Vạn Tùng Hành Tú

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vạn Tùng Hành Tú
萬松行秀
Thiền Sư vạn tùng hành tú.jpg
Thiền sư Vạn Tùng Hành Tú
Tông pháiTào Động tông
Cá nhân
Sinh1166
Mất1246
Chức vụ
Chức danhThiền sư
Tiền nhiệmTuyết Nham Như Mãn
Kế nhiệmTuyết Đình Phúc Dụ
Hoạt động tôn giáo
Sư phụTuyết Nham Như Mãn
Đồ đệTuyết Đình Phúc Dụ

Thiền sư Vạn Tùng Hành Tú (tiếng Trung: 萬松行秀, tiếng Nhật: Banshō Gyōshū, 1166-1246) cao tăng Trung Quốc sống vào thời biến loạn nhà Tống, Kim, Nguyên, thuộc đời pháp thứ 14 Tông Tào Động. Sư còn có danh hiệu khác là Vạn Tùng Lão Nhân (萬松老人). Sư là một trong những vị thiền sư có ảnh hưởng nhất trong Tông Tào ĐộngThiền Tông Trung Quốc, biên soạn Thong Dong Lục - nội dung niêm 100 công án của thiền sư Hoằng Trí Chính Giác. Sư nối pháp thiền sư Tuyết Nham Như Mãn và có đệ tử nối pháp là thiền sư Tuyết Đình Phúc Dụ.

Cơ duyên[sửa | sửa mã nguồn]

Sư họ Thái (蔡), quê ở vùng Giải Lương (解梁), huyện Hà Nội (河內), tỉnh Hà Nam (河南).

Từ nhỏ sư đã có cốt cách phi phàm, sớm có chí xuất gia. Sư đến xuất gia với Đại sư Bân Công (贇公) ở Tịnh Độ tự (淨土寺邢), vùng Hình Châu (邢州), tỉnh Hà Nam.

Ban đầu sư đến tham vấn với thiền sư Thắng Mặc (勝黙). Thiền sư Thắng Mặc dạy: Hãy tham câu “Quay lại chính mình” của Trường Sa! Sư tham cứu không ngộ. Thắng Mặc bảo: Ta chỉ mong ông lĩnh hội chậm! Sư nghe xong bèn có tỉnh ngộ.

Sau sư từ giã thiền sư Thắng Mặc đến tham vấn với thiền sư Huyền Sa nhưng chưa triệt ngộ.

Sư đến tham học với thiền sư Tuyết Nham Huệ Mãn ở Đại Minh tự (大明寺) vùng Từ Châu (磁州), tỉnh Hà Bắc (河北省). Một hôm sư thấy con gà bay lên liền đại triệt ngộ. Thiền sư Huệ Mãn ấn khả chứng minh, truyền y cà sa và phó chúc kệ truyền pháp Tào Động Chính Tông cho sư. Từ đó dân chúng ở vùng Lưỡng Hà, Tàm Tấn ngưỡng mộ danh tiếng của sư

Hành trạng[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tiên sư đến trụ trì tại Tịnh Độ tự (淨土寺邢), dựng am tu tập và đặt tên am là Vạn Tùng Niên (萬松軒), nghĩa là mười nghìn cây thông.

Vào năm Quý Sửu (1193), vua Chương Tông nhà Kim cung thỉnh sư vào cung, đích thân hỏi Phật pháp. Vì ngưỡng mộ đức hành và ấn tượng với sự vấn đáp của sư. Vua ban cho sư chiếc cà sa gấm.

Năm Đinh Tỵ (1197), sư được vua ban chiếu dời đến trụ trì Thê Ẩn tự (棲隱寺) ở Ngưỡng Sơn (仰山) và Báo Ân Hồng Tế tự (報恩洪濟寺) ở Phủ Thuận Thiên (順天府)

Năm 1215, kinh đô nhà Kim bị quân Mông Cổ cướp phá, vua Kim cho dời Kinh đô đến phủ Khai Phong. Sư vẫn ở lại trụ trì tại Bảo Ân tự (寶恩寺) phía ngoài kinh thành nhà Kim.

Năm 1223, chính khách người Mông CổDa Luật Sở Tài (Yelü Chucai) đã đến gặp sư để tham hỏi Phật học. Và sau đó trở thành đệ tử tại gia của sư, thường xuyên đến tham hỏi chuyện chính sự và học thiền.

Sư sáng tác Thong Dong Lục (從容錄) là bản niêm tụng cổ gồm 100 công án của thiền sư Thiên Đồng (天童) và trình tấu lên vua Ninh Tông (寧宗) nhà Tống. Sư nghiên cứu tinh tường các kinh điển, quán thông cả nội và ngoại điển, đã ba lần xem đại tạng và soạn nhiều pháp lục lưu hành ở đời.

Vào ngày mồng 7 tháng 4 năm đầu nhuận niên hiệu Định Tông (定宗) 1246, sư thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi đời và 60 hạ lạp. Trước khi tịch sư có để lại bài kệ. Môn đệ sư trà tỳ nhục thân sư, thu được nhiều xá lợi, xây tháp phụng thờ các nơi.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phật Tổ Đạo Ảnh (Tập 1,2) do Hoà thượng Hư Vân và Tuyên Hóa biên soạn.
  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ điển. Phật Quang Đại Từ điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Dumoulin, Heinrich:
Geschichte des Zen-Buddhismus I. Indien und China, Bern & München 1985.
Tháp xá lợi thiền sư Vạn Tùng ở Bắc Kinh
Geschichte des Zen-Buddhismus II. Japan, Bern & München 1986.