Châu Lục 2018 1
100.49
2
197.45
2
297.94
21-24 tháng 12 năm 2017 Giải Quốc gia Nhật Bản 2018 1
96.83
1
186.47
1
283.30
7-10 tháng 12 năm 2017 Grand Prix Final 2017–18 2
101.51
1
184.50
2
286.01
17-19 tháng 11 năm 2017 Internationaux de France 2017 2
93.92
1
179.40
2
273.32
27-29 tháng 10 năm 2017 Skate Canada 2017 1
103.62
1
197.48
1
301.10
7 tháng 10 năm 2017 Giải Nhật Bản Mở Rộng 2017 - 3
175.45
2Đ/3CN
14-17 tháng 9 năm 2017 Lombardia Trophy 2017 1
104.87
1
214.97
1
319.84
Mùa giải 2016-17
Ngày Sự kiện SP FS Tổng
20-23 tháng 4 năm 2017 World Team Trophy 2017 1
103.53
2
198.49
1Đ/1CN
302.02
29 tháng 3 - 2 tháng 4 năm 2017 Giải Vô địch Thế giới 2017 2
104.86
2
214.45
2
319.31
10-12 tháng 3 năm 2017 Coupe du Printemps 2017 1
104.31
1
199.37
1
303.68
23-26 tháng 2 năm 2017 Đại hội Thể Thao mùa đông Châu Á 2017 2
92.43
1
188.84
1
281.27
14-19 tháng 2 năm 2017 Giải Vô địch Bốn Châu Lục 2017 2
100.28
3
187.77
3
288.05
22-25 tháng 12 năm 2016 Giải Quốc gia Nhật Bản 2016 2
88.05
1
192.36
1
280.41
8-11 tháng 12 năm 2016 Grand Prix Final 2016–17 4
86.82
2
195.69
3
282.51
4-6 tháng 11 năm 2016 Rostelecom Cup 2016 1
98.59
2
186.48
2
285.07
21-23 tháng 10 năm 2016 Skate America 2016 1
89.15
1
190.19
1
279.34
1 tháng 10 năm 2016 Giải Nhật Bản Mở Rộng 2016 - 1
198.55
1Đ/1CN
8-11 tháng 9 năm 2016 Lombardia Trophy 2016 1
86.68
2
172.25
1
258.93
Mùa giải 2015-16
Ngày Sự kiện SP FS Tổng
22-24 tháng 4 năm 2016 Team Challenge Cup 2016 1
105.74
1
192.92
3Đ/1CN
28 tháng 3 - 3 tháng 4 năm 2016 Giải Vô địch Thế giới 2016 4
90.74
6
173.51
7
264.25
16-21 tháng 2 năm 2016 Giải Vô địch Bốn Châu Lục 2016 2
92.99
5
176.82
4
269.81
24-27 tháng 12 năm 2015 Giải Quốc gia Nhật Bản 2015-16 2
97.94
3
169.21
2
267.15
10-13 tháng 12 năm 2015 Grand Prix Final 2015-16 4
86.47
4
190.32
3
276.79
13 tháng 11 năm 2015 Trophée Éric Bompard 2015[nb 1] 1
89.56
huỷ bỏ
23-25 tháng 10 năm 2015 Skate America 2015 4
80.78
1
176.65
2
257.43
3 tháng 10 năm 2015 Giải Nhật Bản Mở Rộng 2015 - 1
185.48
1Đ/1CN
16-20 tháng 9 năm 2015 U.S Classic 2015 9
52.45
1
154.96
5
207.41
Mùa giải 2014-15
Ngày Sự kiện Cấp độ SP FS Tổng
2-8 tháng 3 năm 2015 Giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên 2015 Thiếu niên 1
84.87
2
147.67
1
232.54
9-15 tháng 2 năm 2015 Giải Vô địch Bốn Châu Lục 2015 Trưởng thành 2
88.90
5
167.55
5
256.45
26-28 tháng 12 năm 2014 Giải Quốc gia Nhật Bản 2014-15 Trưởng thành 3
85.53
3
165.75
2
251.28
11-14 tháng 12 năm 2014 Grand Prix Final cấp thiếu niên 2014-15 Thiếu niên 3
75.21
1
163.06
1
238.27
22-24 tháng 11 năm 2014 Giải Quốc gia Nhật Bản cấp thiếu niên 2014-15 Thiếu niên 1
82.72
2
128.00
1
210.72
8-11 tháng 10 năm 2014 JGP Croatia 2014 Thiếu niên 1
74.82
1
152.69
1
227.51
11-14 tháng 9 năm 2014 2014 JGP Japan 2014 Thiếu niên 2
69.78
2
150.21
2
219.99
Mùa giải 2013-14
Ngày Sự kiện Cấp độ SP FS Tổng
10-16 tháng 3 năm 2014 Giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên 2014 Thiếu niên 3
70.67
5
135.83
5
206.50
20-23 tháng 12 năm 2013 Giải Quốc gia Nhật Bản 2013-14 Trưởng thành 6
72.15
7
144.34
7
216.49
22-24 tháng 11 năm 2013 Giải Quốc gia Nhật Bản cấp thiếu niên 2013-14 Thiếu niên 2
71.61
3
134.49
2
206.10
22-24 tháng 10 năm 2013 JGP Estonia 2013 Thiếu niên 3
67.09
3
130.73
4
197.82
28-31 tháng 9 năm 2013 JGP Latvia 2013 Thiếu niên 6
58.22
3
117.59
3
175.81
Mùa giải 2012-13
Ngày Sự kiện Cấp độ SP FS Tổng
25 tháng 2 - 3 tháng 3 năn 2013 Giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên 2013 Thiếu niên 7
61.66
6
125.42
7
187.08
20-24 tháng 12 năm 2012 Giải Quốc gia Nhật Bản 2012-13 Trưởng thành 10
67.56
11
131.47
11
199.03
17-18 tháng 11 năm 2012 Giải Quốc gia Nhật Bản cấp thiếu niên 2012-13 Thiếu niên 2
66.21
2
124.37
2
190.58
10-13 tháng 10 năm 2012 JGP Germany 2012 Thiếu niên 2
63.48
1
125.00
2
188.48
26-29 tháng 9 năm 2012 JGP Slovenia 2012 Thiếu niên 4
61.42
6
112.92
6
174.34
Mùa giải 2011-12
Ngày Sự kiện Cấp độ SP FS Tổng
February 27 – ngày 4 tháng 3 năm 2012 Giải Vô địch Thế giới cấp thiếu niên 2012 Thiếu niên 10
57.71
10
118.21
10
175.92
14-16 tháng 1 năm 2012 Thế vận hội Giới trẻ 2012 Thiếu niên 6
51.52
2
115.63
2
167.15
22-25 tháng 12 năm 2011 Giải Quốc gia Nhật Bản 2011-12 Trưởng thành 7
63.49
10
126.93
9
190.42
25-27 tháng 11 năm 2011 Giải Quốc gia Nhật Bản cấp thiếu niên 2011-12 Thiếu niên 3
61.56
5
111.90
5
173.46
12-15 tháng 10 năm 2011 JGP Estonia 2011 Thiếu niên 4
56.29
3
118.86
3
175.15
14-17 tháng 9 năm 2011 JGP Poland 2011 Thiếu niên 8
48.69
3
114.55
4
163.24
Mùa giải 2009-2010
Ngày Sự kiện Cấp độ SP FS Tổng
25-27 tháng 12 năm 2009 Giải Quốc gia Nhật Bản cấp thiếu niên 2011-12 Thiếu niên 4
52.95
4
95.09
3
148.04

Notes

  1. ^ Sự kiện bị huỷ bỏ do vụ tấn công ở Paris.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Uno lands historic quad flip at Team Challenge”. Ngày 23 tháng 4 năm 2016. 
  2. ^ a ă â “Shoma UNO: 2016/2017”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. 
  3. ^ “第31回全国中学校スケート大会 長野市ホームページ”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2015. 
  4. ^ a ă “Next in line: Shoma Uno”. Ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  5. ^ “田中刑事が代表辞退 宇野出場へ フィギュア世界ジュニア”. Ngày 17 tháng 2 năm 2013. 
  6. ^ “宇野が逆転V!フリー、合計ともジュニア歴代最高更新 山本2位”. Ngày 13 tháng 12 năm 2014. 
  7. ^ “宇野 世界ジュニアVで2冠!山本3位で日本勢史上初W表彰台”. Ngày 8 tháng 3 năm 2015. 
  8. ^ a ă “Shoma Uno raises bar for 2016-17”. Ngày 21 tháng 6 năm 2016. 
  9. ^ “宇野昌磨がGPファイナル進出 テロで中止の仏杯、V確定”. Ngày 24 tháng 11 năm 2015. 
  10. ^ Elaine Lies (ngày 6 tháng 2 năm 2018). “Figure skating: Uno 'relaxed' at being in Hanyu's shadow”. Reuters. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018. 
  11. ^ “Kết quả Team Challenge Cup 2016 hạng mục đơn nam”. Ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
  12. ^ “Hanyu wins fourth consecutive Grand Prix Final”. Ngày 11 tháng 12 năm 2016. 
  13. ^ “Uno wins national title; hopes to improve consistency”. Ngày 26 tháng 12 năm 2016. 
  14. ^ “Hanyu takes third in short program at Four Continents”. Ngày 16 tháng 2 năm 2017. 
  15. ^ “Kết quả bài thi tự do giải Vô địch Bốn Châu lục 2017 hạng mục đơn nam” (PDF). Ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
  16. ^ “Nhật Bản đứng đầu bảng tổng sắp huy chương tại Đại hội Thể thao mùa Đông Châu Á lần thứ 8”. Ngày 28 tháng 2 năm 2017. 
  17. ^ “プランタン杯 宇野、歴代4位303.68点で優勝”. Ngày 13 tháng 3 năm 2017. 
  18. ^ “The Men's medals have been awarded”. Ngày 2 tháng 4 năm 2017. 
  19. ^ “宇野、初の羽生超え!史上3人目2戦連続“300点超””. Ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  20. ^ “トヨタ自動車、フィギュアスケート 宇野昌磨選手の入社を発表”. Ngày 1 tháng 6 năm 2017. 
  21. ^ “宇野、フリーはトゥーランドット 来季プログラム曲発表”. Ngày 1 tháng 5 năm 2017. 
  22. ^ “宇野昌磨 世界歴代2位の高得点 総得点319・84で圧巻の連覇”. Ngày 17 tháng 9 năm 2017. 
  23. ^ “宇野昌磨、フリー1位で総合2位/フランス杯詳細”. Ngày 18 tháng 11 năm 2017. 
  24. ^ “Shoma Uno defends national title despite free skate struggles”. Ngày 24 tháng 12 năm 2017. 
  25. ^ “Figure skating: Defending Olympic champ Hanyu books ticket to Pyeongchang”. Ngày 24 tháng 12 năm 2017. 
  26. ^ “Figure skating entries for the 2018 Winter Olympics”. Ngày 24 tháng 12 năm 2017. 
  27. ^ “優勝候補筆頭の宇野昌磨、4回転フリップ&3回転トウループ投入”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2016. 
  28. ^ “宇野昌磨「進歩してる」史上初の4回転ループ挑戦へ”. 
  29. ^ “宇野昌磨4回転ループ成功で3位、4大陸初表彰台”. 
  30. ^ “宇野昌磨、自己ベスト更新しV ロンバルディア杯”. 
  31. ^ “宇野“荒川流”で金!完成度優先 4回転減らし「いい演技を」”. 
  32. ^ “Uno, Ouriashev prove to be winning combination”. Ngày 22 tháng 8 năm 2017. 
  33. ^ “Kết quả bài thi tự do giải Grand Prix Final 2017 hạng mục đơn nam” (PDF). Ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
  34. ^ “宇野昌磨よりメッセージが届きました。”. Ngày 1 tháng 5 năm 2017. 
  35. ^ “四大陸は平昌五輪テストイベント! フィギュア日本勢の複数メダル期待。”. 
  36. ^ “Japanese stars debut programs at 'Dreams on Ice'. Ngày 12 tháng 6 năm 2017. 
  37. ^ “Shoma UNO: 2015/2016”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2016. 
  38. ^ “Shoma UNO: 2014/2015”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2015. 
  39. ^ “Shoma UNO: 2013/2014”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2014. 
  40. ^ “Shoma UNO: 2012/2013”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2013. 
  41. ^ “Shoma UNO: 2011/2012”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  42. ^ a ă “Kết quả qua các cuộc thi: Shoma UNO”. Liên đoàn Trượt băng Quốc tế. 
  43. ^ “宇野 昌磨/UNO Shoma” (bằng tiếng Nhật). 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]