Vân Cư Đạo Ưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vân Cư Đạo Ưng
雲居道膺
Yunju Daoying Image Zen.jpg
Thiền sư Vân Cư Đạo Ưng
Tôn giáoThiền Tông
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh830
Mất902
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmĐộng Sơn Lương Giới
Kế nhiệmĐồng An Đạo Phi
Hoạt động tôn giáo
Sư phụĐộng Sơn Lương Giới
Đồ đệĐồng An Đạo Phi

Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng (雲居道膺, Ungo Dōyō, 835?-902) là một Thiền Sư Trung Quốc, sống vào đời Hậu Đường, một trong các môn đệ nối pháp xuất sắc nhất của Thiền Sư Động Sơn Lương Giới- Khai tổ Tông Tào Động. Pháp mạch truyền thừa Tào Động Chính Tông sau này đều nhờ các thế hệ môn đệ của Thiền Sư Vân Cư Đạo Ưng mà được trường tồn, còn pháp mạch của Thiền Sư Tào Sơn Bản Tịch chỉ truyền qua 5 đời rồi mất dấu hẳn. Sư có pháp tử là Thiền Sư Đồng An Đạo Phi.

Cơ Duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sư họ Vương (王), xuất thân ở huyện Ngọc Điền (玉田縣), Kế Môn (薊門) , U Châu tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Từ lúc nhỏ sư vốn đã thông minh lanh lợi.

Năm 25 tuổi sư đến thọ Cụ Túc giới tại Diên Thọ Tự (延壽寺) ở Phạm Dương, U Châu. Thầy bản sư bắt sư học thuộc Kinh văn Tiểu Thừa, sư than rằng : Đại trượng phu đâu thể để luật nghi trói buộc?.

Sau đó, sư đến yết kiến với Thiền Sư Thúy Vi Vô Học ở Thúy Vi Tự翠微寺), núi Chung Nam Sơn (終南山) và tham học tại pháp hội này 3 năm.

Sư đến tham vấn Thiền Sư Động Sơn Lương Giới, sau đó sư kết am ở Tam Phong chuyên tâm tu tập và cảm ứng được điềm lành, thiên thần đến cúng dàng. Thiền Sư Động Sơn sau đó biết chuyện đã khiến trách sư còn chấp kiến giải, từ đó sư ẩn thân chuyên tâm tu tập, diệt trừ sạch phiền não , tâm tịch diệt, thiên thần ba ngày đến cúng dàng không thấy sư nữa nên thôi:

Sư cất thảo am nơi Tam Phong, trải qua tuần nhật không xuống trai đường. Động Sơn thấy lạ hỏi:

- Mấy ngày nay sao ngươi không đến thọ trai?

Sư thưa:- Mỗi ngày có thiên thần cúng dường.

Động Sơn bảo:

- Ta bảo ngươi là kẻ vẫn còn kiến giải. Ngươi rảnh chiều lại.

Chiều, Sư đến. Động Sơn gọi:- Ưng am chủ!

Sư ứng thanh: Dạ!

Động Sơn bảo:- Chẳng nghĩ thiện chẳng nghĩ ác là cái gì?

Sư trở về am ngồi yên lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.

( Trích trong Thiền Sư Trung Hoa (I,II,III) , Hòa Thượng Thích Thanh Từ soạn dịch)

Sau đó, sư kiến tính và được Động Sơn ấn khả , trong Pháp hội Động Sơn, sư mỗi khi hỏi đáp đều không ngại, Động Sơn thầm tự chấp nhận và khen ngợi: "Về sau, gã này nghìn, vạn người không thể sánh". Một hôm Thiền Sư Động Sơn hỏi: Kẻ đại xiển đề[1] phạm năm tội cực ác, hiếu dưỡng ở đâu? Sư thưa :Đó mới gọi là hiếu dưỡng chứ! Từ đó, Động Sơn vui vẻ cử sư làm chức thủ chúng.

Đầu tiên, sư trụ tại Tam Phong (三峰), sau đó đến Vân Cư Sơn (雲居山) ở Hồng Châu (洪州), Tỉnh Giang Tây và bắt đầu xiển dương Phật Pháp suốt 30 năm.

Sư xiển dương Tào Động Tông mạnh mẽ đạo phong trùm khắp thiên hạ, thường có một nghìn năm trăm tăng chúng đến tham học. Chung Vương ở Nam Xương nguyện đời đời tôn sư làm thầy.

Đời Đường niên hiệu Thiên Phục năm đầu (902) mùa Thu, Sư có chút ít bệnh, đến ngày hai mươi tám tháng chạp, vì chúng nói pháp lần chót. Sau đó, Sư từ biệt chúng, chúng đều thương mến. Lưu lại đến ngày mùng ba tháng 1 năm sau, Sư hỏi thị giả: Hôm nay ngày mấy? Thị giả thưa: mùng ba. Sư bảo: ba mươi năm sau, chỉ nói là cái ấy! Sư ngồi ngay thẳng từ biệt chúng rồi thị tịch. Vua ban hiệu Hoằng Giác Thiền Sư (弘覺禪師), tháp tên là Viên Tịch (圓寂).

Pháp Ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

"Các ông dù học được việc bên Phật, vẫn là dụng tâm sai lầm rồi. Các ông đâu không thấy cổ nhân giảng được chư thiên rải hoa cúng dường, đá gật đầu, còn chẳng can hệ việc chính mình, ngoài ra còn có nghĩa gì? Như hiện nay toan đem thân tâm hữu hạn nhằm trong vô hạn mà dùng thì có giao thiệp gì? Như đem khúc cây vuông tra vào lỗ tròn thì sự sai ngoa nhiều ít? Nếu không hợp việc ấy, dù ông nói tươi như hoa đẹp như gấm vẫn là vô dụng, vì chưa rời tình thức vậy. Nếu tất cả việc đều hướng trong ấy đến sạch hết mới được không lỗi, mới được xuất thân. Nếu một sợi lông một mảy tóc đẹp chẳng hết liền bị trần lụy, huống là quá nhiều, sai chừng hào ly phạm lỗi bằng quả núi. Cổ nhân nói: Chỗ học chẳng sạch hết, ấy là kẻ thế gian; việc trong khuê các bỏ chẳng đặng, đều là rỉ chảy. Phải nhắm trong ấy nhận lấy, trong mọi hành động đều dẹp sạch tất cả việc, mới được không lỗi. Như người sự sự đều liễu, vật vật đều thông, chỉ gọi là người liễu sự, chẳng gọi là tôn quí. Nên biết tôn quí tự có đường riêng, là vật thế gian rất trọng rất quý. Chẳng được sau này hướng bên tôn quí. Nên biết không thể nghĩ bàn, chẳng xứng tâm mong muốn. Do đó cổ nhân nói: "Ví như hai gương sáng, ánh sáng đối nhau, ánh sáng soi nhau, không thiếu không dư." Đâu chẳng phải là một loại, vậy mà vẫn còn gọi việc bên ảnh tượng. Như khi mặt trời mọc lên, ánh sáng soi khắp thế gian là một nửa, một nửa này gọi là gì? Như hiện nay người chưa nhận được việc thô thiển bóng sáng ở ngoài cửa, mà muốn làm việc trong nhà thì làm sao làm được?"

"Muốn thể hội việc này phải như người thở ra không hít vào, mới cùng người này tương ưng. Nếu thể hội được ý người ấy mới cho ít phần nói bàn, mới có ít phần hành lý. Tạm thời chẳng hiện như đồng người chết, huống là như nay bàn năm luận tháng? Như người thường hiện thì lo gì việc nhà chẳng xong, muốn biết việc lâu xa chỉ như việc hiện nay, hiện nay nếu được lâu xa cũng được. Như người ở viễn phương về nhà, đi đến là phải, phải thì tất cả đều phải, chẳng phải thì tất cả đều chẳng phải. Cần được lửa sáng trên đầu phát, cũng chẳng phải hay làm tất cả, tất cả chẳng làm. Nên nói: trọn ngày tham việc trước mặt, quên mất việc sau lưng. Nếu thấy việc sau lưng, quên mất việc trước mặt. Như người chẳng trước sau thì có việc gì?"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiền Sư Trung Hoa(tập 1,2,3) do hòa thượng thích thanh từ dịch.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh(Tập 1,2) do Hoà Thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986
  1. ^ Chỉ hạng người không thể thành Phật, gồm hai loại là đoạn thiện xiển đề và đại bi xiển đề. Đọan thiện xiển đề là khởi đại tà kiến đoạn trừ tất cả thiện căn; đại bi xiển đề tức là hàng bồ- tát có tâm đại bi muốn độ hết tất cả chúng sanh rồi thành Phật, nhưng chúng sanh không cùng tận, nên rốt ráo cũng không thành Phật