Upsilon Andromedae b

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Upsilon Andromedae b
Saffar (Upsilon Andromedae b).jpg
An artist's impression of Upsilon Andromedae b and its parent star.
Khám phá
Khám phá bởiMarcy et al.
Nơi khám pháCalifornia and Carnegie
Planet Search

 United States
Ngày phát hiệnNgày 23 tháng 6 1996
Kĩ thuật quan sátRadial velocity
Đặc trưng quỹ đạo
Viễn điểm quỹ đạo~9.11 Gm
Cận điểm quỹ đạo~8.22 Gm
Bán trục lớn~8.91 Gm
Độ lệch tâm0.022±0.007[1]
Chu kỳ quỹ đạo4.62±0.23[1] d
0.01328 y
~116.4 h
Độ nghiêng quỹ đạo&0000000000000024.00000024+4
[2]
Củng điểm quỹ đạo2,450,034.053 ± 0.328[3]
Acgumen của cận điểm44.106 ± 25.561[3]
Biên độ70.51 ± 0.45[1]
Đặc trưng vật lý
Khối lượng&0000000000000001.7000001.70+0.33
0.24
[2] MJ

Upsilon Andromedae b (υ Andromedae b, viết tắt là Upsilon And b, υ And b), có tên chính thức là Saffar /ˈsæfɑːr/, là một hành tinh ngoài hệ mặt trời cách Mặt trời khoảng 44 năm ánh sáng trong chòm sao Tiên Nữ. Hành tinh quay quanh một ngôi sao giống mặt trời, Upsilon Andromedae A cứ sau năm ngày. Được phát hiện vào tháng 6 năm 1996 bởi Geoffrey Marcy và R. Paul Butler, đây là một trong những sao Mộc nóng đầu tiên được phát hiện.

Vào tháng 7 năm 2014, Liên minh Thiên văn Quốc tế đã đưa ra một quy trình đặt tên thích hợp cho các ngoại hành tinh nhất định và các ngôi sao chủ của chúng.[4] Quá trình liên quan đến đề cử tên công khai và bỏ phiếu cho các tên mới.[5] Vào tháng 12 năm 2015, IAU đã công bố tên chiến thắng là Saffar cho hành tinh này.[6] Cái tên chiến thắng đã được gửi bởi Câu lạc bộ Thiên văn học Vega của Morocco và vinh danh nhà thiên văn học thế kỷ 11 Ibn al-Saffar.[7]

Khám phá[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như phần lớn các hành tinh ngoài hệ mặt trời đã biết, Upsilon Andromedae b được phát hiện bởi các biến đổi trong vận tốc xuyên tâm của ngôi sao do lực hấp dẫn của hành tinh gây ra. Sự tồn tại của hành tinh được công bố vào tháng 1 năm 1997, cùng với 55 Cancri b và hành tinh Tau Boötis.[8]

Giống như 51 Pegasi b, nó là hành tinh ngoài hệ mặt trời đầu tiên được phát hiện quay xung quanh một ngôi sao bình thường, Upsilon Andromedae b quay rất gần ngôi sao của nó, gần hơn quỹ đạo của Sao Thủy quay quanh Mặt Trời. Hành tinh này mất 4.617 ngày để hoàn thành một quỹ đạo, với bán trục lớn là 0,0595 AU.[9]

Một hạn chế của phương pháp vận tốc hướng tâm được sử dụng để phát hiện Upsilon Andromedae b là chỉ có thể tìm thấy khối lượng tối thiểu của hành tinh. Khối lượng thực có thể lớn hơn nhiều tùy thuộc vào độ nghiêng của quỹ đạo. Một khối lượng bằng 1,7 khối lượng Sao Mộc và độ nghiêng quỹ đạo là 24° sau đó đã được tìm thấy bằng phương pháp nghiên cứu quang phổ với độ phân giải cao.

Tính chất vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Với một khối lượng lớn, có khả năng Upsilon Andromedae b là một hành tinh khí khổng lồ không có bề mặt rắn.

Kính thiên văn vũ trụ Spitzer đã đo nhiệt độ hành tinh và phát hiện ra rằng sự khác biệt giữa hai bên bề mặt của Upsilon Andromedae b khoảng 1.400 độ C, với một bên từ âm 20 đến 230 độ và một bên khoảng 1.400 đến 1.650 độ C.[10] Sự chênh lệch nhiệt độ đã dẫn đến suy đoán rằng Upsilon Andromedae b bị khóa thủy triều với cùng một phía luôn phải luôn hướng về Upsilon Andromedae A.

Hành tinh dường như không có các mặt trăng lớn, vì các lực thủy triều sẽ đẩy chúng ra khỏi quỹ đạo hoặc phá hủy chúng trong khoảng thời gian ngắn so với tuổi của hệ thống.[11]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Ligi, R.; và đồng nghiệp (2012). “A new interferometric study of four exoplanet host stars : θ Cygni, 14 Andromedae, υ Andromedae and 42 Draconis”. Astronomy & Astrophysics. 545: A5. arXiv:1208.3895. Bibcode:2012A&A...545A...5L. doi:10.1051/0004-6361/201219467.
  2. ^ a ă Pizkorz, D.; và đồng nghiệp (tháng 8 năm 2017). “Detection of Water Vapor in the Thermal Spectrum of the Non-transiting Hot Jupiter Upsilon Andromedae b”. The Astronomical Journal. 154 (2): 78. arXiv:1707.01534. Bibcode:2017AJ....154...78P. doi:10.3847/1538-3881/aa7dd8.
  3. ^ a ă McArthur, Barbara E.; và đồng nghiệp (2010). “New Observational Constraints on the υ Andromedae System with Data from the Hubble Space Telescope and Hobby Eberly Telescope (PDF). The Astrophysical Journal. 715 (2): 1203. Bibcode:2010ApJ...715.1203M. doi:10.1088/0004-637X/715/2/1203.
  4. ^ NameExoWorlds: An IAU Worldwide Contest to Name Exoplanets and their Host Stars. IAU.org. 9 July 2014
  5. ^ NameExoWorlds The Process
  6. ^ Final Results of NameExoWorlds Public Vote Released, International Astronomical Union, 15 December 2015.
  7. ^ NameExoWorlds The Approved Names
  8. ^ Butler, R. Paul; Marcy, Geoffrey W.; Williams, Eric; Hauser, Heather; Shirts, Phil (1997). “Three New 51 Pegasi-Type Planets”. The Astrophysical Journal. 474 (2): L115–L118. Bibcode:1997ApJ...474L.115B. doi:10.1086/310444. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  9. ^ Butler, R. P.; Wright, J. T.; Marcy, G. W.; Fischer, D. A.; Vogt, S. S.; Tinney, C. G.; Jones, H. R. A.; Carter, B. D.; Johnson, J. A. (2006). “Catalog of Nearby Exoplanets”. The Astrophysical Journal. 646 (1): 505–522. arXiv:astro-ph/0607493. Bibcode:2006ApJ...646..505B. doi:10.1086/504701. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp) (web version)
  10. ^ Harrington, J; Hansen BM; Luszcz SH; Seager S; Deming D; Menou K; Cho JY; Richardson LJ (27 tháng 10 năm 2006). “The phase-dependent infrared brightness of the extrasolar planet upsilon Andromedae b”. Science. 314 (5799): 623–6. arXiv:astro-ph/0610491. Bibcode:2006Sci...314..623H. doi:10.1126/science.1133904. PMID 17038587.
  11. ^ Barnes, J.; O'Brien, D. (2002). “Stability of Satellites around Close-in Extrasolar Giant Planets”. The Astrophysical Journal. 575 (2): 1087–1093. arXiv:astro-ph/0205035. Bibcode:2002ApJ...575.1087B. doi:10.1086/341477.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: Sky map 01h 36m 47.8s, +41° 24′ 20″