Vườn quốc gia Kepulauan Togean
| Vườn quốc gia Kepulauan Togean | |
|---|---|
IUCN loại II (Vườn quốc gia) | |
| Vị trí | Sulawesi, Indonesia |
| Thành phố gần nhất | Ampana |
| Tọa độ | 0°21′N 121°59′Đ / 0,35°N 121,983°Đ |
| Diện tích | 3.626 km² |
| Thành lập | 2004 |
| Cơ quan quản lý | Bộ Môi trường và Lâm nghiệp Indonesia |
Vườn quốc gia Kepulauan Togean là một vườn quốc gia bảo vệ hệ sinh thái chủ yếu là khu vực biển bao gồm cả quần đảo Togean, gần đảo Sulawesi, Indonesia.[1]
Vườn quốc gia này rộng khoảng 365.241,08 hécta, trong đó có 340.119,36 hécta là diện tích mặt nước.[2]
Quần đảo Kepulauan Togean là một quần đảo nằm trong vùng chuyển tiếp của Đường Wallace và Đường Weber, là một nhóm các đảo nhỏ cắt nhau giữa vịnh Vịnh Tomini.[2]
Khu vực Kepuluan Togean nằm trong huyện Toja-Una-Una, tỉnh Trung Sulawesi, trải dài khoảng 102,7 km từ ranh giới tây sang đông.[2] Khu vực này đã trở thành một phần của Khu Dự trữ Sinh quyển Tojo Una-Una Togean dựa trên Hội đồng Điều phối Quốc tế lần thứ 31 về Chương trình Con người và Sinh quyển vào ngày 19 tháng 6 năm 2019 tại Paris, Pháp.[2]
UNESCO đã công nhận Khu Dự trữ Sinh quyển Togean Tojo Una-Una là Khu Dự trữ Sinh quyển thứ 15 tại Indonesia và nằm ở trung tâm của tam giác rạn san hô thế giới, nơi có sự đa dạng sinh học lớn nhất. Khu dự trữ sinh quyển là nơi sinh sống của khoảng 149.214 người, phần lớn là người dân địa phương (ngư dân) trong vùng chuyển tiếp thuộc các khu định cư chính của thành phố Ampana.[2]
Hệ thực vật trong vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Togean Tojo Una-Una được chia thành hai loại: hệ thực vật trên cạn và hệ thực vật dưới nước. Rừng đất thấp bao phủ một phần diện tích trên cạn của Quần đảo Togean. Khoảng 363 loài thực vật đã được ghi nhận ở Quần đảo Togean.[2] Hệ thực vật của Đảo Togean bao gồm Cui Java (Heritiera javanica), Gõ nước (Intsia bijuga), siuri/ranggu (Koordersiodendron pinnatum), Magnolia vrieseana, vảy (Elmerrillia) và các loài thuộc các chi: Dipterocarpaceae, Shorea, Dipterocarpus, Hopea. Cũng được tìm thấy ở Kepulauan Togean là Cây xà phòng (Alphitonia excelsa), cây Cananga (Canangaodorata), kadam (Anthocephalus chinensis), Jackapple ( Alstonia spectabilis),các loài thuộc chi Mallotus, Macaranga, Cây gáo vàng ( Naucela orientalis) và Octomeles sumatrana. [2]
Có 33 loài thực vật thủy sinh ở Kepulauan Togean, bao gồm các loài chi Rhizophora,Avicennia,Chi Dà,Exoecaria., Đưng (Rhizophora mucronata), bần trắng (Sonneratia alba), mắm trắng (Avicennia alba),các loài thuộc Chi Scyphiphora,Phempis, Bàng (Terminalia catappa),Dứa gai (Pandanus tecrorius) và cây Tra làm chiếu (Hibiscus tiliaceus). Loài Rhizopora mucronata là loài chiếm ưu thế nhất được tìm thấy ở nhiều tầng thảm thực vật khác nhau. Trong khi các loài thực vật thủy sinh khác được tìm thấy trong 7 loài cỏ biển, bao gồm Cỏ bò biển (Thalassia hemprichii) và Enhalus acoroides là loài chiếm ưu thế, cỏ xoan, Halodule uninervis, Cymodocea rotundata, Syringodium isoetifolium và Caulerpa serrulata.[2]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ Lestari Hutan Indonesia Lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2010 tại Wayback Machine, retrieved ngày 26 tháng 2 năm 2010
- ^ a b c d e f g h "Kepulauan Togean National Park (KTNP) | ASEAN ENMAPS" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2025.