V509 Cassiopeiae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
V509 Cassiopeiae
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000.0      Xuân phân J2000.0
Chòm sao Cassiopeia
Xích kinh 23h 00m 05.1s[1]
Xích vĩ +56° 56′ 43″[1]
Cấp sao biểu kiến (V)+4.6 - +6.1[2]
Các đặc trưng
Kiểu quang phổG0Ia0 (K5Ia0 - A6Ia+[3])[4]
Chỉ mục màu U-B+1.33[5]
Chỉ mục màu B-V+1.0 - +1.7[4]
Kiểu biến quangSRd[2]
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm (Rv)−50.20[6] km/s
Chuyển động riêng (μ) RA: −2.24[1] mas/năm
Dec.: −2.60[1] mas/năm
Thị sai (π)0.73 ± 0.25[1] mas
Khoảng cách4,500[4] ly
(1,370[4] pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV)−8.6 (variable)[4]
Chi tiết
Khối lượng11[4] M
Bán kính400-900[4] R
Độ sáng200,000-400,000[4] L
Nhiệt độ4,000-8,000[4] K
Tên gọi khác
HR 8752, HD 217476, FK5 3839, HIP 113561, SAO 35039, AAVSO 2255+56
CSDL tham chiếu
SIMBADdữ liệu

V509 Cassiopeiae (V509 Cas hoặc HR 8752) là một trong hai ngôi sao siêu khổng lồ vàng được tìm thấy trong chòm sao Thiên Hậu.

HR 8752 cách Trái đất khoảng 4.500 năm ánh sáng. Nó có độ sáng biểu kiến thay đổi từ dưới +6, vào thời gian sáng nhất là +4,6 và hiện tại khoảng +5,3 và được phân loại là một ngôi sao biến quang loại SRd. Nó đang giảm đi khối lượng rất nhanh như là một phần của quá trình tiến hóa nhanh chóng của nó và gần đây đã bước vào quá trình tiến hóa thành sao siêu khổng lồ vàng.[4]

Quan sát[sửa | sửa mã nguồn]

Độ sáng[sửa | sửa mã nguồn]

HR 8752 là một ngôi sao thấy được bằng mắt thường nhưng nó không có định danh của Bayer hay Flamsteed, và không được ghi lại trong các danh mục thiên văn học khác trước thế kỷ 19. Khi được tìm thấy lần đầu tiên trong Đài quan sát Radcliffe vào năm 1840, nó có độ sáng biểu kiến là 6 và người ta cho rằng nó có độ sáng là 6 hoặc mờ hơn trước đó. Ngôi sao có một chút thay đổi trong khoảng thời gian khoảng một năm, nhưng độ sáng trung bình tăng dần, đạt tới cường độ 5,0 vào những năm 1950.[2][7]

Độ sáng tăng lên tới 4,75 vào năm 1973, nhưng sự chính xác của sự kiện này không được quan sát rõ.[8] Kể từ đó, ngôi sao đã được nghiên cứu kỹ hơn nhiều. Nó đạt cực đại 4,6 độ vào năm 1976, sau đó giảm nhanh xuống 4,9 độ vào năm 1979, sau đó dao động giữa các cường độ 4,75 và 4,85 trong thập kỷ tiếp theo. Kể từ đó, độ sáng nhìn chung đã giảm, nhưng đôi khi đã tới độ sáng 5.3 và ở khoảng mức độ đó.

Quang phổ[sửa | sửa mã nguồn]

Các sao loại quang phổ và các so sánh màu cho HR 8752 đã được thực hiện thường xuyên trong hơn một thế kỷ. Ngôi sao được công nhận là hơi bất thường và có thể rất sáng, nhưng không thay đổi.

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Dường như HR 8752 không chỉ thay đổi độ sáng và dao động về nhiệt độ mà kích thước của ngôi sao không phải không ổn định, mà thực sự đang trải qua một sự tiến hóa sao từ nhiệt độ lạnh hơn sang nhiệt độ nóng hơn.

Nhiệt độ có thể được ước tính với một số độ chính xác từ các quan sát từ quang phổ và màu sắc. Nhiệt độ tính toán tăng từ 4.500K vào năm 1900 lên 5.000K vào năm 1960. Ở giai đoạn đó, độ sáng là khoảng 243.000 độ sáng mặt trời và bán kính 680 bán kính mặt trời.

Ngôi sao sau đó biến đổi thất thường cho đến năm 1973 khi nó nhanh chóng mở rộng và mát hơn. Một phân tích quang phổ chi tiết vào năm 1977 đã báo cáo nhiệt độ thấp 4.000K, với độ sáng cực đại vào năm 1976 là 400.000 độ sáng mặt trời với bán kính trên 900 bán kính mặt trời. Ngôi sao sau đó nhanh chóng quay trở lại khoảng nhiệt độ trước đó là 5.000K, độ sáng là 316.000 độ sáng mặt trời và bán kính 776 bán kính mặt trời.[9]

Bắt đầu từ năm 1985, HR 8752 bắt đầu một sự thay đổi đáng kinh ngạc, đến năm 2005 đã tăng nhiệt độ lên khoảng 8.000K và giảm kích thước xuống 400 bán kính mặt trời vào năm 2000, với độ sáng khoảng 213.000 dộ sáng mặt trời.[10] Kể từ đó, các thông số vật lý đã ổn định hơn mặc dù gió sao vẫn tiếp tục thay đổi.

Sự phong phú nguyên tố có nguồn gốc từ phổ cho thấy tính kim loại của mặt trời, mặc dù một số nguyên tố được tăng cường do trạng thái tiến hóa của HR 8752.[9][11]

Trạng thái tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

HR 8752 so với các siêu tăng màu vàng khác và các biến màu xanh dạ quang

Trước năm 1973, HR 8752 là một sao siêu khổng lồ vàng lạnh với loại quang phổ G sớm. Sau sự lột xác mạnh mẽ của các lớp bên ngoài, giờ đây nó đã nhảy lên mức trung bình A và không mong đợi sẽ trở lại trạng thái mát mẻ. So với mô hình của các sao có khoảng 25-40 khối lượng mặt trời cho thấy nó vượt qua tới quá trình tiến hóa của sao siêu khổng lồ vàng trước tiên là nhiệt độ lạnh hơn, sau đó trở lại nhiệt độ nóng hơn. Sự tiến hóa sao siêu khổng lồ vàng được đặt tên vì rất ít ngôi sao được tìm thấy trong phần đó của biểu đồ Hertzsprung-Russell. Điều này có thể là do sự tiến hóa của các ngôi sao có thông số như vậy là cực kỳ nhanh chóng, thậm chí có thể gần như ngay lập tức theo thuật ngữ thiên văn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Van Leeuwen, F. (2007). “Validation of the new Hipparcos reduction”. Astronomy and Astrophysics 474 (2): 653. Bibcode:2007A&A...474..653V. arXiv:0708.1752. doi:10.1051/0004-6361:20078357. 
  2. ^ a ă â Zsoldos, E. (1986). “Historical light curve of HR 8752”. The Observatory 106: 156. Bibcode:1986Obs...106..156Z. 
  3. ^ Lobel, A.; De Jager, K.; Nieuwenhuijzen, H. (2013). “Long-term Spectroscopic Monitoring of Cool Hypergiants HR 8752, IRC+10420, and 6 Cas near the Yellow Evolutionary Void”. 370 Years of Astronomy in Utrecht. Proceedings of a conference held 2–5 April 470: 167. Bibcode:2013ASPC..470..167L. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g Nieuwenhuijzen, H.; De Jager, C.; Kolka, I.; Israelian, G.; Lobel, A.; Zsoldos, E.; Maeder, A.; Meynet, G. (2012). “The hypergiant HR 8752 evolving through the yellow evolutionary void” (PDF). Astronomy & Astrophysics 546: A105. Bibcode:2012A&A...546A.105N. doi:10.1051/0004-6361/201117166. 
  5. ^ Ducati, J. R. (2002). “VizieR Online Data Catalog: Catalogue of Stellar Photometry in Johnson's 11-color system”. CDS/ADC Collection of Electronic Catalogues 2237: 0. Bibcode:2002yCat.2237....0D. 
  6. ^ Gontcharov, G. A. (2006). “Pulkovo Compilation of Radial Velocities for 35 495 Hipparcos stars in a common system”. Astronomy Letters 32 (11): 759. Bibcode:2006AstL...32..759G. arXiv:1606.08053. doi:10.1134/S1063773706110065. 
  7. ^ Percy, J. R.; Zsoldos, E. (1992). “Photometry of yellow semiregular variables - HR 8752 (= V509 Cassiopeiae)”. Astronomy and Astrophysics 263: 123. Bibcode:1992A&A...263..123P. ISSN 0004-6361. 
  8. ^ Rufener, F. (1976). “Second catalogue of stars measured in the Geneva Observatory photometric system”. Astronomy and Astrophysics 26: 275. Bibcode:1976A&AS...26..275R. 
  9. ^ a ă Lambert, D. L.; Luck, R. E. (1978). “Spectrum variations of the superluminous star HR 8752”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society 184 (3): 405. Bibcode:1978MNRAS.184..405L. doi:10.1093/mnras/184.3.405. 
  10. ^ Royal Observatory of Belgium (9 tháng 12 năm 2012). “Hypergiant star amazes for 30 years”. ScienceDaily. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2019. 
  11. ^ Luck, R. E. (1975). “An analysis of the superluminous star HR 8752”. Astrophysical Journal 202: 743. Bibcode:1975ApJ...202..743L. doi:10.1086/154028. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]