Vanguard 1

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Vanguard 1
Vanguard 1 composite.jpg
Hình vẽ tưởng tượng Vanguard 1 trong quỹ đạo
Dạng nhiệm vụKhoa học Trái Đất
Nhà đầu tưHải quân Hoa Kỳ
Định danh Harvard1958 Beta 2
COSPAR ID1958-002B
SATCAT №00005
WebsiteVanguard 1
Thời gian nhiệm vụ~2,200 ngày
Các thuộc tính thiết bị vũ trụ
Nhà sản xuấtUnited States Naval Research Laboratory
Trọng lượng phóng1,47 kilôgam (3,2 lb)
Kích thước ba chiều6,4 inch (16 cm) đường kính
Bắt đầu nhiệm vụ
Ngày phóngngày 17 tháng 3 năm 1958, 12:15:41 UTC;
Lỗi: Tham số đầu tiên không thể được phân tích như một ngày hoặc thời gian.
 (ngày 17 tháng 3 năm 1958, 12:15:41 UTC)
Tên lửaVanguard (rocket) TV-4
Địa điểm phóngTrạm không quân Mũi Canaveral Cape Canaveral Air Force Station Launch Complex 18
Kết thúc nhiệm vụ
Lần liên lạc cuốiMay 1964 (May 1964)
Ngày kết thúcKhoảng năm 2198 (240 năm quỹ đạo)
Các tham số quỹ đạo
Hệ quy chiếuGeocentric orbit
Chế độMedium Earth orbit
Bán trục lớn8.620 kilômét (4.650 nmi)[1]
Độ lệch tâm quỹ đạo0.1844061[1]
Củng điểm quỹ đạo658,9 kilômét (355,8 nmi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
Củng điểm quỹ đạo3.839,9 kilômét (2.073,4 nmi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ][1]
Độ nghiêng quỹ đạo34.2 degrees[1]
Chu kỳ quỹ đạo132.8 minutes[1]
Kinh độ của điểm nút lên181.84 degrees[1]
Acgumen của cận điểm120.16 degrees[1]
Độ bất thường trung bình10.84 degrees[1]
Chuyển động trung bình10.84[1]
Kỷ nguyên6 tháng 1 năm 2017[1]
Revolution number233,058[1]
Universal newsreel about the launch of Vanguard 1

Vanguard 1 (International Designator: 1958-Beta 2 [2]) là vệ tinh chính thức thứ tư của Trái Đất được phóng thành công (sau Sputnik 1, Sputnik 2, và Explorer 1). Vanguard 1 là vệ tinh đầu tiên có năng lượng mặt trời.[3] Mặc dù liên lạc với vệ tinh đã bị mất vào năm 1964, nó vẫn là vật thể nhân tạo lâu đời nhất vẫn còn trong quỹ đạo, cùng với phần trên của tên lửa đẩy của nó.Vệ tinh này được thiết kế để kiểm tra khả năng khởi động của một tên lửa đẩy ba giai đoạn như một phần của Dự án Vanguard, và ảnh hưởng của môi trường không gian trên vệ tinh và các hệ thống của nó trong quỹ đạo Trái đất. Nó cũng được sử dụng để thu được các phép đo trắc địa thông qua phân tích quỹ đạo. Vanguard 1 được Thủ tướng Liên Xô, Nikita Sergeyevich Khrushchyov mô tả là "vệ tinh trái nho".[4]

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 17 tháng 3 năm 1958, tên lửa đẩy ba tầng đã đưa Vanguard vào một quỹ đạo hình elip 654 km x 3,969 km 134,2 phút nghiêng ở 34,25 độ. Ước tính ban đầu vệ tinh này có quỹ đạo kéo dài 2.000 năm, nhưng sau đó các nhà khoa học phát hiện ra rằng áp suất bức xạ mặt trời và khí quyển trong các hoạt động của mặt trời ở mức độ cao đã tạo ra những nhiễu loạn đáng kể ở độ cao cận nhật của vệ tinh, làm giảm đáng kể tuổi thọ dự kiến của nó xuống còn 240 năm.[5] Vanguard 1 truyền tín hiệu của nó trong gần bảy năm khi nó quay xung quanh Trái Đất.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “Vanguard 1 Satellite details 1958-002B NORAD 00005”. N2YO. Ngày 23 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2015. 
  2. ^ “U.S. Space Objects Registry”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ Vanguard I the World's Oldest Satellite Still in Orbit Lưu trữ 2015-03-21 tại Wayback Machine, accessed ngày 24 tháng 9 năm 2007
  4. ^ “Vanguard I - the World's Oldest Satellite Still in Orbit”. Spacecraft Engineering Department, U.S. Navy. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2008. 
  5. ^ “Vanguard 1”. NASA. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2008. 
  6. ^ Rosenthal, Alfred. “A record of NASA space missions since 1958”. NASA. NASA Technical Reports Server. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2011.