Viện trợ nước ngoài cho Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Việt Nam


Các nước khác

Chương trình hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới về viện trợ nước ngoài cho Việt Nam có ba mục tiêu: để hỗ trợ quá trình chuyển đổi của Việt Nam sang nền kinh tế thị trường, tăng cường phát triển công bằng và bền vững, và để thúc đẩy sử quản lý tốt hơn. Từ 1993 đến 2004, Việt Nam đã nhận được cam kết hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 29 tỉ USD, trong đó có khoảng 14 tỉ USD, tức 49% đã được giải ngân. Riêng năm 2004 các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết vốn ODA cho Việt Nam là 2,25 tỷ USD, trong đó có 1,65 tỷ USD đã được giải ngân. Ba nhà tài trợ đóng góp đến 80% lượng vốn giải ngân năm 2004 là: Nhật Bản, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Á. Trong giai đoạn 2006-10, Việt Nam hy vọng sẽ nhận được 14-15 tỷ USD vốn ODA[1].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối những năm 1970, Việt Nam thăm dò dầu khí ngoài khơi với sự hỗ trợ của các công ty Tây Đức, Ý và Canada cho đến năm 1981 thì kết thúc, nhưng sau lại tiếp tục với sự hỗ trợ kỹ thuật của Liên Xô. Theo các báo cáo, viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam là gần 300 triệu USD trong năm 1977 và 1978 nhưng giảm xuống còn không vào năm 1979 và đi kèm với đó, quá trình khôi phục sản xuất than của Việt Nam bị ảnh hưởng sâu sắc bởi sự thiếu hụt công nhân Trung Quốc. Năm 1979, Nhật Bản tạm ngưng quỹ Hỗ trợ Phát triển Chính thức của mình (một hỗn hợp các khoản tài trợ và các khoản vay lãi suất thấp lên tới 135 triệu USD) cho Việt Nam và khôi phục lại khi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thông tin sơ lược Việt Nam. Thư viện Quốc hội Federal Research Division (tháng 12 năm 2005). Bài viết này hợp nhất thông tin từ nguồn này thuộc phạm vi công cộng.