Vô Minh Huệ Kinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Vô Minh Tuệ Kinh)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiền Sư Vô Minh Huệ Kinh

Thiền sư Vô Minh Tuệ Kinh (無明慧經, Mumyō Ekyō, 1547-1617) là một vị thiền sư tông Tào Động thứ 26, từng sống vào thời nhà Minh. Sư là đệ tử đắc pháp xuất sắc nhất của thiền sư Uẩn Không Thường Trung. Từ sư xuất phát Thọ Xương pháp phái của Tông Tào Động và chính dòng Thiền này đã sản sinh ra nhiều vị thiền sư xuất sắc làm cho Tông Tào Động được hưng thịnh tại Trung Quốc và có truyền sang các nước Việt Nam, Nhật Bản. Dưới sư có nhiều đệ tử kế thừa như các vị: thiền sư Bác Sơn Nguyên Lai (博山元來), Hối Đài Nguyên Kính (晦臺元鏡), Kiến Như Nguyên Mật (見如元謐), Vĩnh Giác Nguyên Hiền (永覺元賢)...

Cơ duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư Trung Quốc
Tam.jpg

Bồ-đề-đạt-ma đến Huệ Năng

Ngưu Đầu Thiền

Nhánh Thanh Nguyên Hành Tư

Nhánh Nam Nhạc Hoài Nhượng

Lâm Tế tông

Hoàng Long phái

Dương Kì phái

Tào Động tông

Quy Ngưỡng tông

Vân Môn tông

Pháp Nhãn tông

Khác


Sư họ Bùi (裴), quê ở huyện Sùng Nhân, Phủ Châu, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Từ nhỏ đã ham thích Phật pháp và có chí hướng xuất gia, vào năm 9 tuổi sư theo trường làng học Nho Giáo.

Lớn lên sư đến yết kiến thiền sư Thường Trung ở núi Lẫm Sơn, tu tại đây 3 năm và biết được yếu chỉ của Thiền Tông.

Sau sư từ biệt thầy và đến tại Núi Nga Mi cất thảo am chuyên tâm tu tập.Một hôm sư xem Cảnh Đức Truyền Đăng Lục tới công án: " vị tăng hỏi thiền sư Hưng Thiện: Thế nào là đạo thiện?. Thiền sư Hưng Thiện đáp: Núi Đại Hảo ". Liền khởi nghi tình mạnh mẽ, chuyên tâm tham công án hơn 3 năm quên cả việc ăn, ngủ.

Một hôm sư nhân đang đi trên đường vác đá thì bỗng nhiên kiến tính, liền viết kệ trình chổ ngộ của mình:

Vô thượng bồ- đề muốn hiểu sâu

Khai thông Đại Hảo phải mau mau

Đến rồi mới biết sơn là núi

Xoay mình vượt khỏi cửa tổ mầu

Sư đến gặp thiền sư Uẩn Không Thường Trung và nêu lên sở đắc của mình. Thiền sư Thường Trung đem công án, thoại đầu ra chất vấn sư đều đối đáp tinh thông không ngại. Từ đó, thiền sư Thường Trung ấn khả chứng minh và công nhận sư là bậc pháp khí trong Thiền Tông.

Hành Trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được khai ngộ, sư đi du phương khắp nơi. Đầu tiên đến yết kiến thiền sư Tình Canh Vũ Độc. Năm 27 tuổi, sư mới thọ giới cụ túc. Từ đó về sau, trong suốt 24 năm sư không xuống núi Nga Phong.

Vào năm thứ 26 (1598) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆), nhận lời thỉnh cầu sư đến trú trì chùa Bảo Phương (寳方寺) trong làng, tự mình làm việc trong vòng mấy năm sau thì dựng được một đường mới tại đây và đông đúc khắp nơi tăng chúng đến tham học.

Sau đó, sư đi tham quan khắp chốn tùng lâm, qua Nam Hải (南海), thăm viếng thiền sư Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏)- vị tổ thứ 8 của Tịnh Độ Tông. Rồi đến lễ bái tháp của sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn.

Tiếp theo, sư đến thăm thiền sư Tử Bá Đạt Quán, rồi vào Ngũ Đài Sơn (五臺山) tham yết thiền sư Thoại Phong (瑞峰), sau đó sư trở về Bảo Phương Tự, bắt đầu xiển dương tông phong Tào Động tại đây và có rất nhiều người đến tham học.

Vào năm thứ 36 (1608) niên hiệu Vạn Lịch, thể theo lời thỉnh cầu của tứ chúng,sư đến trụ trì Thọ Xương Tự (壽昌寺) ở Tân Thành (新城). Mấy năm sau sư tiến hành trùng tu lại các ngôi đường vũ bị hoang phế, vẫn tiếp tục làm lao tác, chuyên tâm giáo dưỡng đồ chúng bằng kệ tụng và pháp ngữ.

Phong cách sư khá dản dị, sư theo tinh thần của Thiền sư Bá Trượng Hoài Hải ngày trước:một ngày không làm, một ngày không ăn. Dù sau này đã ở trên vị trí là bậc tông sư, nhưng hằng ngày sư vẫn làm nông, cuốc đất, tham gia nông Thiền.

Sư có xuất bài kệ truyền Pháp Phái:

    慧元道大興     Tuệ Nguyên Đạo Đại Hưng
    法界一鼎新     Pháp Giới Nhất Đỉnh Tân
    通天兼徹地     Thông Thiên Kiêm Triệt Địa
    耀古復騰今     Diệu Cổ Phục Đằng Kim

Đến tháng 1 năm thứ 46 cùng niên hiệu trên, sư bệnh chút rồi gọi môn đệ lại dặn dò, cầm bút viết: ” Hôm nay chỉ dạy rõ ràng” rồi an nhiên thị tich, hưởng thọ 71 tuổi. Môn đệ trà tỳ nhục thân và xây tháp thờ tại phương trượng. Thiền sư Hám Sơn Đức Thanh soạn bài Tân Thành Thọ Xương Vô Minh Kinh Thiền Sư Tháp Minh.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô Minh Huệ Kinh Thiền Sư Ngữ Lục (無明慧經禪師語錄) 4 quyển
  • Vô Minh Hòa Thượng Hạnh Nghiệp Ký (無明和尚行業記).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.
  • Phật Tổ Đạo Ảnh, quyển 2, thiền Sư Hư Vân biên soạn, đệ tử đại sư Tuyên Hóa hiệu đính.