Vanessa-Mae

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Vanessa Mae

Picto infobox character.png
Vanessa-Mae 2014.jpg
Vanessa tại 'Collars & Coats Gala Ball', tháng 10 năm 2014
SinhVanessa-Mae Vanakorn Nicholson
27 tháng 10, 1978 (40 tuổi)
Singapore
Nơi cư trúZermatt, Thụy Sĩ[1]
Tên khácVanessa Vanakorn
Nghề nghiệp
  • Nghệ sĩ violin
  • Người soạn nhạc
Năm hoạt động1990–hiện tại
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụviolin
Hãng đĩa

Vanessa-Mae (tên tiếng Hoa: 陈美 Chén Měi) (sinh ngày 27 tháng 10 năm 1978) [3] hay Vanessa-Mae Vanakorn Nicholson,[4] là một nghệ sĩ violin người Anh với doanh số album đạt tới vài triệu bản, khiến cô trở thành nghệ sĩ giàu nhất Vương quốc Anh năm 2006.[5] Cô thi đấu môn trượt tuyết trên núi cao tại Thế vận hội mùa đông 2014 dưới cái tên Vanessa Vanakorn (họ của cha) cho đội tuyển Thái Lan. Ban đầu, cô bị cấm trượt tuyết vì những cáo buộc nhận hối lộ, tuy nhiên Hội đồng trọng tài sau đó đã bác bỏ lệnh cấm do thiếu bằng chứng về sự lôi kéo cá nhân cùng những hành vi sai trái của cô.[6][7]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Vanessa Mae sinh ngày 27 tháng 10 năm 1978 tại Singapore, mẹ cô tên là Pamela Soei Luang Tan, người Singapore, cha là Vorapong Vanakorn, người Thái Lan. Vào năm 4 tuổi, cô được một người Anh nhận nuôi và chuyển đến London, nơi cô bắt đầu chơi violin, trước đó là piano. Năm 8 tuổi, Vanessa trải qua một giai đoạn học tập chuyên sâu với Giáo sư Lin Yao Ji tại Học viện Âm nhạc quốc gia Bắc Kinh. Vanessa sau đó trở lại London và theo học tại Đại học Âm nhạc Hoàng gia London.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 13 tuổi, Vanessa Mae trở thành nghệ sĩ solo trẻ tuổi nhất thu âm cả hai bản hòa tấu violin của BeethovenTchaikovsky, theo Sách Kỷ Lục Guiness.[8]

Album mang phong cách pop đầu tiên của cô, The violin Player, được phát hành vào năm 1995. Cô cũng xuất hiện trong một album của Janet Jackson vào năm 1997. Vanessa được mẹ quản lý cho đến khi cô sa thải bà vào năm 1999.[9]

Vào tháng 4 năm 2006, Vanessa được tờ Sunday Times Rich List xếp hạng là nghệ sĩ trẻ giàu có nhất dưới 30 tuổi ở Anh năm đó, với khối tài sản ước tính khoảng 32 triệu bảng Anh.[5][10]

Vanessa vào năm 2004

Tranh cãi về nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng 10 năm 2011, Vanessa Mae tham dự tiệc sinh nhật của lãnh đạo Chechnya Ramzan Kadyrov cùng với một số người nổi tiếng khác, "trình diễn bản nhạc 'Four Seasons' của Vivaldi một cách vô cùng máy móc, thiếu sáng tạo", theo The Moscow Times [11] và nhận được 500.000 đô la cho buổi trình diễn ấy. Khi được hỏi tiền đến từ đâu, Kadyrov trả lời " thánh Allah đã đưa cho tôi".[12] Các tổ chức nhân quyền đã chỉ trích cô và những người nổi tiếng tham dự sự kiện này.[13]

Quá trình sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Vanessa thỉnh thoảng ghi lại các tác phẩm của mình. Album China Girl: The Classical Album 2 sáng tác năm 1997 bao gồm hai tác phẩm: Violin Fantasy trên Puccini 'Turandot'Reunification Overture (khúc dạo đầu hợp nhất), đánh dấu sự thống nhất của Trung Quốc và Hồng Kông.[14]

Năm 2017, ClassicFM đã tổng hợp một danh sách 300 album nhạc cổ điển bán chạy nhất trong 25 năm trở lại đây. Và Vanessa Mae có tới ba album. Album nhạc Cổ điển I xếp thứ 244, Storm hạng 135 và album đầu tay của cô, The Violin Player xếp hạng 76. Trang web xác nhận rằng tổng doanh số bán album đã đưa cô trở thành nghệ sĩ violin độc tấu bán chạy nhất trong bảng xếp hạng này.[15]

Vanessa-Mae tại Trung tâm Southbank, Luân Đôn, Anh, mang theo ngọn đuốc Olympic, tháng 4 năm 2008.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bạn trai lâu năm của Vanessa Mae là chuyên gia rượu vang người Pháp Lionel Catelan.[16] Cô đồng thời cũng bày tỏ sự thiếu nồng nàn trong tình yêu: "Bạn chẳng cần tới một chiếc nhẫn để nói yêu".[17]

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Live at the Royal Albert Hall, The Red Hot Tour (1995) (phim tài liệu về hòa nhạc)
  • The Fantasy Fantasy (1998)
  • Arabian Nights (2000)
  • The Making of Me (2008) (đóng vai chính trong tập 3)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ski statt Geige: Vanessa Mae startet 2014 bei Olympia”. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bbc-20141111
  3. ^ Bản mẫu:FIS alpine skier
  4. ^ Sarah Knapton (20 tháng 1 năm 2014). “Winter Olympics 2014: violinist Vanessa-Mae to ski for Thailand at the Sochi Games”. The Telegraph (UK). 
  5. ^ a ă “Vanessa-Mae tops young rich list”. BBC News. 21 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “Vanessa-Mae has four-year competitive skiing ban overturned”. The Guardian (Manchester). Press Association. 19 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2015. 
  7. ^ “Alpine Skiing – Vanessa Vanakorn (Mae) appeal: Four-year ban cancelled, but ineligibility to compete in the Sochi 2014 Olympic Winter Games confirmed” (Thông cáo báo chí). Lausanne, Switzerland: Court of Arbitration for Sport. 19 tháng 6 năm 2015. 
  8. ^ “Guinness World Records 2003”. Guinness World Records. Guinness World Records Ltd. 2003. tr. 191. ISBN 978-1-892051-17-2. 
  9. ^ Deacon, Michael (7 tháng 8 năm 2008). “Vanessa-Mae's journey from prodigy to performer”. The Telegraph (London). Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011. 
  10. ^ https://www.theguardian.com/sport/2014/nov/11/vanessa-mae-violinist-bned-skiing-four-years
  11. ^ Malpas, Anna (7 tháng 10 năm 2011). “In the Spotlight”. The Moscow Times. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  12. ^ “Hollywood stars fly in on Chechen leader's birthday”. BBC News. 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2011. 
  13. ^ Classic Drive with Julia Lester (19 tháng 10 năm 2011). “Vanessa-Mae shamed for playing for Chechen president – Classical Music”. Limelight Magazine. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  14. ^ Walsh, John (24 tháng 1 năm 1998). “Living doll”. The Independent (London). Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2011. 
  15. ^ http://halloffame. classicfm.com/ultimate-chart/#225
  16. ^ " Tất cả những nụ cười cho Vanessa Mae mặc dù nghệ sĩ violin hoàn thành LAST trong lần ra mắt trượt tuyết Olympic ". Thư hàng ngày. 18 tháng 2 năm 2014.
  17. ^ “Mae Rejects Marriage”. Contactmusic.com. 21 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vanessa-Mae (2001). Vanessa-Mae: Changing worlds. London: Virgin. 
  • Brennan, Luann; DeRemer, Leigh Ann (1999). Contemporary musicians: Profiles of the people in music (ấn bản 26). Detroit, Mich.: Gale Group.