Vân Canh, Hoài Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vân Canh, Hoài Đức
Địa lý
Diện tích 4,49 [1]
Dân số  
 Tổng cộng 6.533 người (1999)[2]
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Hà Nội
Huyện Hoài Đức
Mã hành chính 09862[3]

Vân Canh là một thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Vân Canh nằm ở phía Đông huyện Hoài Đức Gồm 3 thôn: Kim Hoàng, An Trai và Hậu Ái.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Vân Canh đã được hình thành lâu đời, ít nhất là từ thời Lý và tên xã Vân Canh xuất hiện thời Lê sơ. Gồm 3 làng: Kim Hoàng (do 2 làng Kim Bảng và Hoàng Bảng gộp vào), An Trai và Hậu Ái ( Nhân Ái ).

Tổng Hương Canh xưa có hai xã là Hương Canh và Vân Canh, gồm tất cả 7 làng Canh. Đây là một vùng đất cổ, các làng Canh đều được gọi theo Nôm là kẻ Canh, cư dân đến sống ở đây ít nhất cũng từ đầu công nguyên. Theo bản Ngọc Phả do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn, từ đời Vua Hùng thứ XVIII, ông Phan Tây Nhạc đã từ Châu Ái (Thanh Hóa) ra vùng Canh cư ngụ. Sau ông có theo Tản Viên Sơn Thánh đi đánh quân Thục, nên được Vua Hùng gả cháu gái và cho phong ấp ở vùng Canh. Đây là một vùng quê cổ kính, văn hiến, đã được ghi nhận qua câu phương ngôn nổi tiếng: Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương

Bảy làng Canh gồm: Canh Ngọc Mạch, Canh Hòe Thị, Canh Thị Cấm, Canh Hậu Ái, Canh An Trai, Canh Kim Bảng và Canh Hoàng Bảng. Hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng, đến cuối thế kỷ XVI đã nhập thành một làng, là Kim Hoàng; và sau đó dựng ngôi đình lớn. Tấm biển Lưỡng bảng hội đình hiện còn lưu giữ ở đình Kim Hoàng.

Quê hương Vân Canh còn có truyền thống hiếu học lâu đời. Trong lịch sử khoa cử của chế độ phong kiến, Vân Canh có 12 vị tiến sĩ nho học.

Theo các tài liệu lịch sử, Hậu Ái có 9 người đỗ tiến sĩ, 21 hương cống, cử nhân, 15 sinh đồ, tú tài. Người đầu tiên đỗ đại khoa là Đỗ Kính Tu, đỗ Thái học sinh dưới triều Lý Anh Tông (1138 - 1175) cùng với Tô Hiến Thành, phụ chính cho vua, được ban quốc tính. Năm 1182, ông được cử làm "Đế Sư" của vua Lý Cao Tông. Năm 1210, Lý Cao Tông ốm nặng, cho gọi Đỗ Kính Tu vào nhận mệnh ký thác lập hoàng tử Sảm lên ngôi vua tức Lý Huệ Tông.

Nguyễn Bá Đôn, người thôn Hậu Ái đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi ( 1851) đã làm đôi câu đối thờ ông ở đình làng :

“ Thánh địa đốc sinh hiền văn võ tài du vi quốc bảo.

Đăng sơn nan vãn nhật anh hùng phá giang lưu”

Tức là:  “Nơi thánh địa ắt sinh ra người hiền. Mưu tài văn võ là của quí cho đất nước”

Sau Đỗ Kính Tu là Nguyễn Hành, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, làm đến Lại bộ tả thị lang. Con ông là Nguyễn Lang cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 1550.

Về dòng họ Lê ở Hậu Ái, vốn là dòng dõi Lê Lợi từ đất Lam Sơn (Thanh Hóa) ra lập nghiệp có nhiều người khoa bảng. Từ đường của họ Lê còn có câu đối:

“Tự tiền Lê Chí Quốc triều, khoa hoạn thiên liên lưu thế phả.

Thủy cố lý cập Thanh Hoa, bản chi phái dẫn du gia khương”:

Tức là: " Từ tiền Lê tới Quốc triều, khoa hoạn truyền đời lưu vào gia phả. Vốn từ đất Thanh Hóa, con cháu ngày càng phát đạt."

Người đầu tiên của dòng họ Lê, đỗ đạt cao là Lê Củ Phương, đỗ Hoàng giáp năm 1541, làm đến Hiến sát sứ. Cháu tằng tôn của ông là Lê Đức Vọng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ năm 1637 làm đến Thừa chính sứ. Ngoài ra, theo gia phả và theo Từ Liêm đăng khoa lục (慈廉登科錄), các con của Lê Củ Phương là Lê Địch Văn và Lê Địch Giáo; con của Lê Đức Vọng là Lê Đức Nghiệp cũng đỗ tiến sĩ.

Đất Vân Canh còn một dòng họ Trần nổi tiếng ở thôn Kim Hoàng bốn đời nối nhau đỗ đạt. Người đầu tiên là Trần Hiền ( Hoè Hiên tiên sinh). Ông đậu tiến sĩ khoa Quí Sửu 1733 dưới triều Lê, sung chức hàn lâm viện thị giảng. Con Trần Hiền là Trần Huân, hiệu là Yên Lý tiên sinh đậu Cử nhân khoa Ất Dậu (1745) đời Lê được bổ nhiệm làm chi phủ Lâm Thao.

Trần Bá Lãm, con trưởng của Trần Huân, là học trò của tiến sĩ Nguyễn Quí Hiển. Ông đậu giải Nguyên khoa thi hương, năm Cảnh Hưng thứ 40 ( 1779) lúc tròn 22 tuổi. Năm Cảnh Hưng thư 44, ông phụng mệnh làm phúc khảo trường thi Nghệ An khoa Quí Mão (1783). Năm Nhâm Ngọ (1786), khi hoàng tự tôn của vua Lê Hiện Tông là Lê Duy Kỳ lên nắm chính sự, ông sung chức thị nội văn chức. Năm 1787 Lê Duy Kỳ chính thức lên ngôi, đặt niên hiệu Chiêu Thống. Để thu phục nhân tâm và theo đề nghị của Nguyễn Hữu Chỉnh, cho mở chế khoa để thu phục người tài. Số người vào điện thi có tới trên 200, chỉ có hai người được lấy đỗ. Trần Bá Lãm ở vị trí đậu đệ nhất giáp. Do sinh vào thời thác loạn nên ông chẳng được yên để yến vũ tu văn, bước hoạn đồ của ông chịu nhiều thăng trầm trôi nổi, phải trải qua ba triều đại và năm đời vua. Ông được giữ chức cấp sư trung rồi thăng hàn lâm viện hiệu uý, rồi được bổ giữ chức Hải Dương đốc đồng tham hiệp nhung vụ, được phong tước Canh nhạc bá dưới thời Lê Chiêu Thống. Con Trần Bá Lãm là Trần Bá Kiên đậu giải nguyên khoa Đinh Mão (1807) sung chức phó sứ như thanh cầu phong, nhưng vì chánh sứ không đi được, ông thay quyền đó là năm Minh Mạng nguyên niên.

Ở Kim Hoàng còn có dòng họ Lý Trần ( gốc họ Đặng ) có cụ Đặng Trần Diễm là thầy dạy cho 3 người con đều đỗ tiến sĩ, được nhận sắc phong của Vua “Giáo tử đăng khoa”. Các con của ông là:

Lý Trần Quán, cháu ngoại của tiến sĩ Trần Hiền, gọi tiến sĩ Trần Bá Lãm là cậu ruột. Đậu cử nhân năm 19 tuổi, năm 32 tuổi đỗ tiến sĩ đệ tam giáp đồng tiến sĩ. Lý Trần Quán đã từng đảm nhiệm các chức vụ: hiến sát sứ Hải Dương, đốc đồng tỉnh Cao Bằng, hiệp trấn tỉnh Sơn Tây, sau cùng là đông các đại học sĩ Quốc tử Giám tu nghiệp. Ông đã tự chôn sống mình để trả giá cho sự sai lầm là quá tin học trò, đến nỗi trao chúa vào tay quân phản bội, đó là tháng 7 năm 1786 , lúc đó ông đang ở làng Hạ Lôi (Yên Lãng). Sau này, khi vua Lê Chiêu Thống lên ngôi, năm Đinh Mùi (1787) đã truy tặng Lý Trần Quán làm Đại vương, phong phúc thần và ban cho đôi câu đối: “Khảng khái cần vương dị; Thung dung tựu nghĩa nan”.

Lý Trần Dự đỗ tiến sĩ năm 25 tuổi. Theo những người họ tộc Lý Trần ở Kim Hoàng, ông còn người em trai là Lý Trần Thản cũng đậu tiến sĩ, nhưng  Lý Trần Thản theo về quê mẹ Hải Dương từ bé, nên khi thành danh, tính vào khoa mục ở Hải Dương.

Truyền thống khoa bảng và văn hóa của người vùng Canh làm cơ sở cho truyền thống cách mạng. Tháng 10.1929, các tổ Nông hội đầu tiên của cả vùng ra đời tại làng Kim Hoàng, rồi dấy lên các cuộc đấu tranh lớn chống thực dân. Những chiến sỹ cách mạng ở địa phương đã mở trường Hứa Do, thu hút nhiều thanh thiếu niên vào trường cách mạng. Năm 1943, Hội truyền bá quốc ngữ được thành lập do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện là Hội trưởng, đặt tại trụ sở trường Hứa Do.

Từ ngày 26.11-3.2.1946, tại một căn gác nhỏ của trường Hứa Do, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã quyết định nhiều việc lớn, chuẩn bị kháng chiến lâu dài…

Ngày nay, truyền thống tài hoa và văn hiến của vùng quê này lại được tiếp nối với nhiều trí thức, văn nghệ sỹ tài năng, danh tiếng như nhà sử học Văn Tân, Giáo sư y khoa Nguyễn Tài Thu, họa sỹ Bùi Xuân Phái

Vân Canh còn là quê hương của dòng Tranh Kim Hoàng cùng với dòng tranh điệp Đông Hồ, dòng tranh Hàng Trống được xem là ba dòng tranh dân gian lâu đời ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong trận lụt vỡ đê Liên Mạc 1913 đã cuốn trôi bản khăc nên dòng tranh Kim Hoàng dần bị thất truyền. Những năm gần đây với tấm lòng đầy tâm huyết của bà Nguyễn Thị Thu Hòa đã đang dần làm hồi sinh dòng tranh đỏ Kim Hoàng năm xưa[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ.
  2. ^ Tổng điều tra dân số năm 1999, dẫn theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT.
  3. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam
  4. ^ Anh Chi (19 tháng 4 năm 2009). “Làng Kim Hoàng tài hoa và văn hiến”. Người đại biểu nhân dân. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]