Bước tới nội dung

Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm là đơn vị nghiệp vụ trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Việt Nam, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Đơn vị này giữ vai trò là cấp trên trực tiếp trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đối với VKSND cấp tỉnh và cấp khu vực.[1]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 28 tháng 5 năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao được thành lập theo quyết định số 953/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam khóa 13. Bước đầu có ba Viện kiểm sát nhân dân cấp cao được thành lập tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.[2]

Từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao chuyển đổi thành Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm.[1][3]

Nhiệm vụ và quyền hạn

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Điều 11 Thông tư số 04/2025/TT-VKSTC, Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm có thẩm quyền như sau:[4]

1. Thực hiện thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư số 02/2025/TT-VKSTC, cụ thể như sau:

a) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ;

b) Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;

c) Phát hiện vi phạm pháp luật và thông báo cho Vụ 7 để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

2. Kiểm sát bản án, Quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ; phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh khi xét thấy không có căn cứ; kháng nghị hoặc thông báo không kháng nghị phúc thẩm khi Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có báo cáo đề nghị xem xét kháng nghị;

Trường hợp phát hiện bản án, Quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới nhưng đã hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thông báo cho Vụ 7 để xem xét, tham mưu giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

3. Theo dõi, quản lý, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ theo quy định của ngành Kiểm sát nhân dân, trừ các vụ án do Vụ Công tố và Kiểm sát điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm; ban hành thông báo rút kinh nghiệm nghiệp vụ; phối hợp với Vụ 7 hướng dẫn, kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự theo quy định của Ngành;

4. Kiểm sát việc giải quyết các vụ việc khác và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật thuộc thẩm quyền của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;

5. Thông qua hoạt động công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm phát hiện vi phạm pháp luật, thiếu sót trong hoạt động xét xử hoặc trong quản lý nhà nước để tham mưu kiến nghị với các cơ quan hữu quan các biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật;

6. Sơ kết, tổng kết lĩnh vực công tác được phân công;

7. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Cơ cấu tổ chức

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức bộ máy của Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm gồm có:[1][3]

  • Văn phòng (tương đương cấp phòng)

Về mặt nhân sự: Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm có Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên các ngạch và công chức khác.[5]

Hệ thống Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Việt Nam

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c Phi Sơn; Chử Định (ngày 11 tháng 7 năm 2025). "Cơ cấu tổ chức, hoạt động của Viện Công tố và KS xét xử phúc thẩm". Báo Bảo vệ pháp luật. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
  2. ^ "Nghị quyết 953/NQ-UBTVQH13 2015 thành lập Viện kiểm sát nhân dân cấp cao". Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2018.
  3. ^ a b Trần Văn (ngày 8 tháng 7 năm 2025). "Quyết định thành lập 03 Viện Phúc thẩm". Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
  4. ^ Duy Anh (ngày 31 tháng 8 năm 2025). "Nhiệm vụ, quyền hạn của các Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm". Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2026.
  5. ^ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 44

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]