Võ Chu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Võ Chu
武周
Đế quốc

690–705
Lãnh thổ Trung Quốc dưới thời nhà Võ Chu, khoảng 700 SCN
Thủ đô Trường An (長安)

Lạc Dương (洛陽)
Còn gọi là Thần Đô
Ngôn ngữ Tiếng Hoa Trung Đại
Tôn giáo Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Các tín ngưỡng dân gian
Chính quyền Quân chủ
Lịch sử
 •  Võ Tắc Thiên đoạt ngôi từ nhà Đường 16 tháng 10 690
 •  Tranh chấp giữa họ và họ Tháng 7, 691
 •  Xung đột với Thổ PhiênĐột Quyết Đầu năm 695
 •  Anh em họ Trương lộng hành Năm 703
 •  Đường Trung Tông chiếm đoạt quyền lực, chấm dứt nhà Võ Chu Ngày 3 tháng 3 705
Diện tích
 •  Ước tính khoảng cuối thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VIII [1] 5.400.000 km² (2.084.952 sq mi)
Dân số
 •  Cuối thế kỷ VII (ước tính) Hơn 50.000.000 
Tiền tệ Tiền xu, tiền giấy
Nhà Võ Chu thông thường được gộp chung với nhà Đường.
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Văn hóa Từ Sơn (~8.000 - 5.500 TCN)
Văn hóa Bùi Lý Cương (~7.000 - 5.000 TCN)
Văn hóa Lão Quan Đài (~5.800 - 5.000 TCN)
Văn hóa Hậu Lý (~6.500 - 5.500 TCN)
Văn hóa Bắc Tân (~5.300 - 4.100 TCN)
Văn hóa Ngưỡng Thiều (~5.000 - 3.000 TCN)
Văn hóa Hà Mỗ Độ (~5.000 - 4.500 TCN)
Văn hóa Mã Gia Banh (~5.000 - 3.000 TCN)
Văn hóa Đại Vấn Khẩu (~4.100 - 2.600 TCN)
Văn hóa Mã Gia Diêu (~3.300 - 2.100 TCN)
Văn hóa Long Sơn (~3.000 - 2.000 TCN)
Văn hóa Bảo Đôn (~2.500 - 1.750 TCN)
Tam Hoàng Ngũ Đế
VƯƠNG QUỐC
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
   Văn hóa Nhị Lý Đầu 1.900-1.500 TCN
   Văn hóa Tam Tinh Đôi 2.000-1.400 TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
   Văn hóa Nhị Lý Cương 1.500-1.300 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
   Nước Cổ Thục ~1.300-316 TCN
   Các bộ tộc Bách Việt~1.000-200 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–1949
Đế quốc Trung Hoa (1915-1916)
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay

Võ Chu hay Võ Châu (chữ Hán: 武周; bính âm: Wǔ Zhōu, Hán Việt: Võ Châu; năm 690 - năm 705) là triều đại do Võ Tắc Thiên sáng lập, Võ Tắc Thiên là vị nữ hoàng đế duy nhất được lịch sử Trung Quốc thừa nhận, nắm quyền 21 năm. Võ Tắc Thiên là hoàng đế duy nhất cai trị triều đại.

Võ Chu vẫn sử dụng hệ thống văn hóa phong tục tập quán của nhà Đường, Võ Tắc Thiên vừa là hoàng hậu của nhà Đường, lại vừa là sinh mẫu của hai vị hoàng đế Đường triều, mà là người trước tiên muốn diệt nhà Đường. Sau khi chết, trở về với thân phận hoàng hậu nhà Đường, được an táng ở Càn Lăng. Cũng vì vậy mà lịch sử thường không công nhận Võ Chu là một triều đại độc lập, mà gộp chung nó với lịch sử nhà Đường.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm thông tin: Võ Tắc Thiên
Lãnh thổ triều đại Võ Chu khoảng năm 700

Năm 684, Võ Tắc Thiên bãi bỏ Lý Hiển, hay còn gọi là Đường Trung Tông, đổi thành Lư Lăng vương, đày tới Phòng Châu. Lập đứa con thứ 4 Dự vương Lý Đán lên ngôi vua, tức Đường Duệ Tông.

Năm 690, thiên mạng Võ Tắc Thiên là người được nhắc tới trong Đại Vân Chân Kinh, là hóa thân của phật Di Lật hạ phàm, là chủ nhân của thiên hạ. Sau đó, bãi bỏ Đường Duệ Tông mà xưng đế, thay đổi đất nước, thao đổi cấp bậc tên gọi. Dời kinh đô về Đông Đô (Lạc Dương), đổi tên là Thần Đô (tuy nhiên tên kinh đô trên pháp luật của triều đại Võ Chu vẫn là Trường An), lịch sử gọi triều đại này là Võ Chu.

Thời kỳ Võ Chu, do bạo quyền của chế độ chuyên chế, việc trọng dụng các quan lại tàn nhẫn như Châu Hưng, Lai Tuấn Thần. Đồng thời các triều thần không chấp nhận chuyện Võ Tắc Thiên sở hữu nam sủng, bởi nó đã phá hủy chế độ đa thê trong lịch sử Trung Quốc hàng ngàn năm qua, cũng do vậy khi đề cập tới bà, thông thường lịch sử sẽ nói bà là một người phụ nữ không biết hổ thẹn, độc ác, xấu xa, tàn nhẫn, dâm đãng và thủ đoạn.

Võ Tắc Thiên có tài trị nước, chủ yếu là việc đả kích tập đoàn Quan Lủng (关陇集团) của Công Khanh Môn Phiệt. Bắt đầu đổi mới khoa cử chính là chấm dứt thí chế của khảo thí, lấy chọn lựa thích hợp dùng hiền sĩ. Biết tính toán có thể trọng dùng hiền tài như Địch Nhân Kiệt, Trương Giản Chi, Hoàn Ngạn Phạm, Kính HuyDiêu Sùng.

Quốc gia ở giữa thời kỳ chủ chánh, chính sách ổn định, binh lược thỏa thiện, văn hóa phục hưng, bá tánh muôn dân cơm no áo ấm, an cư lạc nghiệp. Trở thành kỳ tôn khai nguyên trị quốc của Đường Huyền Tông, đánh hạ cơ sở quan trọng cực kỳ. Lịch sử gọi là Võ Chu Chi Trị (武周之治).

Theo đó Võ Tắc Thiên ngày càng già yếu, cháu trai của bà là Võ Thừa TựVõ Tam Tư một mực mưu cầu ngôi vị Đông Cung. Nhưng mà, đa phần triều thần nghiêng về Lư Lăng vương Lý Hiển, mục đích hy vọng sẽ khôi phục hoàng thất Lý Đường. Võ Tắc Thiên đã có lựa chọn sau khi nghe lời can ngăn của Địch Nhân Kiệt " Chỉ nghe qua con cái tế bái mẫu thân, chưa từng nghe cháu trai đặt bài vị của cô mẫu trong miếu đường", liền hạ chỉ đón Lư Lăng vương về triều. Lý Hiển đổi sang họ để kế thừa đế vị, nối tiếp dòng chảy vận mạng của nhà Võ Chu. Nhưng sự nhu nhược của Lý Hiển khiến cho bà không thể yên tâm được.

Tháng một nguyên năm Thần Long (năm 705), Võ Tắc Thiên lâm trọng bệnh, triều thần Trương Giản Chi, Kính Huy, Thôi Huyền Vĩ, Viên Thứ KỉHoàn Ngạn Phạm chờ người khởi binh, giết chết anh em Trương Dịch ChiTrương Xương Tông trước mặt Võ Tắc Thiên. Lý Hiển khôi phục ngôi vua, lịch sử gọi là cách mạng Thần Long. Theo đó Đường Trung Tông phục vị, khôi phục quốc hiệu Đại Đường, kết thúc triều đại Võ Chu. Sau khi Võ Tắc Thiên thoái vị, hoàng thất tôn xưng bà trở thành Tắc Thiên Đại Thánh hoàng đế, nhưng mà di chế của bà muốn đổi đế hiệu thành Tắc Thiên Đại Thánh thiên hậu. Tháng 11 cùng năm, do bệnh mà qua đời tại Thượng Dương Cung, hưởng thọ 82 tuổi.

Quân chủ nhà Võ Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Quy ước: Sử dụng tên riêng
Miếu hiệu Thụy hiệu HọTên Giai đoạn cai trị Niên hiệu và khoảng thời gian sử dụng
Tề Thánh hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy thụy) Tự Khải (姒启)
Khai Tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Văn hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy thụy) Cơ Xương (姬昌)
Duệ Tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Khang hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy thụy) Cơ Võ (Có thể là nhân vật hư cấu)
Nghiêm Tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Thành hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy thụy) Võ Khắc Dĩ (武克己)
Túc Tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Chương Kính hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy thụy) Võ Cư Thường (武居常)
Liệt tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Hồn Nguyên Chiêu An hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy tôn) Võ Kiệm (武俭)
Hiển Tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Lập Cực Văn Mục hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy tôn) Võ Hoa (武华)
Thái Tổ (Võ Tắc Thiên truy tôn) Vô Thượng Hiếu Minh Cao hoàng đế (Võ Tắc Thiên truy thụy) Võ Sĩ Hoạch (武士彟)
Không có Võ Chiếu (武曌) 690-705

Thiên Thụ (天授): 16, tháng 11, 690 - 21 tháng 4, 692 (18 tháng)
Như Ý (如意): 22 tháng 4- 22 tháng 10, 692 (6 tháng)
Trường Thọ (長壽): 23 tháng 10, 692 - 8 tháng 6, 694 (19 ½ tháng)
Duyên Tái (延載): 9 tháng 6, 694 - 21 tháng 1, 695 (7 ½ tháng)
Chứng Thánh (證聖): 22 tháng 1 - 21 tháng 10, 695 (9 tháng)
Thiên Sách Vạn Tuế (天冊萬歲): 22 tháng 10, 695 - 19 tháng 1, 696 (3 tháng)
Vạn Tuế Đăng Phong (萬歲登封): 20 tháng 1 - 21 tháng 4, 696 (3 tháng)
Vạn Tuế Thông Thiên (萬歲通天): 22 tháng 4, 696 - 28 tháng 9, 697 (17 tháng)
Thần Công (神功): 29 tháng 9 - 19 tháng 12, 697 (2 ½ tháng)
Thánh Lịch (聖曆): 20 tháng 12, 697 - 26 tháng 5, 700 (29 tháng)
Cửu Thị (久視): 27 tháng 5, 700 - 14 tháng 2, 701 (8 ½ tháng)
Đại Túc (大足): 15 tháng 2 - 25 tháng 11, 701 (9½ tháng)
Trường An (長安): 26 tháng 11, 701 - 29 tháng 1, 705 (38 tháng)
Thần Long (神龍): 30 tháng 1 - 3 tháng 3, 705 (Nhà Chu bị bãi bỏ vào ngày 3 tháng 3 năm 705 và nhà Đường được tái lập ngay ngày hôm đó, nhưng giai đoạn Thần Long kéo dài tới tận năm 707)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Turchin, Peter; Adams, Jonathan M.; Hall, Thomas D (tháng 12 năm 2006). “East-West Orientation of Historical Empires” (PDF). Journal of world-systems research 12 (2): 219–229. ISSN 1076–156x Kiểm tra giá trị |issn= (trợ giúp). Truy cập 12 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ Từ Tuấn (tháng 11 năm 2000). tên các vương triều cổ đại và chánh quyền trong lịch sử Trung Quốc. Hồ Bắc Võ Xương: Báo chí đại học Hoa Trung xuất bản. tr. 180–182. ISBN 7-5622-2277-0.