Valeriy Lobanovskyi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Valeriy Lobanovskyi
Valeri Lobanovsky.jpg
Lobanovski năm 1985
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Valeriy Vasylyovych Lobanovskyi
Ngày sinh (1939-01-06)6 tháng 1 năm 1939
Nơi sinh Kiev, Xô viết Ukraina, Liên Xô
Ngày mất 13 tháng 5 năm 2002(2002-05-13) (63 tuổi)
Nơi mất Zaporizhia, Ukraina
Chiều cao 1,87 m (6 ft 1 12 in)
Vị trí Tiền đạo
CLB trẻ
1952–1955 Trường bóng đá số 1
1955–1956 Trường đào tạo bóng đá trẻ (FShM)
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1957–1964 Dynamo Kyiv 144 (42)
1965–1966 Chornomorets Odessa 59 (15)
1967–1968 Shakhtar Donetsk 50 (14)
Tổng cộng 253 (71)
Đội tuyển quốc gia
1960–1961 Liên Xô 2 (0)
Huấn luyện
1969–1973 Dnipro Dnipropetrovsk
1973–1982 Dynamo Kyiv
1975–1976 Liên Xô
1982–1983 Liên Xô
1984–1990 Dynamo Kyiv
1986–1990 Liên Xô
1990–1993 UAE
1994–1996 Kuwait
1997–2002 Dynamo Kyiv
2000–2001 Ukraina

* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Valeriy Vasylyovych Lobanovskyi (tiếng Ukraina: Вале́рій Васи́льович Лобано́вський, Valerij Vasyl’ovyč Lobanovs’kyj [vɑˈlɛrɪj lobɑˈnɔwsʲkɪj]; tiếng Nga: Вале́рий Васи́льевич Лобано́вский, 6 tháng 1 năm 1939 - 13 tháng 5 năm 2002) là một huấn luyện viên bóng đá người Liên Xô-Ukraina. Ông là thạc sĩ thể thao Liên Xô, huấn luyện viên xuất sắc nhất Liên Xô, Kỉ niệm chương Ruby FIFA năm 2002, Kỉ niệm chương FIFA, giải thưởng cao quý nhất của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA).[1][2]

Tài năng của ông nổi tiếng khi dẫn dắt đội bóng Dynamo Kyiv, đội tuyển bóng đá quốc gia Ukraina và trước đó là đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô. Năm 1975, Dynamo Kyiv là câu lạc bộ Liên Xô đầu tiên giành được một danh hiệu lớn ở châu Âu khi đánh bại Ferencváros của Hungary tại trận chung kết Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Âu.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Lobanovskyi tốt nghiệp trường bóng đá số 1 và trường bóng đá trẻ ở Kiev. Ông bắt đầu sự nghiệp thi đấu trong vai trò chạy cánh trái khi thi đấu cho câu lạc bộ quê hương Dynamo Kyiv. Tại đây, ông và đội bóng đã giành được cả danh hiệu vô địch giải đấu và Cúp Liên Xô. Ông đã dành bảy năm thi đấu cho câu lạc bộ trước khi kết thúc sự nghiệp của mình với các khoảng thời gian thi đấu ngắn tại Chornomorets Odessa, và Shakhtar Donetsk. Lobanovskyi kết thúc sự nghiệp thi đấu ở tuổi 29 với tổng cộng 253 trận và có 71 bàn thắng. Ông đã giúp Liên Xô giành vị trí Á quân tại Giải vô địch bóng đá châu Âu năm 1988. Lobanovskyi chơi trận đấu quốc tế đầu tiên vào ngày 4 tháng 9 năm 1960 khi Liên Xô tiếp đón Áo. Ông nổi tiếng với bàn thắng được thực hiện từ cú đá phạt góc và khả năng chuyền bóng như đặt nó vào bất cứ vị trí nào trên sân; danh tiếng của ông đã đưa ông trở thành huấn luyện viên cho Dynamo Kiev.

Sự nghiệp huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Một năm sau khi giã từ sự nghiệp thi đấu, Lobanovskyi được mời về làm công tác huấn luyện tại Dnipro Dnipropetrovsk. Sau bốn năm với những bước tiến không đáng kể với đội bóng, Lobanovskyi chuyển đến dẫn dắt câu lạc bộ cũ ông từng thi đấu, Dynamo Kyiv. Ông bắt đầu dẫn dắt câu lạc bộ từ năm 1974, và 15 trong số 17 năm tiếp theo ông dẫn dắt đội bóng, ngoại trừ khoảng thời gian 2 năm từ 1983-1984 ông dẫn dắt đội tuyển quốc gia Liên Xô. Ông đã thành công khi giúp Kyiv phá vỡ sự thống trị của các câu lạc bộ tới từ Nga dưới thời Xô Viết. Lobanovskyi đã dẫn dắt đội bóng giành tổng cộng tám Cúp bóng đá vô địch Xô viết, sáu cúp quốc gia, hai Cúp châu Âu, và một Siêu cúp châu Âu năm 1975.

Trong giai đoạn này, ông cũng thành công khi dẫn dắt đội tuyển Liên Xô, giúp đội bóng dành Huy chương đồng Thế vận hội Mùa hè 1976. Ông được bổ nhiệm dẫn dắt đội bóng chỉ đêm trước khi diễn ra Giải vô địch bóng đá thế giới 1986. Tại đó, ông cùng với các cầu thủ nòng cốt của Dynamo Kyiv đã đưa đội tuyển Liên Xô đứng đầu bảng trước khi thua Bỉ tại vòng 16 đội với tỉ số 3-4 ở hiệp phụ. Tuy nhiên, thành công lớn nhất của ông là giúp Liên Xô giành vị trí Á quân EURO 1988. Tại vòng bảng, Liên Xô đã thắng Hà Lan với tỉ số 1-0, nhưng tại trận chung kết, đội bóng của Lobanovskyi không thể lặp lại điều đó khi thua với tỉ số 0-2.

Theo sau chính sách Perestroika, nhiều cầu thủ xuất sắc nhất của Lobanovskyi trong màu áo của Dynamo Kyiv và đội tuyển quốc gia rời Liên Xô để tới thi đấu ở Tây Âu. Tới World Cup 1990 trên đất Ý, ông đã không thể tạo ra đội hình đội tuyển Liên Xô với bộ khung của Kyiv trước đó. Không thể kiểm soát hoàn toàn được đội bóng, Liên Xô bị loại ngay từ vòng bảng với chỉ một chiến thắng và hai trận thua. Sau thất bại đó, Lobanovskyi quyết định rời Dynamo Kyiv để dẫn dắt UAE với một lời đề nghị rất hấp dẫn. Tuy nhiên, bốn năm mờ nhạt tại đây, ông bị sa thải và tiếp tục có hai năm gắn bó tại đội tuyển bóng đá quốc gia Kuwait.

Vào tháng 1 năm 1997, Lobanovskyi trở lại dẫn dắt Dynamo Kyiv lần thứ ba. Câu lạc bộ vào thời điểm này đã phần nào giảm vị thế. Họ đã bị UEFA loại ra khỏi khỏi các giải đấu châu Âu sau những vụ hối lộ quan chức, và câu lạc bộ cũng thi đấu chật vật tại giải đấu quốc nội. Lobanovskyi đã xoay chuyển để giúp câu lạc bộ phục hồi nhanh chóng. Ngoài việc dẫn dắt đội bóng đến năm chức vô địch liên tiếp, Lobanovskyi đã biến Dynamo Kyiv trở thành một trong những đội bóng xuất sắc nhất châu Âu khi vào tới bán kết Champions League năm 1999. Ông đã được mời về dẫn dắt đội tuyển bóng đá quốc gia Ukraina vào tháng 3 năm 2000, nhưng đã bị sa thải sau khi thua một trận playoff để giành vé đến World Cup 2002.

Lobanovskyi bị đột quỵ vào ngày 7 tháng 5 năm 2002, ngay sau khi Dynamo Kyiv của ông đã đánh bại FC Metalurh Zaporizhzhya. Ông qua đời vào ngày 13 tháng 5 trong khi phẫu thuật não, sau những biến chứng của cơn đột quỵ. Tại trận chung kết Champions League diễn ra ở Glasgow hai ngày sau đó, UEFA đã một phút mặc niệm để vinh danh ông.

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng của Valeriy Lobanovskyi.

Sau khi qua đời, Lobanovskyi đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Ukraina, vinh dự cao quý nhất của quốc gia. Sân vận động của câu lạc bộ Dynamo Kyiv cũng được đổi tên thành Sân vận động Valeriy Lobanovskyi để vinh danh những công lao to lớn của ông cho đội bóng. Thi hài của ông được chôn cất tại Nghĩa trang BaikoveHolosiiv, Kiev với một bức tượng và tượng đài ấn tượng.

Sau khi vô địch UEFA Champions League 2002-03 cùng với A.C. Milan, huyền thoại bóng đá và học trò một thời của ông trong màu áo của Dynamo Kyiv là Andriy Shevchenko đã bay đến Kiev để đặt huy chương mà mình dành được cho người thầy cũ của mình.[3] Năm 2005, Giải đấu tưởng niệm Valeriy Lobanovskyi được thành lập nhằm tưởng nhớ đến ông.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lobanovsky được sinh ra ở Kiev trong gia đình gốc Ba Lan có bố mẹ là Vasyl Mykhailovych Lobanovsky và Oleksandra Maksymivna Boichenko. Vasyl Lobanovsky dấu vết nguồn gốc của mình cho gia đình szlachta Ba Lan của Lobko-Lobanowski. Ông kết hôn với Ada Lobanovskaya[4] và có một cô con gái tên là Svitlana.[5] Ngoài ra, ông còn là cháu trai của nhà văn Ukraina và thủ lĩnh của Đoàn Thanh niên Cộng sản Lenin tại Ukraina, Oleksandr Boichenko.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa Giải Cúp Tổng
Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng Trận Bàn thắng
Dynamo Kyiv 1959 10 4 - - 10 4
1960 29 12 1 0 30 12
1961 28 10 1 0 29 10
1962 30 8 1 0 31 8
1963 38 8 - - 38 8
1964 9 0 - - 9 0
Tổng 144 42 3 0 147 42
Chornomorets 1965 28 10 - - 28 10
1966 31 5 4 5 35 10
Tổng 59 15 4 5 63 20
Shakhtar 1967 32 9 2 1 34 10
1968 18 5 1 1 19 6
Tổng 50 14 3 2 53 16
Tổng số sự nghiệp 253 71 10 7 263 78

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Dynamo Kyiv

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Dnipro Dnipropetrovsk

Dynamo Kyiv

Liên Xô

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội Từ năm Tới năm Thông tin[8]
Số trận Thắng Hòa Thua Tỉ lệ thắng (%)
Dnipro Dnipropetrovsk 1968 1973 213 108 54 51 50.7
Dynamo Kyiv 1974 1990 681 356 199 126 52.28
Liên Xô 1975 1976 19 11 4 4 57.89
Ukraina Xô viết 1979 1979 7 5 1 1 71.43
Liên Xô 1982 1983 10 6 3 1 60
Liên Xô 1986 1990 48 25 12 11 52.08
UAE 1992 1992 12 6 3 3 50
Kuwait 1993 1996 41 17 11 13 41.46
Dynamo Kyiv 1997 2002 268 191 46 31 71.27
Ukraina 2000 2001 18 6 7 5 33.33
Tổng 1968 2002 1317 731 340 246 55.5

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]