Vương quốc Ba Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Huy hiệu Vương quốc Ba Lan (Thế kỷ 10. tới 14.)

Vương quốc Ba Lan (tiếng Latinh: Regnum Poloniae) là tên của nhà nước Ba Lan trong những năm 1000 [1] đến năm 1795, và từ năm 1815 đến năm 1916, tên chính thức là một liên minh cá nhân với Đế quốc Nga. Người Đức và người Áo thiết lập Vương quốc nhiếp chính Ba Lan trong các phần do họ chiếm đóng trong Thế chiến I vào năm 1916. Việc này tồn tại cho đến năm 1918.

Vào năm 1000 Ba Lan trong đại hội Gniezno được Hoàng đế Otto III của Đế quốc La Mã Thần thánh và giáo hoàng công nhận là một nước. Đến năm 1025 Bolesław I. đăng quang làm vua Ba Lan ngay trước khi ông qua đời. Vương quốc Ba Lan nhập với công quốc Litva sau này vào năm 1569 thành Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva Nước này kết thúc năm 1795 với sự ép buộc của Nga, Áo và Phổ Ba và sự thoái vị của nhà vua Stanisław August Poniatowski của Ba Lan. Thịnh vượng chung được chia làm 3 phần: Phần của Nga bao gồm 120.000 km2 và 1.2 triệu người với Vilnius, Phổ (với các tỉnh mới của Tân Đông Phổ và Tân Schlesien) 55.000 km2 và 1 triệu người với Warsaw, và Áo 47.000 km2 với 1,2 triệu và LublinKraków.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Johannes Fried: Otto III. und Bolesław Chrobry. Das Widmungsbild des Aachener Evangeliars, der „Akt von Gnesen“ und das frühe polnische und ungarische Königtum. Eine Bildanalyse und ihre historischen Folgen, Stuttgart 1989, ISBN 3-515-05381-6.