Vân Canh (xã)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Vân Canh, Hoài Đức)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Vân Canh (xã)

Picto infobox map.png
Hành chính
TỉnhHà Nội
HuyệnHoài Đức
Địa lý
Diện tích4,49 km²[1]
Dân số (2017)
Tổng cộng9.642 người[2]
Khác
Mã hành chính09862[3]

Vân Canh là một thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Vân Canh nằm ở phía Đông huyện Hoài Đức Gồm 3 thôn: Kim Hoàng, An Trai và Hậu Ái.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Vân Canh đã được hình thành lâu đời, ít nhất là từ thời Lý và tên xã Vân Canh xuất hiện thời Lê sơ. Gồm 3 làng: Kim Hoàng (do 2 làng Kim Bảng và Hoàng Bảng gộp vào), An Trai và Hậu Ái (Nhân Ái).

Tổng Hương Canh xưa có hai xã là Hương Canh và Vân Canh, gồm tất cả bảy làng Canh. Đây là một vùng đất cổ, các làng Canh đều được gọi theo Nôm là kẻ Canh, cư dân đến sống ở đây ít nhất cũng từ đầu công nguyên. Theo bản Ngọc Phả do Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính soạn, từ đời Vua Hùng thứ XVIII, ông Phan Tây Nhạc đã từ Châu Ái (Thanh Hóa) ra vùng Canh cư ngụ. Sau ông có theo Tản Viên Sơn Thánh đi đánh quân Thục, nên được Vua Hùng gả cháu gái và cho phong ấp ở vùng Canh. Đây là một vùng quê cổ kính, văn hiến, đã được ghi nhận qua câu phương ngôn nổi tiếng: Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương

Bảy làng Canh gồm: Canh Ngọc Mạch, Canh Hòe Thị, Canh Thị Cấm, Canh Hậu Ái, Canh An Trai, Canh Kim Bảng và Canh Hoàng Bảng. Hai làng Kim Bảng và Hoàng Bảng, đến cuối thế kỷ XVI đã nhập thành một làng, là Kim Hoàng; và sau đó dựng ngôi đình lớn. Tấm biển Lưỡng bảng hội đình hiện còn lưu giữ ở đình Kim Hoàng.

Truyền thống văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thống hiếu học.[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử khoa cử của chế độ phong kiến, Vân Canh có 15 vị tiến sĩ nho học.

Hậu Ái có chín người đỗ tiến sĩ, 21 hương cống, cử nhân, 15 sinh đồ, tú tài. Người đầu tiên đỗ đại khoa là Đỗ Kính Tu, đỗ Thái học sinh dưới triều Lý Anh Tông (1138 - 1175) cùng với Tô Hiến Thành, phụ chính cho vua, được ban quốc tính. Năm 1182, ông được cử làm "Đế Sư" của vua Lý Cao Tông. Năm 1210, Lý Cao Tông ốm nặng, cho gọi Đỗ Kính Tu vào nhận mệnh ký thác lập hoàng tử Sảm lên ngôi vua tức Lý Huệ Tông.

Nguyễn Bá Đôn, người thôn Hậu Ái đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi (1851) đã làm đôi câu đối thờ ông ở đình làng:

“ Thánh địa đốc sinh hiền văn võ tài du vi quốc bảo.

Đăng sơn nan vãn nhật anh hùng phá giang lưu”

Tức là:  “Nơi thánh địa ắt sinh ra người hiền. Mưu tài văn võ là của quí cho đất nước”

Sau Đỗ Kính Tu là Nguyễn Hành, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, làm đến Lại bộ tả thị lang. Con ông là Nguyễn Lang cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ năm 1550.

Về dòng họ Lê ở Hậu Ái, vốn là dòng dõi Lê Lợi từ đất Lam Sơn (Thanh Hóa) ra lập nghiệp có nhiều người khoa bảng. Từ đường của họ Lê còn có câu đối:

“Tự tiền Lê Chí Quốc triều, khoa hoạn thiên liên lưu thế phả.

Thủy cố lý cập Thanh Hoa, bản chi phái dẫn du gia khương”:

Tức là: " Từ tiền Lê tới Quốc triều, khoa hoạn truyền đời lưu vào gia phả. Vốn từ đất Thanh Hóa, con cháu ngày càng phát đạt."

Người đầu tiên của dòng họ Lê, đỗ đạt cao là Lê Củ Phương, đỗ Hoàng giáp năm 1541, làm đến Hiến sát sứ. Cháu tằng tôn của ông là Lê Đức Vọng đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ năm 1637 làm đến Thừa chính sứ. Ngoài ra, theo gia phả và theo Từ Liêm đăng khoa lục, các con của Lê Củ Phương là Lê Địch Văn và Lê Địch Giáo; con của Lê Đức Vọng là Lê Đức Nghiệp cũng đỗ tiến sĩ.

Đất Vân Canh còn một dòng họ Trần nổi tiếng ở thôn Kim Hoàng bốn đời nối nhau đỗ đạt. Người đầu tiên là Trần Hiền (Hoè Hiên tiên sinh). Ông đậu tiến sĩ khoa Quí Sửu 1733 dưới triều Lê, sung chức hàn lâm viện thị giảng. Con Trần Hiền là Trần Huân, hiệu là Yên Lý tiên sinh đậu Cử nhân khoa Ất Dậu (1745) đời Lê được bổ nhiệm làm chi phủ Lâm Thao.

Trần Bá Lãm, con trưởng của Trần Huân, là học trò của tiến sĩ Nguyễn Quí Hiển. Ông đậu giải Nguyên khoa thi hương, năm Cảnh Hưng thứ 40 (1779) lúc tròn 22 tuổi. Năm Cảnh Hưng thư 44, ông phụng mệnh làm phúc khảo trường thi Nghệ An khoa Quí Mão (1783). Năm Nhâm Ngọ (1786), khi hoàng tự tôn của vua Lê Hiện Tông là Lê Duy Kỳ lên nắm chính sự, ông sung chức thị nội văn chức. Năm 1787 Lê Duy Kỳ chính thức lên ngôi, đặt niên hiệu Chiêu Thống. Để thu phục nhân tâm và theo đề nghị của Nguyễn Hữu Chỉnh, cho mở chế khoa để thu phục người tài. Số người vào điện thi có tới trên 200, chỉ có hai người được lấy đỗ. Trần Bá Lãm ở vị trí đậu đệ nhất giáp. Do sinh vào thời thác loạn nên ông chẳng được yên để yến vũ tu văn, bước hoạn đồ của ông chịu nhiều thăng trầm trôi nổi, phải trải qua ba triều đại và năm đời vua. Ông được giữ chức cấp sư trung rồi thăng hàn lâm viện hiệu uý, rồi được bổ giữ chức Hải Dương đốc đồng tham hiệp nhung vụ, được phong tước Canh nhạc bá dưới thời Lê Chiêu Thống. Con Trần Bá Lãm là Trần Bá Kiên đậu giải nguyên khoa Đinh Mão (1807) sung chức phó sứ như thanh cầu phong, nhưng vì chánh sứ không đi được, ông thay quyền đó là năm Minh Mạng nguyên niên.

Ở Kim Hoàng còn có dòng họ Lý Trần (gốc họ Đặng) có cụ Đặng Trần Diễm là thầy dạy cho 3 người con đều đỗ tiến sĩ, được nhận sắc phong của Vua “Giáo tử đăng khoa”. Các con của ông là:

Lý Trần Quán, cháu ngoại của tiến sĩ Trần Hiền, gọi tiến sĩ Trần Bá Lãm là cậu ruột. Đậu cử nhân năm 19 tuổi, năm 32 tuổi đỗ tiến sĩ đệ tam giáp đồng tiến sĩ. Lý Trần Quán đã từng đảm nhiệm các chức vụ: hiến sát sứ Hải Dương, đốc đồng tỉnh Cao Bằng, hiệp trấn tỉnh Sơn Tây, sau cùng là đông các đại học sĩ Quốc tử Giám tu nghiệp. Ông đã tự chôn sống mình để trả giá cho sự sai lầm là quá tin học trò, đến nỗi trao chúa vào tay quân phản bội, đó là tháng 7 năm 1786, lúc đó ông đang ở làng Hạ Lôi (Yên Lãng). Sau này, khi vua Lê Chiêu Thống lên ngôi, năm Đinh Mùi (1787) đã truy tặng Lý Trần Quán làm Đại vương, phong phúc thần và ban cho đôi câu đối: “Khảng khái cần vương dị; Thung dung tựu nghĩa nan”.

Lý Trần Dự đỗ tiến sĩ năm 25 tuổi. Theo những người họ tộc Lý Trần ở Kim Hoàng, ông còn người em trai là Lý Trần Thản cũng đậu tiến sĩ, nhưng  Lý Trần Thản theo về quê mẹ Hải Dương từ bé, nên khi thành danh, tính vào khoa mục ở Hải Dương.

Danh sách các vị tiến sĩ:[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Đỗ Kính Tu thi đỗ Thái học sinh - đỗ đầu khoa thi Tam giáo đời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175).
  2. Nguyễn Hành thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1532, đời vua Mạc Đăng Doanh.
  3. Lê Củ Phương (1512 – 1560) thi đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1541, đời vua Mạc Phúc Hải.
  4. Ngô Tĩnh (1514 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Giáp Thìn 1544, đời vua Mạc Phúc Hải
  5. Nguyễn Lương (1519 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1550, đời vua Mạc Phúc Nguyên.
  6. Lê Địch Văn thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ.
  7. Lê Địch Giáo thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ.
  8. Lê Thì Trung thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ.
  9. Lê Đức Vọng (1602 – 1667) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1637, đời vua Lê Thần Tông.
  10. Bùi Văn Trinh (1615-1683) thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ khoa Tân Hợi năm 1659, đời vua Lê Thần Tông..
  11. Trần Hiền (1684 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Quý Sửu 1733, đời vua Lê Thuần Tông
  12. Lý Trần Quán (1735 – 1786) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Bính Tuất 1766, đời vua Lê Hiển Tông
  13. Lý Trần Dự (1746 – 1777) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Kỉ Sửu 1769, đời vua Lê Hiển Tông
  14. Trần Bá Lãm (1758 – 1815) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ khoa Đinh Mùi 1787, đời vua Lê Mẫn Đế
  15. Nguyễn Bá Đôn (1822 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ khoa Tân Hợi năm 1851, đời vua Tự Đức.

Truyền thống cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng đình Kim Hoàng, Vân Canh

Truyền thống khoa bảng và văn hóa của người vùng Canh làm cơ sở cho truyền thống cách mạng.

Nhà Lưu niệm Bác Hồ tại thôn Hậu Ái, xã Vân Canh

Tháng 10/1929, các tổ Nông hội đầu tiên của cả vùng ra đời tại làng Kim Hoàng, rồi dấy lên các cuộc đấu tranh lớn chống thực dân. Những chiến sỹ cách mạng ở địa phương đã mở trường Hứa Do, thu hút nhiều thanh thiếu niên vào trường cách mạng.

Năm 1943, Hội truyền bá quốc ngữ được thành lập do nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện là Hội trưởng, đặt tại trụ sở trường Hứa Do.

Đêm 18/8/2945, nhân dân làng Kim Hoàng cùng nhân dân xã Vân Canh và các xã lân cận đã tập trung tại đình Kim Hoàng và sáng sớm ngày 19/5/1945, hàng ngàn người giương cao cờ đỏ sao vàng, đội ngũ chỉnh tề, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh - đứng đầu là đồng chí Trương Thị Mỹ - một cán bộ xứ ủy Bắc Kì, hùng dũng tiến quân tham gia mít tinh tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội, phủ Hoài Đức, lật đổ chính quyền tay sai, lập chính quyền cách mạng lâm thời huyện Hoài Đức.

14h ngày 20/8/1945, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Hoài Đức chuyển trụ sở từ đình Đăm (Tây Tựu) về đình Kim Hoàng và ra mắt trước hàng ngàn quần chúng cách mạng ở Vân Canh và các xã lân cận.

Từ ngày 26/11-3/12/1946, tại một căn gác nhỏ của trường Hứa Do, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp đã quyết định nhiều việc lớn, chuẩn bị kháng chiến lâu dài…

Ban thờ tại nhà Lưu niệm Bác Hồ tại thôn Hậu Ái, xã Vân Canh

Ngày nay, truyền thống tài hoa và văn hiến của vùng quê này lại được tiếp nối với nhiều trí thức, văn nghệ sỹ tài năng, danh tiếng như nhà sử học Văn Tân, Giáo sư y khoa Nguyễn Tài Thu, họa sỹ Bùi Xuân Phái

Dòng tranh Kim Hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Vân Canh còn là quê hương của dòng Tranh Kim Hoàng cùng với dòng tranh điệp Đông Hồ, dòng tranh Hàng Trống được xem là ba dòng tranh dân gian lâu đời ở Việt Nam. Tranh của làng Kim Hoàng có đủ loại tranh thờ cúng, tranh chúc tụng như một số dòng tranh khác cùng thời (Đông Hồ, Hàng Trống). Nhưng tranh Kim Hoàng lại biết kết hợp nhiều ưu điểm của hai dòng tranh đó. Tranh Kim Hoàng có nét khắc thanh mảnh, tỉ mỉ hơn tranh Đông Hồ; màu sắc lại tươi như tranh Hàng Trống. Chính vì thế nó tạo cho dòng tranh này những giá trị riêng.

Tuy nhiên, trong trận lụt vỡ đê Liên Mạc 1913 đã cuốn trôi bản khăc nên dòng tranh Kim Hoàng dần bị thất truyền. Những năm gần đây với tấm lòng đầy tâm huyết của bà Nguyễn Thị Thu Hòa đã đang dần làm hồi sinh dòng tranh đỏ Kim Hoàng năm xưa

Về chủ đề

Tranh lợn Kim Hoàng

Tranh Kim Hoàng cũng giống như tranh Đông Hồ, có những chủ đề quen thuộc với đời sống người dân nông thôn như tranh gà, tranh lợn, tranh ông Công ông Táo, tranh cuộc sống đồng quê… Tranh Kim Hoàng cũng có những thể loại như tranh Tết, tranh thờ… đáp ứng được những nhu cầu đa dạng, từ trang hoàng nhà cửa nhân dịp Tết đến Xuân về, cầu cho phúc lộc đầy nhà, cho đến xua đuổi tà ma, giữ nhà yên ấm.

Về giấy làm tranh

Tranh Kim Hoàng chuyên dùng giấy hồng điều hay giấy vàng tàu để làm tranh, dùng bức nền tươi thắm như vậy, cho nên tranh Kim Hoàng còn được gọi bằng một cái tên khác là “tranh đỏ”, rất phù hợp với không khí tươi vui của ngày Tết. Chỉ riêng việc chọn giấy chuẩn bị giấy thôi cũng đã tốn rất nhiều thời gian và công sức của nhóm phục dựng tranh. Giấy đỏ làm tranh của tranh Kim Hoàng cũng độc đáo và thành một đặc điểm riêng biệt của tranh Kim Hoàng chẳng khác gì giấy điệp là đặc điểm riêng của tranh Đông Hồ.

Về nét khắc ván in

Ván in của tranh Kim Hoàng được khắc hình với những nét tinh tế thanh nhã hơn so với ván in tranh Đông Hồ, khi in làm nổi bật lên những đường nét mực trên tấm giấy hồng điều. Đường nét của tranh Kim Hoàng mang tính hình tượng hóa, cách điệu nhiều hơn hẳn so với tranh Đông Hồ, mặc dù sử dụng cùng một chủ đề. Như trong bức tranh “Thần kê” (gà thần), con gà của tranh Kim Hoàng không phải là một chú gà dung dị bình thường, mà được khoác lên mình tấm áo của một “thần gà”, đuôi dài, rực rỡ với hình dáng của đuôi chim phượng hoàng. Hay như trong bức tranh về lợn, lợn của tranh Đông Hồ no đủ tròn đầy, nhưng con lợn của tranh Kim Hoàng được hình tượng hóa, chiếc mũi giống như một đám mây trong bức tranh cổ.

Về kỹ thuật in

Nếu như tranh Đông Hồ được tạo thành hoàn toàn từ việc in ván đen và in ván các màu, tranh Hàng Trống chỉ in các nét mặc đen rồi tô màu, thì tranh Kim Hoàng lại được in làm hai lần. Đầu tiên nghệ nhân đặt tấm giấy lên trên bề mặt ván in (kỹ thuật in ngửa giống như tranh Hàng Trống chứ không phải in sấp giống như tranh Đông Hồ), ấn nhẹ xuống, lần này được gọi là “in nhá” để trên tấm giấy xuất hiện những nét mực mờ, sau đó nghệ nhân dùng bút màu tô lên theo cảm hứng riêng của mình, cuối cùng mới đặt tấm tranh xuống, in thêm một lần nữa (gọi là “in đồ”), dùng xơ mướp khô xoa nhẹ để làm nổi bật rõ các đường nét.

Về màu sắc

Màu sắc của tranh Kim Hoàng thường dùng mực tàu và các loại màu sắc có nguồn gốc tự nhiên, được trộn với chất kết dính là keo da trâu, khác với tranh Đông Hồ là dùng hồ nếp. Màu trắng tạo ra từ thạch cao, phấn nghiền nhuyễn trộn với nước, màu xanh chàm từ mực tàu hoà với nước chàm, màu đỏ lấy từ son, màu đen từ tro rơm rạ, màu xanh từ gỉ đồng, màu vàng từ nước ép của cây dành dành. Màu sắc của tranh Kim Hoàng tươi tắn, rực rỡ và ấn tượng với những màu như đỏ hiên, đỏ điều, đỏ sen, vàng yến, qua thời gian vẫn giữ gìn được lâu bền sắc thắm buổi ban đầu, đặc biệt phù hợp với dòng tranh Tết.

Về kỹ thuật tô màu

Tranh Kim Hoàng không giống như tranh Hàng Trống (dùng màu và nước hòa quyện với nhau để tạo nên những khoảng đậm nhạt khác nhau) mà dùng màu thật đậm đặc, khỏe khoắn, nét đưa bút cũng mạnh mẽ và phóng khoáng, một phần là bởi người làm tranh cần phải chọn lối vẽ nhanh, bút pháp linh hoạt kiểu quen tay, để có thể hoàn thành được những bức tranh cho kịp thời gian, nhưng cũng không thể phủ nhận một lý do khác chính là thẩm mỹ của làng quê, coi trọng sự chắc khỏe, đơn giản, khúc chiết.

Ngoài giấy hồng điều làm nền và màu sắc cháy bừng mạnh mẽ, tranh Kim Hoàng còn có một đặc điểm độc đáo khác nữa, đó chính là thơ đề trên góc bức tranh và bùa trấn tà ma.

Tranh Thần kê. Nét độc đáo bài thơ đề trên góc bức tranh và bùa trấn tà ma. Bài thơ chữ Hán được đề như sau:“Thần kê ngũ đức thái phượng hình Đỉnh thượng Côn Lôn đẩu hoán thanh Quỷ khốc thần kinh tà tẩu tán Trấn chi môn hộ thọ trường sinh”.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ.
  2. ^ Tổng điều tra dân số năm 1999, dẫn theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT.
  3. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]