Userkaf

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Userkaf (nghĩa là Linh hồn của Ngài mạnh mẽ[4]) là vị pharaon đã sáng lập Vương triều thứ 5 của Ai Cập cổ đại và là vị pharaon đầu tiên bắt đầu truyền thống xây dựng ngôi đền mặt trờiAbusir.[5] Ông cai trị từ năm 2494-2487[1] TCN và đã cho xây dựng phức hợp kim tự tháp Userkaf ở Saqqara.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Đồ hình của Userkaf trong bản Danh sách Vua Abydos.

Userkaf có thể là một người cháu ngoại của Djedefre thông qua người con gái của ông ta, Neferhetepes.[6] Danh tính người cha của ông không được biết đến, trong khi một số học giả tin rằng mẹ của ông là Khentkaus I (hoặc là vợ của ông trước khi ông lên ngôi).[7]

Một trong những người vợ của Userkaf là nữ hoàng Neferhetepes, bà là mẹ của Sahure.[8][9] Userkaf cũng có thể là cha của Neferirkare Kakai, một người con trai của Khentkaus I.

Một quan điểm khác ít phổ biến hơn nhằm phù hợp với một câu chuyện trong cuộn giấy cói Westcar, đó là ba vị vua đầu tiên của vương triều thứ năm là anh em ruột của nhau-họ là con trai của một người phụ nữ tên là Raddjedet.

Triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Độ dài triều đại[sửa | sửa mã nguồn]

Độ dài triều đại của Userkaf chưa được xác định một cách chính xác. Theo như cuộn giấy cói Turin thì Userkaf đã cai trị trong bảy năm, trong khi Africanus tuyên bố rằng bản tóm tắt của Manetho xác định triều đại của ông đã kéo dài 28 năm. Trên tấm bia đá Palermo còn lưu giữ lại năm diễn ra lần kiểm kê gia súc thứ ba dưới triều đại của Userkaf, tương ứng với năm trị vì thứ sáu của ông nếu như việc kiểm kê gia súc diễn ra theo chu kỳ hai năm một lần vào thời Cổ vương quốc. Nhờ vào việc phân tích những khoảng trống nằm trên tấm bia đá Palermo giữa niên đại này và triều đại của Sahure giúp chỉ ra rằng Userkaf đã không cai trị quá 12 đến 14 năm[10]. Trong các nghiên cứu so sánh giữa những mảnh vỡ của tấm bia đá Palermo, Georges Daressy kết luận rằng Userkaf đã trị vì khoảng 10 năm[11]. Con số này được cho là hợp lý hơn nhiều so với con số 28 năm của Manetho. Ngoài ra, "năm diễn ra lần kiểm kê gia súc thứ năm" cũng đã được nhắc đến bốn lần trong ngôi đền mặt trời của Userkaf,[12] điều này có thể chỉ ra rằng Userkaf đã trị vì ít nhất 10 năm. Tuy nhiên, những dòng chữ khắc này lại không hoàn chỉnh, đặc biệt là tên của nhà vua đã bị mất, vì vậy chúng có thể nhắc đến triều đại của Sahure hoặc Neferirkare [13] chứ không phải là của Userkaf.

Sự kiện[sửa | sửa mã nguồn]

Nikaankh, một viên quan dưới triều đại của Userkaf, đã sao chép lại một sắc lệnh hoàng gia của Userkaf trong mastaba của ông ta. Theo sắc lệnh này, Userkaf dâng tặng và cải tạo lại một số lãnh địa hoàng gia ở miền trung Ai Cập để dành cho việc thờ cúng thần Hathor[14]. Có vẻ như, Userkaf cũng đã bắt đầu cho xây dựng đền thờ Monthu ở Tod, tại nơi đây ông là vị pharaon được chứng thực xa xưa nhất.

Triều đại của Userkaf có thể đã chứng kiến sự hồi phục về thương mại giữa Ai Cập với các nước láng giềng Địa Trung Hải nhờ vào một loạt các cuộc thám hiểm bằng đường biển theo như những gì được lưu lại trong ngôi đền tang lễ của ông[15].

Các công trình[sửa | sửa mã nguồn]

Đền Mặt trời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi đền mặt trời của Userkaf, 1 = obelisk, 2 = obelisk pedestal, 3 = statue shrines, 4 = court open to the sun, 5 = altar, 6 = outbuilding, 7 = causeway, 8 = valley temple

Công trình sáng tạo nhất của Userkaf chắc chắn là ngôi đền mặt trời của ông tại Abu Gorab. Nó được Richard Lepsius ghi nhận lần đầu tiên vào giữa thế kỷ 19, sau đó tiếp tục được Ludwig Borchardt nghiên cứu vào đầu thế kỷ 20 và được Herbert Ricke khai quật một cách triệt để vào năm 1954. Theo như biên niên sử hoàng gia, việc xây dựng ngôi đền này bắt đầu từ năm thứ 5 dưới triều đại của Userkaf và nhân dịp này, ông đã ban tặng 24 lãnh địa hoàng gia để dành cho việc duy trì ngôi đền[16]. Abusir có thể đã được lựa chọn do nó nằm gần với Sakhebu, một địa điểm được đề cập đến trong nhiều ghi chép khác nhau ví dụ như trong cuộn giấy cói Westcar như là một trung tâm tôn giáo của thần Re. Ngôi đền mặt trời của Userkaf nằm trải dài trên một diện tích 44 x 83 m[17] và được gọi là

ra
O48
O25

Nḫn Rˁ.w, Pháo đài của thần Ra.

Người ta tin rằng việc xây dựng ngôi đền mặt trời này đánh dấu một sự thay đổi từ việc thờ cúng hoàng gia, vốn chiếm ưu thế trong giai đoạn đầu vương triều thứ 4, sang tôn thờ thần mặt trời Re. Nhà vua không còn được tôn thờ một cách trực tiếp như là một vị thần nữa, nhưng thay vào đó là giống như con trai của thần Re và điều này dẫn đến sự thay đổi trong các nghi thức thờ cúng hoàng gia.

Trong bối cảnh này, ngôi đền mặt trời, quay mặt hướng về phía tây, là nơi dùng để thờ cúng mặt trời lặn(có nghĩa là đang tàn lụi) và được coi là một phần trong phức hợp tang lễ hoàng gia. Và vì lý do này, bản thân ngôi đền mặt trời này đã mang nhiều đặc điểm chung về mặt kiến ​​trúc với khu phức hợp kim tự tháp: nó bao gồm một ngôi đền cao xây dựng bao quanh một cột tháp lớn và một con đường đắp dẫn đến một ngôi đền thung lũng hình chữ nhật, gần với sông Nile. Tuy nhiên, ngôi đền thung lũng lại không hướng về bất cứ phương nào cả và con đường đắp cũng không nằm thẳng hàng với trục của ngôi đền thờ cao. Quan điểm cho rằng ngôi đền mặt trời này và khu phức hợp kim tự tháp có đặc điểm tương tự nhau này còn được chứng minh thông qua cuộn giấy cói Abusir[18][19], cuộn giấy này ghi chép lại những hoạt động tôn giáo diễn ra tại các ngôi đền mặt trời và chúng có liên quan mật thiết với những nghi lễ diễn ra trong các khu phức hợp tang lễ của hoàng gia. Hệ tư tưởng mới này còn tiếp tục tồn tại tới giai đoạn cuối vương triều thứ năm và có tới sáu trong số bảy vị vua kế vị Userkaf sau này đã xây dựng các ngôi đền thờ mặt trời ở Abusir.

Tượng bán thân[sửa | sửa mã nguồn]

Mảnh vỡ từ bức tượng bằng đá thạch cao tuyết hoa của Userkaf được tìm thấy tại ngôi đền mặt trời của ông ở Abu Gurob, ngày nay nằm tại bảo tàng Ägyptisches ở Berlin (ÄM 19774).

Một bức tượng bán thân của Userkaf đã được tìm thấy trong ngôi đền mặt trời của ông tại Abusir và hiện đang nó được trưng bày tại Bảo tàng Ai Cập, Cairo. Phần đầu của bức tượng Userkaf cao 45 cm và được chạm khắc từ đá cát kết màu xám. Tác phẩm điêu khắc này được đánh giá là đặc biệt quan trọng bởi vì nó là một trong số rất ít các tác phẩm điêu khắc có niên đại từ thời kỳ Cổ vương quốc mà có khắc họa cảnh nhà vua đội Deshret (Vương miện đỏ) của Hạ Ai Cập. Đầu tượng này được phát hiện vào năm 1957. Một bức tượng thứ hai của Userkaf, hiện cũng đang được lưu giữ tại Bảo tàng Ai Cập, đã được phát hiện trong khu phức hợp kim tự tháp của ông tại Saqqarah. Nó là một đầu tượng khổng lồ được tạc từ đá granite đỏ của Aswan.

Phức hợp Kim tự tháp[sửa | sửa mã nguồn]

Kim tự tháp đổ nát của Userkaf tại Saqqara.

Trái ngược với vị tiên vương của mình, Shepseskaf, Userkaf đã xây dựng một kim tự tháp dành cho bản thân ông tại Saqqarah và nằm gần khu phức hợp kim tự tháp của Djoser. Bởi vì khu phức hợp kim tự tháp của ông dường như đã hoàn thiện, thế nên người ta cho rằng triều đại của Userkaf chắc chắn phải kéo dài hơn con số 7 năm vốn được ghi lại trong cuộn giấy cói Turin.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Shaw, Ian biên tập (2000). The Oxford History of Ancient Egypt. Oxford University Press. tr. 480. ISBN 0-19-815034-2. 
  2. ^ a ă â b c Userkaf accessed ngày 29 tháng 4 năm 2012
  3. ^ Peter Dorman: The biographical inscription of Ptahshepses from Saqqara: A newly identified fragment, Journal of Egyptian archaeology A. 2002, vol. 88, pp. 95-110 [16 pages], summary available here
  4. ^ Clayton, Peter. Chronicle of the pharaons, Thames & Hudson Ltd, 1994. p.61
  5. ^ Quirke, Stephen (2001). The Cult of Ra: Sun Worship in Ancient Egypt. Thames & Hudson. p. 127
  6. ^ Ian Shaw The Oxford history of ancient Egypt p.98
  7. ^ Aidan Dodson & Dyan Hilton, The Complete Royal Families of Ancient Egypt: A Genealogical Sourcebook of the pharaons, Thames & Hudson, 2004. p.65
  8. ^ Archaeogate Egittologia: Sahure's Causeway
  9. ^ Clayton, p.61
  10. ^ Cf. J.H. Breasted § 153-160, p. 68–69
  11. ^ Georges Daressy
  12. ^ Miroslav Verner: "Archaeological Remarks on the 4th and 5th Dynasty Chronology". In: Archiv Oriental. vol. 69, Prag 2001, S. 363–418 (PDF; 31 MB).
  13. ^ Werner Kaiser: "The sun temples of the 5th Dynasty". In: Communications of the German Archaeological Institute Cairo office. Vol 14, Mainz, 1956, p. 108
  14. ^ Cf. J.H. Breasted § 216-230, p. 100–106
  15. ^ cf. J. Ph. Lauer et A. Labrousse
  16. ^ Cf. J.H. Breasted § 156, p.68
  17. ^ Herbert Ricke. The sun temple of King Userkaf 2 vols; Cairo 1965-1969
  18. ^ #ArchAb1
  19. ^ #ArchAb2

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mariette, Auguste (1889). Les mastabas de l’Ancien Empire. Paris. AM. ;
  • Sethe, Kurt Heinrich (1903). Urkunden des Alten Reich 1. Leipzig: J.C. Hinrichs'sche Burchhandlung. KHS. ;
  • Jean-Philippe Lauer & Audran Labrousse (2000). Les complexes funéraires d'Ouserkaf et de Néferhétepès. IFAO. LL. .
  • Breasted, James Henry (1906). Ancient records of Egypt historical documents from earliest times to the persian conquest, collected edited and translated with commentary. The University of Chicago press. JHB. 
  • Daressy, Georges (1916). La Pierre de Palerme et la chronologie de l'Ancien Empire. Cairo: BIFAO. GD. 
  • Hellouin de Cenival, Jean-Louis; Paule Posener-Krieger (1968). The Abusir Papyri, Series of Hieratic Texts. London: British Museum. ;
  • Posener-Krieger, Paule (1976). Les Archives du temple funéraire de Néferirkarê-Kakai (Les Archives d'Abousir). IFAO. ;
  • Hawass, Zahi, "The Head of Userkaf" in "The Splendour of the Old Kingdom" in The Treasures of the Egyptian Museum, Francesco Tiradritti (editor), The American University in Cairo Press, 1999, p. 72-73.
  • Magi, Giovanna. Saqqara: The Pyramid, The Mastabas and the Archaeological Site, Casa Editrice Bonechi, 2006
  • Mahfouz, Naguib. "King Userkaf's Forgiveness" in Voices from the Other World (translated by Robert Stock), Random House, 2003.
  • Verbrugghe, Gerald and Wickersham, John. Berossos and Manetho, University of Michigan Press 2001 (ISBN 0-472-08687-1)