Vũ khí sinh học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Vũ khí hủy diệt hàng loạt
WMD world map
Sắp xếp theo loại
Vũ khí sinh học
Vũ khí hóa học
Vũ khí hạt nhân
Vũ khí phóng xạ
Sắp xếp theo quốc gia
Anh Quốc
Ấn Độ
Ba Lan
Brasil
Canada
Đài Loan
Hà Lan
Hoa Kỳ
Iran
Iraq
Israel
Nam Phi
Nga
Pakistan
Pháp
Triều Tiên
Trung Quốc
Vũ khí hạt nhân
Các nước có vũ khí hạt nhân
Sự phổ biến vũ khí hạt nhân
Chiến lược phát triển vũ khí hạt nhân
Khủng bố bằng vũ khí hạt nhân
Chiến tranh hạt nhân
Lịch sử vũ khí hạt nhân
Thiết kế vũ khí hạt nhân
Vụ nổ hạt nhân
Thử nghiệm hạt nhân
Xem thêm
Bom bẩn
Chiến tranh phóng xạ

Vũ khí sinh học là một loại vũ khí hủy diệt hàng loạt dựa vào đặc tính gây bệnh hay truyền bệnh của các vi sinh vật như vi trùng, vi khuẩn; hoặc các độc tố do một số vi trùng tiết ra để gây mầm bệnh hay cái chết cho con người, cho động vật hoặc cây trồng,phá hoại mùa màng, gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Đưa đến những hậu quả không thể lường trước được, tùy thuộc vào khả năng lan truyền của chúng trong cơ thể động vật hay cây trồng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí sinh học đã được sử dụng từ hàng nghìn năm lịch sử.

Thời cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời cổ đại người ta đã biết sử dụng các vi sinh vật gây độc hại cho đối phương. Ném xác chết của những người nhiễm vi trùng vào công sự của đối phương là một biện pháp làm hao mòn sinh lực địch. Khoảng thế kỷ thứ 6 Trước Công Nguyên, người ta dùng các nấm có chất gây ra ảo giác với kẻ địch. Trong những năm 184 trước CN, người ta sử dụng các lọ có rắn độc ném vào thuyền của đối phương.

Trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Trung cổ, những nạn nhân bị chết do bệnh dịch hạch được sử dụng làm vũ khí sinh học tấn công đối phương bằng cách ném các xác chết này vào thành của địch. Vào những năm 1346, thân thể của những người lính đã chết vì bệnh dịch được ném qua các tường của thành phố Kaffa. Đó là những thứ đã được lưu trữ, nghiên cứu làm tiền đề cho việc tạo ra bệnh than ở châu Âu.

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1940-1941 quân đội Nhật đã rải ở 11 tỉnh của Trung Quốc những trái bom chứa vi sinh vật gây bệnh dịch hạch. Họ còn thả những con rận nhiễm dịch hạch, những hạt gạo nhiễm trùng dịch hạch để thu hút những con chuột ăn vào sau đó truyền bệnh khắp nơi ở Trung Quốc.

Năm 1950-1953, trong chiến tranh Triều Tiên, Mỹ đã sử dụng vũ khí sinh học bằng cách thả côn trùng gây bệnh cho người và lúa ở vùng quân đội Bắc Triều Tiên kiểm soát.[1][2][3][4]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chiến tranh sinh học những bệnh tật đáng sợ nhất là do những tác nhân lan truyền qua nước, bụi hay động vật, có khả năng gây bệnh cao. Đó là dịch hạch, dịch tả, những bệnh do virus gây ra như sốt vàng da, bệnh virus vẹt, cúm, những bệnh do trùng rận gây ra như sốt chấy rận, những bệnh do độc tố trong thức ăn, nước uống gây ra ngộ độc hàng loạt.

Tuy vậy kết quả của những biện pháp chiến tranh sinh học không chắc chắn: những mầm gây bệnh đó có thể biến mất rất nhanh hoặc gây nên những bệnh dịch không thể kiểm soát được hoặc tác động ngược chiều. Không những người của đối phương mà của cả bên thực hiện biện pháp chiến tranh sinh học cũng trở thành nạn nhân. Thời gian phát huy tác dụng của mầm bệnh ít ra là vài ngày không thích ứng với yêu cầu chiến thuật quân sự.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí sinh học thường được sử dụng ở dạng sol khí, ngoài ra còn dùng các loại côn trùng, chuột mang mần bệnh để truyền bệnh.

Con đường tác hại[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm gây hại[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm lý tưởng của các vũ khí sinh học là dễ lây nhiễm, hiệu lực cao, dễ phát tán bằng các bình xịt.

- Vũ khí sinh học chỉ gây bệnh truyền nhiễm và gây dịch bệnh cho người, động vật, phá hoại mùa màng nhưng không phá hủy các cơ sở vật chất kỹ thuật, công trình kiến trúc, đường sá, cầu cống.

- Mỗi sinh vật xâm nhập vào cơ thể con người có thời gian ủ bệnh dài ngắn khác nhau, có thể từ vài ngày cho đến vài tuần.

- Mỗi vi sinh vật gây nên một loại bệnh khác nhau.

- Gây xuất hiện các ổ bệnh mới.

- Gây ô nhiễm môi trường sinh thái và làm mất cân bằng sinh thái.

- Gây tác hại cho mùa màng gia súc, gây khó khăn cho đời sống nhân dân.

- Khi gặp các điều kiện không thuận lợi, các vi sinh vật sẻ "thu mình" dưới dạng bào tử chờ những điều kiện thuận lợi sẻ tiếp tục hoạt động và gây hại.

Một số bệnh chính[sửa | sửa mã nguồn]

1. Bệnh dịch tả

2. Bệnh than

3. Bệnh dịch hạch

4. Bệnh đậu mùa

5. Sốt vàng da

6. Sốt ban cháy rận

7. Viêm não nhật bản

Phòng chống[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Endicott, Stephen, and Hagermann, Edward. The United States and Biological Warfare: Secrets from the Early Cold War and Korea, (Google Books, relevant excerpt), Indiana University Press, 1998, pp. 75-77, (ISBN 0253334721), links accessed ngày 7 tháng 1 năm 2009.
  2. ^ "Reviews of The United States and Biological Warfare: secrets of the Early Cold War and Korea", York University, compiled book review excerpts. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2009.
  3. ^ Stueck, William Whitney. The Korean War in World History, (Google Books), University Press of Kentucky, 2004, p. 83-84, (ISBN 0813123062).
  4. ^ People & Power: Dirty little secrets by Diarmuid Jeffreys, Al Jazeera English, 2010-03-10