Vườn quốc gia Doi Inthanon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vườn Quốc gia Doi Inthanon
อุทยานแห่งชาติดอยอินทนนท์
น้ำตกวชิรธาร อุทยานแห่งชาติลำดับที่44 อุทยานแห่งชาติดอยอินทนนท์.jpg
Suối Wachirathan Waterfall
Bản đồ hiển thị vị trí của Vườn Quốc gia Doi Inthanon
Bản đồ hiển thị vị trí của Vườn Quốc gia Doi Inthanon
Vị trí tại Thái Lan
Vị tríhuyện Chom Thong, tỉnh Chiang Mai, Thái Lan
Tọa độ18°35′32″B 98°29′12″Đ / 18,59222°B 98,48667°Đ / 18.59222; 98.48667Tọa độ: 18°35′32″B 98°29′12″Đ / 18,59222°B 98,48667°Đ / 18.59222; 98.48667
Diện tích482 km²
Thành lập1972
Cơ quan quản lýBộ Tài nguyên và Môi trường
Trang webDoi Inthanon NP

Vườn Quốc gia Doi Inthanon (tiếng Thái: อุทยานแห่งชาติดอยอินทนนท์),[1] còn được gọi là "Mái nhà của Thái Lan",nằm ở dãy núi Thanon Thong Chai, thuộc huyện Chom Thong, tỉnh Chiang Mai, Bắc Thái Lan.[2] Nó bao gồm núi Doi Inthanon, là ngọn núi cao nhất Thái Lan. Được thành lập 1972, vườn quốc gia này có diện tích 482 kilômét vuông (186 sq mi).[3]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn Quốc gia cách Chiang Mai khoảng 60 km (37 dặm) được thành lập 1954, là vườn Quốc gia đầu tiên trong tổng cộng 14 vườn Quốc gia ở Thái Lan. Năm 1972 và 1974 nó được mở rộng, hiện thời rộng đến 482,4 km². N Độ cao của nó nằm trong khoảng 800-2,565 mét (2.625-8.415 ft). Trong ranh giới của nó là một số thác nước: Thác Mae Klang, Thác Wachiratan, Thác Siriphum và Thác Mae Ya.[2]

Nhiều con sông, kể cả sông Maenam Mae Nam Ping, tại [Nakhon Sawan] nó có tên Mae Nam Chao Phraya chạy đến Vịnh Thái Lan), có nguồn gốc ở đây. Các sông khác là Mae Klang, Mae Pakong, Mae Pon, Mae Hoi, Mae Ya, Mae Chaem, Mae Khan.

Vườn Quốc gia có các phần khác nhau về khí hậu và sinh thái.

Cư trú[sửa | sửa mã nguồn]

Nó bao gồm các làng Karen, Tai và Meo Hmong với khoảng 4.500 người. Ngoài ra thêm khoảng 8 ngàn người sống trong 14 thôn, trong phạm vi 5 km chung quanh vườn Quốc gia.[4] Những cư dân của Vườn quốc gia và những người ở ngay gần đó sử dụng nó để săn bắn, thu thập thực vật, củi và vật liệu xây dựng. Chính quyền trung ương cũng coi đây là một vấn đề đối với công viên, vì theo họ người dân địa phương đóng góp một phần lớn vào nạn phá rừng.[5]

Thực vật và động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thực vật bao gồm rừng sương mù thường xanh, rêu sphagnum, rừng cây họ Dầu rụng lá.[3] Có một số cây thông cổ còn sót lại [2].

Với 383 loài chim én,[6], nó đứng thứ hai trong số các vườn quốc gia của Thái Lan về số loài chim.

Loài bò sát ở Vườn Quốc gia Doi Inthanon bao gồm:[7]

Acanthosaura lepidogaster

Gekko gecko

Hemidactylus frenatus

Hemidactylus platyurus

Hemiphyllodactylus chiangmaiensis

Ahaetulla prasina

Amphiesma khasiense

Trimeresurus popeiorum

Cyrtodactylus inthanon[8]

Các loài Động vật lưỡng cư ở Vườn Quốc gia Doi Inthanon bao gồm:[7]

Ansonia inthanon

Leptolalax pelodytoides

Megophrys major

Megophrys minor

Amolops marmoratus

Hylarana nigrovittata

Odorrana livida

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Pronunciation
  2. ^ a ă â “Doi Inthanon National Park”. Tourism Authority of Thailand (TAT). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015. 
  3. ^ a ă “Jungle Law in Thailand's Forests”. New Scientist. 18 tháng 11 năm 1989. tr. 43–. ISSN 0262-4079. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ Zeppel, Heather (2006). Indigenous Ecotourism: Sustainable Development and Management. CABI. tr. 237–. ISBN 978-1-84593-124-7. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011. 
  5. ^ J. Beltrán (Hrsg.): Indigenous and Traditional Peoples and Protected Areas: Principles, Guidelines and Case Studies. IUCN, Gland, Switzerlandand Cambridge, UK and WWF International, Gland, Switzerland 2000, ISBN 2-8317-0547-9, S. 97 ff. (PDF; 2,3 MB)
  6. ^ Poultney, Trevor (1 tháng 1 năm 2003). Environments: Asia Pacific. Curriculum Press. tr. 22–. ISBN 978-1-86366-567-4. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2011. 
  7. ^ a ă Kirati Kunya, Montri Sumontha, Nonn Panitvong, Wuttipong Dongkumfu, Thana Sirisamphan and Olivier S. G. Pauwels. 2015. A New Forest-dwelling Bent-toed Gecko (Squamata: Gekkonidae: Cyrtodactylus) from Doi Inthanon, Chiang Mai Province, northern Thailand. Zootaxa. 3905(4):573-584. [p.579] DOI: 10.11646/zootaxa.3905.4.9
  8. ^ http://novataxa.blogspot.com/2015/01/cyrtodactylus-inthanon.html

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]