Bước tới nội dung

Việt Nam

Trang khóa
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam

Tiêu ngữ: 
"Độc lập – Tự do – Hạnh phúc"

Vị trí của Việt Nam (lục)

 ASEAN (lục)   [Chú giải]

Tổng quan
Thủ đôHà Nội
21°2′B 105°51′Đ / 21,033°B 105,85°Đ / 21.033; 105.850
Thành phố lớn nhấtThành phố Hồ Chí Minh
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Việt[a]
Ngôn ngữ thiểu số
Sắc tộc
(2019)
Tôn giáo
(2019)
Tên dân cưNgười Việt Nam
Chính trị
Chính phủNhà nước Marxist-Leninist đơn nhất
Tô Lâm
Lê Minh Hưng
Trần Thanh Mẫn
Trần Cẩm Tú
Lập phápQuốc hội Việt Nam
Lịch sử
Thành lập
k. 257 TCN
939
1802
25 tháng 8 năm 1883
2 tháng 9 năm 1945
21 tháng 7 năm 1954
27 tháng 1 năm 1973
30 tháng 4 năm 1975
2 tháng 7 năm 1976
18 tháng 12 năm 1986
28 tháng 11 năm 2013
Địa 
Diện tích  
 Tổng cộng
331.212 km2[4][b] (hạng 66[c])
128.565 mi2
 Mặt nước (%)
6,4[7]
 Đất liền
331.212 km2
127.882 mi2
Dân số 
 Ước lượng 2025
102.300.000[8] (hạng 16)
309/km2
800,3/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2026
 Tổng số
Tăng 2,025 nghìn tỷ đô la Mỹ[9] (hạng 23)
Tăng 19.649 đô la Mỹ[9] (hạng 104)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2025
 Tổng số
Tăng 527,266 tỷ đô la Mỹ[9] (hạng 33)
 Bình quân đầu người
Tăng 5.115 đô la Mỹ[9] (hạng 119)
Đơn vị tiền tệĐồng (₫) (VND)
Thông tin khác
Gini? (2025)35[10]
trung bình
HDI? (2023)Tăng 0,726[11]
cao · hạng 93
Múi giờUTC+07:00 (Giờ Đông Dương)
Cách ghi ngày thángdd.mm.yyyy
Điện thương dụng220 V – 50 Hz
Giao thông bênphải
 điện thoại+84
 ISO 3166VN
Tên miền Internet.vn

Việt Nam, quốc hiệu đầy đủ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,[12] là một quốc gia nằm ở cực Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, biển Đôngvịnh Thái Lan.

Lãnh thổ Việt Nam xuất hiện con người sinh sống từ thời đại đồ đá cũ, khởi đầu với các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc. Âu Lạc bị nhà Triệu ở phương Bắc thôn tính vào đầu thế kỷ thứ 2 TCN sau đó là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập được tái lập sau chiến thắng của Ngô Quyền trước nhà Nam Hán, mở đường cho các triều đại độc lập kế tục, nhiều lần chiến thắng trước các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc đồng thời dần mở rộng về phía nam. Thời kỳ Bắc thuộc cuối cùng kết thúc sau chiến thắng trước nhà Minh của nghĩa quân Lam Sơn.

Đến thời cận đại, Việt Nam lần lượt trải qua các giai đoạn Pháp thuộcNhật thuộc. Sau khi đánh bại và buộc Nhật Bản đầu hàng, khối Đồng Minh tạo điều kiện cho Pháp thu hồi Liên bang Đông Dương. Kết thúc Thế chiến II, Việt Nam chịu sự can thiệp của các nước Đồng Minh bao gồm Anh, Pháp (miền Nam), Trung Hoa Dân Quốc (miền Bắc). Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo ra đời khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 sau thành công của Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Liên hiệp Pháp cùng Quốc gia Việt Nam do Pháp hậu thuẫn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sự kiện này dẫn tới Hiệp định Genève (1954) được ký kết và Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát phần phía bắc còn phía nam do Việt Nam Cộng hòa (nhà nước kế tục Quốc gia Việt Nam) kiểm soát và được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Xung đột về thống nhất lãnh thổ đã dẫn tới chiến tranh Việt Nam với sự can thiệp của nhiều nước và kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa vào năm 1975. Chủ quyền phần phía Nam được chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam (do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập) giành quyền kiểm soát. Năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sau khi tái thống nhất, Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn do sự sụp đổtan rã của đồng minh Liên Xô cùng Khối phía Đông, các lệnh cấm vận của Hoa Kỳ,[13] chiến tranh Đông Dương lần ba và hậu quả của chính sách bao cấp sau nhiều năm áp dụng. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành cải cách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng. Cải cách kinh tế cùng quy mô dân số lớn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, được coi là Hổ mới châu Á dù cho vẫn gặp phải những thách thức như tham nhũng[14]phúc lợi xã hội chưa đầy đủ.[15] Ngoài ra, giới bất đồng chính kiến và các tổ chức theo dõi nhân quyền có quan điểm chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Việt Nam liên quan đến các vấn đề tôn giáo, kiểm duyệt truyền thôngtự do dân sự.[16]

Tên gọi

Nguồn gốc tên gọi

Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt, Đại Nam hay Việt Nam. Chữ Việt Nam (越南) được cho là việc đổi ngược lại của quốc hiệu Nam Việt (南越) thời Triệu Vũ Ðế. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, từng được dùng trong các quốc hiệu Đại Cồ Việt (大瞿越) và Đại Việt (大越), là các quốc hiệu từ thế kỷ 10 tới đầu thế kỷ 19. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đây là vùng đất phía nam, là vị trí cương vực, từng được dùng cho quốc hiệu Đại Nam (大南), và trước đó là một cách gọi phân biệt Đại Việt là Nam Quốc (như "Nam Quốc Sơn Hà") với Bắc Quốc là Trung Hoa.[cần dẫn nguồn]

Vua Gia Long nhà Nguyễn chính thức sử dụng quốc hiệu "Việt Nam" từ năm 1804.[17] Sau đó Nhà Thanh công nhận Việt Nam là quốc hiệu của Nhà Nguyễn.[18] Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" để không nhầm với nước Nam Việt, cũng như thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Trùng hợp là trước đó mấy trăm năm, trong Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tên "Việt Nam" làm tên chính thức, mặc dù khi đó vẫn còn sử dụng quốc hiệu "Đại Việt". Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.[19][20]

Tên gọi "Việt Nam" cũng xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng.[21] Tên gọi "An Nam" cũng có trong thời Pháp thuộc. Năm 1945, Đế quốc Việt Nam ra đời và tiếp tục đặt quốc hiệu "Việt Nam".[22] Sau đó tất cả những nhà nước ở Việt Nam sau năm 1945 đều sử dụng quốc hiệu này.

Trong văn viết tiếng nước ngoài

Trong văn viết tiếng Anh hiện nay, cách viết thông dụng nhất cho tên gọi Việt Nam là Vietnam (viết liền không dấu cách cho từ ghép, là một kiểu Anh hoá tên gọi để phù hợp với cấu trúc từ vựng cũng như chính tả của tiếng Anh), dẫn đến thêm tiếp tố "-ese" để tạo ra tính từVietnamese. Ở Việt Nam tồn tại thêm hai cách viết giữ dấu cách là "Viet Nam" (bỏ dấu) và "Việt Nam" (để đầy đủ dấu theo chữ Quốc ngữ). Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt NamBộ Ngoại giao Việt Nam cho phiên bản tiếng Anh trước đây có dùng cả 3 cách: "Vietnam", "Viet Nam" hoặc "Việt Nam".[23][24] Từ điển tiếng Anh Oxford mới chỉ ghi nhận cách viết Vietnam cho danh từ và Vietnamese cho tính từ,[25][26] chưa có ghi nhận "Viet Nam" và "Viet Namese".[27][28] Danh sách liệt kê thành viên trên trang web của Liên Hợp Quốc viết tên quốc gia này là "Viet Nam" trong khi các bài viết tiểu mục thì vẫn viết là "Vietnam". Còn Bộ Ngoại giao Việt NamTổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) thì sử dụng "Viet Nam" và quốc hiệu "the Socialist Republic of Viet Nam" như là tên gọi tiêu chuẩn trên các văn bản tiếng nước ngoài, chủ yếu trên các văn bản và văn hóa phẩm tiếng Anh được phát hành bởi Nhà nước Việt Nam.[29][30] Nhìn chung, cả "Vietnam" hay "Viet Nam" đều được chấp nhận trong tiếng Anh, trong đó "Vietnam" được dùng phổ biến hơn trong các phương tiện truyền thông từ nước ngoài.

Với hầu hết ngôn ngữ khác dùng chữ Latinh như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Ý,... chủ yếu cũng sử dụng cách viết "Vietnam", và một số ngôn ngữ có cách viết khác như "Vietnã" (tiếng Bồ Đào Nha), "Wietnam" (tiếng Ba Lan), "Vítneam" (tiếng Ireland), tuỳ vào cấu trúc bảng chữ cái Latinh của mỗi ngôn ngữ, nhưng đều viết liền không dấu cách. Các ngôn ngữ khác dùng những hệ chữ viết có họ hàng gần với chữ Latinh như chữ Cyrill hay chữ Hy Lạp cũng thường viết liền không dấu cách để chỉ Việt Nam như "Вьетнам" (tiếng Nga), "Вијетнам" (tiếng Serbia), "Βιετνάμ" (tiếng Hy Lạp).[31][32]

Lịch sử

Sự khuếch trướng lãnh thổ của các triều đại người Việt từ thời nhà Lý (1009) cho đến hết nhà Nguyễn (1945) cùng với công cuộc Nam tiến (1069–1757)

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh BìnhQuảng Bình[33] Ngoài ra, tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng đánh cá.[33]

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000 đến 6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa có từ cao nguyên tới đồng bằng.[33] Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ theo kiểu khác và làm đồ gốm với kỹ thuật khác.[33] Đến khoảng thiên niên kỷ I TCN vào cuối thời kỳ đồ đồng, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn[34] rồi cùng thời gian đó, những nhà nước đầu tiên lần lượt xuất hiện đó là Văn LangÂu Lạc.[35]

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến từ phương Bắc cai trị một phần Việt Nam hơn 1000 năm.[36] Sự cai trị này bị ngắt quãng bởi những cuộc khởi nghĩa của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan, Hai Bà Trưng hay Lý Bí. Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, không phải là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc.[37] Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán,[38] Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu một nhà nước độc lập khỏi các triều đình phương Bắc vào năm 939.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáoĐạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Mông – Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập (năm 1428). Có quan điểm cho rằng đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt "đỉnh cao" đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).[39]

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan lại trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê trung hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa TrịnhChúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây chiến tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoàiđàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa TrịnhChúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của XiêmThanh để lập Nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh – một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ PhápXiêm lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam.[40] Thời phong kiến, các triều , Trần, Hậu Lêchúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân LạpTây Nguyên ở phía Nam.[41]

Phương Tây tiếp cận Việt Nam từ thế kỷ XVI. Vào thế kỷ XVII, Đàng TrongĐàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào NhaHà Lan,[42] sau thêm AnhPháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ[43] đến truyền bá Công giáo từ năm 1615 rồi Hội Thừa sai ParisDòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong 2 thế kỷ tiên khởi XVIIXVIII.[44] Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật từ phương Tây được tăng cường truyền bá.[45]

Lễ tuyên bố thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại quảng trường Ba Đình (1945)

Thế chiến thứ 2, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng nên Đế quốc Việt Nam, chính thể bù nhìn này phải nộp thuế và cung ứng cho Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói Ất Dậu. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945.[46] Pháp tính lấy lại Đông Dương, nhưng vấp phải sự phản kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đã buộc phải hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.[47]

Năm 1954, Chiến tranh Đông Dương kết thúc, Pháp phải công nhận sự độc lập của Việt Nam và rút quân, xuất hiện 2 vùng tập kết quân sự chờ cuộc bầu cử thống nhất đất nước[48] nhưng không thành do Hoa Kỳ hậu thuẫn cho Việt Nam Cộng hòa (chính phủ kế thừa Quốc gia Việt Nam) từ chối tổ chức bầu cử.[49] Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn các lực lượng miền Nam nổi dậy chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, gây ra xung đột quân sự mà tiếp theo đó là sự tham chiến của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh.[50] Chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.[51]

Năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tuyển cử hợp nhất. Do hậu quả chiến tranh, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, nước Việt Nam thời hậu chiến phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội.[52] Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng mới.[53] Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 và gia nhập ASEAN vào cùng năm. Năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO.

Địa lý

Hình ảnh Vịnh Hạ Long, sông Yên và thác Bản Giốc
Các danh lam thắng cảnh tự nhiên tại Việt Nam, theo chiều kim đồng hồ từ trên cùng: Vịnh Hạ Long, Sông Yên, và Thác Bản-Giốc
Hình ảnh dãy núi Hoàng Liên Sơn
Dãy núi Hoàng Liên Sơn, dãy núi bao gồm Fansipan, đỉnh núi cao nhất trên Bán đảo Đông Dương

Việt Nam nằm ở phía đông Đông Nam Á lục địa giữa các vĩ độ 24°B, và các kinh độ 102°110°Đ. Quốc gia này có tổng diện tích là 331.210 km2 (127.881 dặm vuông Anh)[5] hoặc 331,699 km2 (128 dặm vuông Anh).[6] Tổng chiều dài đường biên giới đất liền của quốc gia là 4.639 km (2.883 mi), và đường bờ biển dài 3.444 km (2.140 mi).[54] Tại điểm hẹp nhất ở tỉnh Quảng Bình thuộc miền Trung, quốc gia này chỉ rộng 50 kilômét (31 mi), trong khi mở rộng tới khoảng 600 kilômét (370 mi) ở miền Bắc.[55] Lãnh thổ Việt Nam chủ yếu là đồi núi và rừng rậm, với vùng đất bằng phẳng chiếm không quá 20%. Núi chiếm 40% diện tích đất liền của cả nước,[56]rừng nhiệt đới bao phủ khoảng 42%.[57] Sông Hồng chảy qua Hà Nội ở miền Bắc Việt Nam trước khi đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Đồng bằng sông Hồng là một vùng đồng bằng thấp, bằng phẳng, có dạng hình tam giác tương đối với diện tích 15.000 km2 (5.792 dặm vuông Anh).[58] Đây là vùng có diện tích nhỏ nhất nhưng có dân số và mật độ dân số cao nhất trong tất cả các vùng ở Việt Nam. Nơi đây chằng chịt mạng lưới sông ngòi và kênh rạch, mang theo nhiều trầm tích đến mức vùng đồng bằng này tiến thêm 60 đến 80 mét (196,9 đến 262,5 ft) ra Biển Đông mỗi năm.[59][60] Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bao phủ diện tích 417.663 km2 (161.261 dặm vuông Anh) tại Biển Đông.[61]

Miền Nam Việt Nam được chia thành các vùng đất thấp ven biển, dãy núi Trường Sơn, và rừng. Bao gồm năm cao nguyên đất bazan, vùng Tây Nguyên chiếm 16% diện tích đất canh tác của cả nước và 22% tổng diện tích đất rừng.[62] Đất đai ở hầu hết khu vực miền Nam Việt Nam có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp hơn do kết quả của quá trình canh tác.[63] Phần phía bắc của đất nước chủ yếu bao gồm vùng cao và Đồng bằng sông Hồng. Fansipan, đỉnh núi nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh Lào CaiLai Châu, là ngọn núi cao nhất trên Bán đảo Đông Dương, với độ cao 3.143 m (10.312 ft).[64] Từ bắc vào nam Việt Nam, quốc gia này có nhiều hòn đảo; Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất.[65] Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, và sông Mê Kông là con sông dài nhất cả nước.[66][67][68] Hang Sơn Đoòng là một hang động được khảo sát lần đầu tiên vào năm 2009 bởi một đoàn thám hiểm từ Hiệp hội Nghiên cứu Hang động Anh.[69] Hang động này dài hơn 8,8 km (5,5 mi), và một số khoang của nó đủ lớn để chứa một tòa nhà chọc trời 40 tầng. Nó có một hố sụt, sâu hơn 183 m (600 ft), bên dưới hố sụt này phát triển một khu rừng mưa nhiệt đới với những cây cao gần 30 m (98 ft). Khu rừng này là nơi sinh sống của khỉ và các loài động vật khác thường không tìm thấy trong môi trường lòng đất. Một con sông ngầm chảy bên trong hang động.[70]

Khí hậu

 Bản đồ phân loại khí hậu Köppen của Việt Nam
Bản đồ Phân loại khí hậu Köppen của Việt Nam
Ảnh chụp bãi biển Nha Trang với nhiều tòa nhà cao tầng phía sau
Nha Trang, một điểm đến du lịch biển, có khí hậu xavan

Do sự khác biệt về vĩ độ và sự đa dạng về địa hình, khí hậu Việt Nam có sự thay đổi theo từng vùng miền.[71] Trong mùa đông hoặc mùa khô, kéo dài khoảng từ tháng 11 đến tháng 4, gió mùa thổi chủ yếu từ hướng đông bắc dọc theo bờ biển Trung Quốc và băng qua Vịnh Bắc Bộ, mang theo hơi ẩm.[72] Nhiệt độ trung bình năm nhìn chung ở vùng đồng bằng cao hơn ở vùng núi, và ở miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc. Khu vực phía Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa với bốn mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu và đông), trong đó mùa đông thường khô ráo và mùa hè dao động từ nóng đến ôn hòa.[73] Ở các khu vực phía Nam và miền Trung, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa (mùa mưa và mùa khô).[74][75][76] Nhiệt độ ít biến động hơn ở các vùng đồng bằng phía Nam quanh Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long, dao động trong khoảng từ 21 đến 35 °C (70 đến 95 °F) trong suốt cả năm.[77] Tại Hà Nội và các khu vực lân cận thuộc Đồng bằng sông Hồng, nhiệt độ thấp hơn, trong khoảng từ 15 đến 33 °C (59 đến 91 °F).[77] Sự biến đổi theo mùa ở vùng núi, cao nguyên và các khu vực cực Bắc diễn ra mạnh mẽ hơn, với nhiệt độ thay đổi từ 3 °C (37 °F) vào tháng 12 và tháng 1 đến 37 °C (99 °F) vào tháng 7 và tháng 8.[78] Vào mùa đông, tuyết thỉnh thoảng rơi trên những đỉnh núi cao nhất ở vùng núi phía Bắc gần biên giới Trung Quốc.[79] Việt Nam có lượng giáng thủy dưới dạng mưa với mức trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm (60 đến 80 in) trong các mùa gió mùa; điều này đôi khi gây ra lũ lụt, đặc biệt là ở một số thành phố.[80] Quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão nhiệt đới và bão lớn (typhoon).[80] 55% dân số Việt Nam sinh sống tại các vùng ven biển có độ cao thấp.[81][82]

Đa dạng sinh học

Ảnh chụp các loài bản địa tại Việt Nam, chim trĩ sao; voọc chà vá chân nâu, một loài khỉ; báo Đông Dương và sao la, một loài thuộc họ bò
Các loài bản địa tại Việt Nam, theo chiều kim đồng hồ từ trên cùng bên phải: Trĩ sao, Voọc mũi hếch, Báo Đông Dương, và Sao la
Ảnh chụp đồi núi Sa Pa với các hoạt động nông nghiệp được thể hiện ở tiền cảnh
Vùng núi Sa Pa với các hoạt động nông nghiệp

Vì nằm trong khu vực sinh thái Indomalaya, Việt Nam là một trong hai mươi lăm quốc gia được coi là sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao một cách độc đáo. Điều này đã được ghi nhận trong Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2005.[83] Việt Nam đứng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài hệ thực vật đã được xác định trong nước, trong đó 10% là loài đặc hữu. Hệ động vật của Việt Nam bao gồm 307 loài tuyến trùng, 200 loài giun ít tơ, 145 loài ve bét, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát và 120 loài lưỡng cư. Có 840 loài chim và 310 loài động vật có vú được tìm thấy tại Việt Nam, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là đặc hữu.[83] Việt Nam có hai Di sản Thiên nhiên Thế giớiVịnh Hạ LongVườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng—cùng với chín khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nghệ An, Cà Mau, và Cù Lao Chàm.[84][85]

Việt Nam cũng là nơi sinh sống của 1.438 loài vi tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài vi tảo, cùng với 794 loài động vật không xương sống thủy sinh và 2.458 loài cá biển.[83] Trong một số năm, có 13 chi, 222 loài và 30 tổ hợp phân loại thực vật mới đã được mô tả tại Việt Nam.[83] Sáu loài động vật có vú mới, bao gồm sao la, mang lớn, và voọc mũi hếch cũng đã được phát hiện, cùng với một loài chim mới là loài gà lôi Edwards đang cực kỳ nguy cấp.[86] Vào thập niên 1980, một quần thể Tê giác Java đã được tìm thấy tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Cá thể cuối cùng của loài này tại Việt Nam được báo cáo là đã bị bắn chết vào năm 2010.[87] Về đa dạng di truyền nông nghiệp, Việt Nam là một trong mười hai trung tâm cây trồng gốc của thế giới. Ngân hàng Gen Cây trồng Quốc gia Việt Nam đang bảo tồn 12.300 giống cây trồng của 115 loài.[83] Chính phủ Việt Nam đã chi 49,07 triệu đô la Mỹ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học chỉ riêng trong năm 2004 và đã thành lập 126 khu bảo tồn, bao gồm 30 vườn quốc gia.[83]

Tại Việt Nam, nạn săn bắn trộm động vật hoang dã đã trở thành một mối lo ngại. Năm 2000, một Tổ chức phi chính phủ (NGO) mang tên Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã được thành lập nhằm thấm nhuần vào người dân tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã trong nước.[88] Trong những năm tiếp theo, một tổ chức phi chính phủ khác mang tên GreenViet đã được thành lập bởi những thanh niên Việt Nam nhằm thực thi việc bảo vệ động vật hoang dã. Thông qua sự hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương, một số đường dây săn trộm địa phương đã bị triệt phá sau vụ bắt giữ những kẻ cầm đầu.[88] Một nghiên cứu công bố năm 2018 cho thấy Việt Nam là điểm đến của hoạt động xuất khẩu lậu sừng tê giác từ Nam Phi do nhu cầu sử dụng chúng như một loại thuốc và một biểu tượng của địa vị.[89][90]

Một mối quan tâm về môi trường khác ở Việt Nam là hệ lụy từ việc sử dụng chất diệt cỏ hóa học Chất độc da cam, thứ tiếp tục gây ra các dị tật bẩm sinh và các vấn đề sức khỏe cho người dân Việt Nam. Tại các khu vực miền Nam và miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi việc sử dụng hóa chất này trong Chiến tranh Việt Nam, gần 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm và chịu đựng những hậu quả của nó.[91][92][93] Vào năm 2012, khoảng 50 năm sau chiến tranh,[94] Hoa Kỳ đã bắt đầu một dự án làm sạch chung trị giá 43 triệu đô la Mỹ tại các khu vực lưu trữ hóa chất cũ ở Việt Nam, được thực hiện theo từng giai đoạn.[92][95] Sau khi hoàn thành giai đoạn đầu tại Đà Nẵng vào năm 2017,[96] Hoa Kỳ đã công bố cam kết làm sạch các địa điểm khác, đặc biệt là tại khu vực Biên Hòa.[97]

Chính phủ Việt Nam chi hơn 10 nghìn tỷ đồng mỗi năm (431,1 triệu đô la) cho các khoản trợ cấp hàng tháng và phục hồi chức năng cho các nạn nhân chất độc hóa học.[98] Vào năm 2018, tập đoàn kỹ thuật Nhật Bản Shimizu Corporation, phối hợp với quân đội Việt Nam, đã xây dựng một nhà máy xử lý đất ô nhiễm chất độc da cam. Chi phí xây dựng nhà máy do chính công ty tự chi trả.[99][100] Một trong những kế hoạch để khôi phục các hệ sinh thái bị hư hại ở miền Nam Việt Nam là thông qua các nỗ lực gây rừng. Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện việc này ngay khi chiến tranh kết thúc. Công việc bắt đầu bằng việc trồng lại các rừng ngập mặn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tại Cần Giờ, ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, nơi các rừng ngập mặn giúp giảm thiểu tình trạng lũ lụt trong mùa gió mùa.[101] Quốc gia này có điểm trung bình Chỉ số tính toàn vẹn của cảnh quan rừng năm 2019 là 5,35/10, xếp hạng 104 toàn cầu trong tổng số 172 quốc gia.[102]

Ngoài vấn đề về thuốc diệt cỏ, việc nhiễm độc asen trong nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng đã trở thành một mối lo ngại.[103][104] Vật liệu chưa nổ (UXO) gây ra những nguy hiểm cho con người và động vật hoang dã—một hệ lụy khác từ các cuộc chiến tranh.[105] Như một phần của chiến dịch liên tục nhằm rà phá và loại bỏ các vật liệu chưa nổ, một số cơ quan gỡ bom quốc tế từ Vương quốc Anh,[106] Đan Mạch,[107] Hàn Quốc[108] và Hoa Kỳ[109] đã và đang hỗ trợ tích cực. Chính phủ Việt Nam chi hơn 1 nghìn tỷ đồng (44 triệu đô la) hàng năm cho các hoạt động rà phá bom mìn và thêm hàng trăm tỷ đồng cho việc điều trị, hỗ trợ, phục hồi chức năng, đào tạo nghề và tái định cư cho các nạn nhân của vật liệu chưa nổ.[110]

Chính trị

Việt Nam là một quốc gia đơn nhất, cộng sản tự xác định là một cộng hòa xã hội chủ nghĩa, một trong hai quốc gia cộng sản (quốc gia còn lại là Lào) tại Đông Nam Á.[111] Mặc dù Việt Nam vẫn chính thức cam kết tuân thủ chủ nghĩa xã hội như là tôn chỉ xác định của mình, các chính sách kinh tế của quốc gia này ngày càng mang tính tư bản chủ nghĩa,[112][113] với tạp chí The Economist mô tả ban lãnh đạo là những "người cộng sản nhiệt thành với tư bản".[114] Theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khẳng định vai trò của mình trong tất cả các lĩnh vực chính trị của đất nước.[111] Chủ tịch nướcnguyên thủ quốc gia do bầu chọn và là tổng tư lệnh quân đội, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh tối cao, giữ chức vụ cao thứ hai tại Việt Nam, thực hiện các chức năng hành pháp, bổ nhiệm các chức danh nhà nước và hoạch định chính sách.[111]

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện các chức năng điều hành, kiểm soát tổ chức quốc gia của Đảng.[111] Thủ tướngngười đứng đầu chính phủ, chủ trì Hội đồng Bộ trưởng bao gồm năm phó thủ tướng và người đứng đầu của 26 bộ và cơ quan ngang bộ. Chỉ các tổ chức chính trị liên kết với hoặc được Đảng Cộng sản Việt Nam tán thành mới được phép tham gia tranh cử tại Việt Nam. Các tổ chức này bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng các đảng của công nhân và người lao động.[111]

Ảnh chụp Nhà Quốc hội Việt Nam tại Hà Nội
Tòa nhà Quốc hội Việt Nam tại Hà Nội

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhất viện gồm 500 thành viên.[115] Đứng đầu bởi một Chủ tịch, Quốc hội nắm giữ các quyền lực thống nhất của nhà nước (có nghĩa là cơ quan này cao hơn các cơ quan hành pháp và tư pháp), với tất cả các quan chức nhà nước trung ương đều được bổ nhiệm từ các đại biểu Quốc hội.[111] Tòa án nhân dân tối cao, đứng đầu là Chánh án, là tòa án cấp cao nhất của đất nước và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Dưới Tòa án nhân dân tối cao là các tòa án nhân dân cấp tỉnhtòa án địa phương. Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề về an ninh nhà nước.[116]

Phân cấp hành chính

Sau cuộc cải cách hành chính năm 2025, Việt Nam được chia thành 28 tỉnh và 6 thành phố trực thuộc trung ương, có cấp hành chính tương đương với cấp tỉnh.[117]

Quan hệ đối ngoại

Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào ngày 13 tháng 12 năm 2023
Nguyễn Phú Trọng và Vladimir Putin
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng Tổng thống Nga Vladimir Putin vào ngày 20 tháng 6 năm 2024
Tô Lâm và Joe Biden
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden vào ngày 25 tháng 9 năm 2024

Xuyên suốt lịch sử, mối quan hệ đối ngoại chính của Việt Nam là với các triều đại Trung Hoa.[118] Các nguyên tắc về chủ quyền và sự kiên định về độc lập văn hóa của quốc gia được phản ánh trong các văn kiện lịch sử như bài thơ thế kỷ 11 Nam quốc sơn hà và bản cáo trạng năm 1428 Bình Ngô đại cáo. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam chính thức hòa bình,[118] tranh chấp lãnh thổ vẫn tồn tại giữa hai nước về vấn đề Biển Đông.[119] Hai nước duy trì các mối liên kết kinh tế và chính trị.[120]:102 Sau khi chia cắt Việt Nam vào năm 1954, Miền Bắc duy trì quan hệ với Khối phía Đông, trong khi Miền Nam duy trì quan hệ với Khối phía Tây.[118] Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc (UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Phong trào Không liên kết (NAM), Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (La Francophonie) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quốc gia này cũng duy trì quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ.[121] Tính đến năm 2010, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia.[122]

Chính sách đối ngoại của Việt Nam là nhất quán thực hiện chính sách độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế.[123][124] Đất nước này tuyên bố là bạn và đối tác của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, không phân biệt thể chế chính trị, bằng cách tích cực tham gia vào các dự án phát triển hợp tác khu vực và quốc tế.[125][123] Kể từ thập niên 1990, Việt Nam đã thực hiện các bước để khôi phục quan hệ ngoại giao với các quốc gia tư bản phương Tây. Quốc gia này vốn đã có quan hệ với các nước phương Tây cộng sản trong những thập kỷ trước đó.[126] Quan hệ với Hoa Kỳ bắt đầu được cải thiện vào tháng 8 năm 1995 khi cả hai bang nâng cấp các văn phòng liên lạc lên cấp đại sứ quán.[127] Vào tháng 5 năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp tục bình thường hóa quan hệ với Việt Nam sau khi ông tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.[128] Việt Nam đã theo đuổi mối quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là trong bối cảnh địa chính trị của các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Đông.[129][130] Chính sách đối ngoại của Việt Nam tập trung vào việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốcvới Hoa Kỳ.[131] Việt Nam vẫn duy trì các mối quan hệ quân sự và an ninh với Nga.[132]

Quân sự

Quân đội nhân dân Việt Nam duyệt binh

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt NamDân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam và được chia thành:

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự và dân quân tự vệ, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2022, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 7,32 tỷ USD, tương đương khoảng 1,79% GDP năm 2022.

Kinh tế

Sự phát triển GDP bình quân đầu người theo lịch sử của Việt Nam
Tỷ trọng trong Tổng sản phẩm quốc nội thế giới (PPP)[9]
Năm Tỷ trọng
19800,21%
19900,28%
20000,39%
20100,52%
20200,80%

Xuyên suốt lịch sử Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp - đặc biệt là thâm canh lúa nước.[133] Bô-xít, một nguyên liệu trong sản xuất nhôm, được khai thác ở miền Trung Việt Nam.[134] Kể từ khi thống nhất, nền kinh tế đất nước được định hình chủ yếu bởi ĐCSVN thông qua các Kế hoạch 5 năm được quyết định tại các phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương và các kỳ đại hội toàn quốc.[135] Việc tập thể hóa các trang trại, nhà máy và tư liệu sản xuất đã được thực hiện như một phần của việc thiết lập kế hoạch tập trung, với hàng triệu người làm việc cho các doanh nghiệp nhà nước. Dưới sự kiểm soát của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục bị bủa vây bởi sự kém hiệu quả, tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng.[136][137] Với sự sụt giảm viện trợ kinh tế từ đối tác thương mại chính là Liên Xô sau sự xói mòn của Khối phía Đông vào những năm 1980, và sự sụp đổ của Liên Xô sau đó, cùng những tác động của lệnh cấm vận thương mại sau chiến tranh do Hoa Kỳ áp đặt,[138][139] Việt Nam bắt đầu tự do hóa thương mại bằng cách phá giá tỷ giá hối đoái để tăng cường xuất khẩu và bắt tay vào chính sách phát triển kinh tế.[140]

Ảnh chụp tòa nhà chọc trời cao nhất Việt Nam, Landmark 81, tọa lạc tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh
Tòa nhà chọc trời cao nhất Việt Nam, Landmark 81, tọa lạc tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vào năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN đã giới thiệu các cải cách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một phần của chương trình cải cách Đổi Mới. Sở hữu tư nhân bắt đầu được khuyến khích trong công nghiệp, thương mại và nông nghiệp, và các doanh nghiệp nhà nước đã được tái cơ cấu để hoạt động dưới các ràng buộc của thị trường.[141][142] Điều này dẫn đến việc các kế hoạch kinh tế 5 năm được thay thế bằng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.[143] Nhờ kết quả của những cải cách này, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm khoảng 8% trong giai đoạn 1990–1997.[144][145] Hoa Kỳ đã chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam vào năm 1994.[146] Mặc dù Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đã gây ra sự chậm lại của nền kinh tế xuống mức tăng trưởng 4–5% mỗi năm, nền kinh tế đã bắt đầu phục hồi vào năm 1999,[141] và tăng trưởng khoảng 7% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2005.[147][148] Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới).[149] Theo Tổng cục Thống kê (GSO), tăng trưởng vẫn duy trì mạnh mẽ bất chấp suy thoái kinh tế toàn cầu cuối thập niên 2000, giữ ở mức 6,8% vào năm 2010. Tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ của Việt Nam đạt 11,8% vào tháng 12 năm 2010, và đồng tiền nội tệ là đồng Việt Nam đã bị phá giá ba lần.[150][151]

Tình trạng nghèo khổ cùng cực, được định nghĩa là tỷ lệ dân số sống với mức thu nhập dưới 1 USD mỗi ngày, đã giảm ở Việt Nam, và tỷ lệ nghèo tương đối thấp hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines.[152] Sự sụt giảm này có thể nhờ các chính sách kinh tế công bằng nhằm cải thiện mức sống và ngăn chặn sự gia tăng của bất bình đẳng.[153] Các chính sách này bao gồm phân phối đất đai bình quân trong các giai đoạn đầu của chương trình Đổi Mới, đầu tư vào các vùng sâu vùng xa nghèo hơn, và trợ cấp giáo dục và y tế.[154][155] Kể từ những năm 2000, Việt Nam đã áp dụng tự do hóa thương mại có lộ trình, một cách tiếp cận hai luồng mở cửa một số lĩnh vực kinh tế cho thị trường quốc tế.[153][156] Công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp công nghệ cao sau đó đã hình thành một bộ phận lớn hơn và phát triển nhanh hơn của nền kinh tế quốc dân. Việt Nam là nhà sản xuất dầu lớn thứ ba ở Đông Nam Á với tổng sản lượng năm 2011 là 318.000 thùng trên ngày (50.600 m3/d).[157] Vào năm 2010, Việt Nam được xếp hạng là nhà sản xuất dầu mỏ thô lớn thứ tám trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.[158] Hoa Kỳ mua tỷ trọng lớn nhất trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam,[159] trong khi hàng hóa từ Trung Quốc là mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất của Việt Nam.[160]

Dựa trên những khảo sát của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam là 2,3%, GDP danh nghĩa đạt 406,452 tỷ USD và GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 4.086 USD.[9][161] Bên cạnh nền kinh tế khu vực sơ khai, du lịch đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với 7,94 triệu khách quốc tế được ghi nhận vào năm 2015.[162]

Nông nghiệp

Ảnh chụp ruộng bậc thang tại Sa Pa
Ruộng bậc thang ở Sa Pa

Việt Nam là nhà sản xuất hạt điều lớn nhất thế giới, chiếm một phần ba thị phần toàn cầu;[163] là nhà sản xuất hồ tiêu lớn nhất, chiếm một phần ba thị trường thế giới;[164] và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan kể từ thập niên 1990.[165] Sau đó, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới.[166] Quốc gia này có tỷ lệ sử dụng đất cho cây lâu năm cao nhất cùng với các quốc gia khác trong Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng.[167]

Tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 5,6 triệu tấn vào năm 2011 và 6,7 triệu tấn vào năm 2016. Sản lượng của ngành thủy sản Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng, điều này có thể nhờ vào sự mở rộng liên tục của phân ngành nuôi trồng thủy sản.[168]

Khoa học và công nghệ

Ảnh chụp robot hình người chơi bóng bàn TOPIO
Một robot hình người chơi bóng bàn TOPIO 3.0 do Việt Nam chế tạo được trưng bày tại Triển lãm Robot Quốc tế (IREX) năm 2009 ở Tokyo[169][170]

Năm 2010, tổng chi ngân sách nhà nước của Việt Nam cho khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP.[171] Kể từ khi chính phủ thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) vào năm 1975, quốc gia này đang nỗ lực phát triển chương trình vũ trụ quốc gia đầu tiên, đặc biệt là sau khi hoàn thiện cơ sở hạ tầng tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VSC) vào năm 2018.[172][173] Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc phát triển robot, chẳng hạn như mẫu robot hình người TOPIO.[169][170] Một trong những ứng dụng nhắn tin của Việt Nam, Zalo, được phát triển bởi Vương Quang Khải, một hacker người Việt, người sau đó đã làm việc với công ty dịch vụ công nghệ thông tin lớn nhất cả nước, Tập đoàn FPT.[174]

Sinh viên khoa học Việt Nam đang thực hiện thí nghiệm trong phòng thí nghiệm của trường đại học.
Sinh viên khoa học đang thực hiện một thí nghiệm trong phòng thí nghiệm của trường đại học

Theo Viện Thống kê UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP cho nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011.[175] Việt Nam xếp thứ 44 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu vào năm 2025. Thứ hạng của quốc gia này đã tăng lên kể từ năm 2012, khi đó xếp thứ 76.[176][177][178] Từ năm 2005 đến năm 2014, số lượng các công bố khoa học của Việt Nam được ghi nhận trong Web of Science của Thomson Reuters đã tăng với tốc độ cao hơn mức trung bình của Đông Nam Á.[179] Các công bố tập trung chủ yếu vào khoa học đời sống (22%), vật lý (13%) và kỹ thuật (13%), điều này nhất quán với những tiến bộ trong sản xuất thiết bị chẩn đoán và đóng tàu.[179]

Du lịch

Ảnh chụp Hội An, Di sản Thế giới của UNESCO và là một điểm đến du lịch lớn
Hội An, một UNESCO Di sản Thế giới, là một điểm đến du lịch. Trong ảnh là Chùa Cầu.

Du lịch đóng góp 7,5% vào tổng GDP của Việt Nam. Việt Nam đã đón khoảng 13 triệu lượt khách du lịch vào năm 2017, tăng 29,1% so với năm trước đó. Phần lớn khách du lịch đến quốc gia này, khoảng 9,7 triệu lượt, đến từ châu Á; cụ thể là Trung Quốc (4 triệu), Hàn Quốc (2,6 triệu) và Nhật Bản (798.119).[180] Việt Nam cũng thu hút du khách từ châu Âu, với gần 1,9 triệu lượt khách vào năm 2017; hầu hết du khách châu Âu đến từ Nga (574.164), tiếp theo là Vương quốc Anh (283.537), Pháp (255.396) và Đức (199.872). Các lượt khách quốc tế khác theo quốc tịch bao gồm Hoa Kỳ (614.117) và Úc (370.438).[180]

Những điểm đến được ghé thăm nhiều nhất tại Việt Nam là thành phố đông dân nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, với hơn 5,8 triệu lượt khách quốc tế, tiếp theo là Hà Nội với 4,6 triệu và Hạ Long, bao gồm cả Vịnh Hạ Long với 4,4 triệu lượt khách. Cả ba đều nằm trong danh sách 100 thành phố được ghé thăm nhiều nhất trên thế giới.[181] Việt Nam là nơi có tám Di sản Thế giới của UNESCO. Vào năm 2018, tạp chí Travel + Leisure đã xếp hạng Hội An là một trong 15 điểm đến tốt nhất thế giới để ghé thăm.[182]

Giao thông

Một phần mạng lưới giao thông của Việt Nam có nguồn gốc từ thời Pháp thuộc, khi nó được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu thô đến các cảng chính. Hệ thống này đã được mở rộng và hiện đại hóa sau khi Việt Nam bị chia cắt.[183] Hệ thống đường bộ của Việt Nam bao gồm các quốc lộ do cấp trung ương quản lý, tỉnh lộ do cấp tỉnh quản lý, huyện lộ do cấp huyện quản lý, đường đô thị do các thành phố và thị xã quản lý, và đường xã do cấp xã quản lý.[184] Vào năm 2010, hệ thống đường bộ của Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 188.744 kilômét (117.280 mi), trong đó 93.535 kilômét (58.120 mi) là đường nhựa bao gồm các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ.[184] Tổng chiều dài của hệ thống quốc lộ là khoảng 15.370 kilômét (9.550 mi) với 15.085 kilômét (9.373 mi) chiều dài đã được thảm nhựa. Hệ thống tỉnh lộ có khoảng 27.976 kilômét (17.383 mi) đường nhựa, trong khi 50.474 kilômét (31.363 mi) đường huyện đã được thảm nhựa.[184]

Ảnh chụp Đường cao tốc Bắc – Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đoạn TP.HCM – LT – DG thuộc Đường cao tốc Bắc – Nam
Ảnh chụp Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là sân bay bận rộn nhất Việt Nam.

Xe đạp, xe máy và xe tay ga vẫn là những loại hình giao thông đường bộ phổ biến nhất tại quốc gia này, một di sản từ thời Pháp, trong khi số lượng ô tô cá nhân đã tăng lên trong những năm qua.[185] Xe buýt công cộng do các công ty tư nhân vận hành là phương thức di chuyển đường dài chính của phần lớn người dân. Tai nạn giao thông vẫn là một vấn đề an toàn của giao thông Việt Nam, với trung bình 30 người tử vong mỗi ngày.[186] Ún tắc giao thông là một vấn đề ngày càng nghiêm trọng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là với sự gia tăng của việc sở hữu ô tô cá nhân.[187][188] Dịch vụ đường sắt xuyên quốc gia chính của Việt Nam là Tàu Thống Nhất đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, với quãng đường dài gần 1.726 kilômét (1.072 mi).[189]

Ảnh chụp một chiếc cần cẩu tại Cảng Hải Phòng
Cảng Hải Phòng.

Việt Nam vận hành 20 sân bay dân dụng, bao gồm ba cửa ngõ quốc tế: Nội Bài tại Hà Nội, Sân bay quốc tế Đà Nẵng tại Đà Nẵng, và Tân Sơn Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất cả nước, xử lý phần lớn lưu lượng hành khách quốc tế.[190] Theo một kế hoạch đã được chính phủ phê duyệt, Việt Nam sẽ có thêm bảy sân bay quốc tế nữa vào năm 2025, bao gồm Sân bay quốc tế Vinh, Sân bay quốc tế Phú Bài, Sân bay quốc tế Cam Ranh, Sân bay quốc tế Phú Quốc, Sân bay quốc tế Cát Bi, Sân bay quốc tế Cần Thơ, và Sân bay quốc tế Long Thành. Theo kế hoạch, Sân bay quốc tế Long Thành sẽ có công suất phục vụ hàng năm là 100 triệu hành khách sau khi đi vào hoạt động đầy đủ vào năm 2025.[191] Vietnam Airlines, hãng hàng không quốc gia thuộc sở hữu nhà nước, duy trì một phi đội gồm 86 máy bay chở khách và đặt mục tiêu vận hành 170 chiếc vào năm 2020.[192] Một số hãng hàng không tư nhân cũng hoạt động tại Việt Nam, bao gồm Air Mekong, Bamboo Airways, Jetstar Pacific Airlines, VASCOVietJet Air. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam có các cảng biển bao gồm Cam Ranh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hạ Long, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Cửa Lò, và Nha Trang. Tiến sâu hơn vào nội địa, mạng lưới sông ngòi của đất nước đóng vai trò quan trọng trong giao thông nông thôn với hơn 47.130 kilômét (29.290 mi) đường thủy có thể lưu thông cho phà, sà lan và taxi đường thủy.[193]

Năng lượng

Ảnh chụp Đập Sơn La
Đập Sơn La tại miền Bắc Việt Nam, đập thủy điện lớn nhất Đông Nam Á[194]

Ngành năng lượng của Việt Nam do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) do nhà nước kiểm soát chiếm ưu thế. Tính đến năm 2017, EVN chiếm khoảng 61,4% hệ thống phát điện của cả nước với tổng công suất điện là 25.884 MW.[195] Các nguồn năng lượng khác bao gồm PetroVietnam (4.435 MW), Vinacomin (1.785 MW) và 10.031 MW từ các nhà đầu tư xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT).[196] Hầu hết điện năng của Việt Nam được tạo ra từ thủy điện hoặc các nhà máy nhiệt điện nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt, trong khi nhiên liệu diesel, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo cung cấp phần còn lại.[196]

Phân khúc khí đốt gia dụng tại Việt Nam do PetroVietnam chiếm ưu thế, đơn vị kiểm soát gần 70% thị trường nội địa cho khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG).[197] Kể từ năm 2011, công ty này cũng vận hành năm nhà máy điện năng lượng tái tạo, bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 (750 MW), Nhà máy Điện gió Phú Quý (6 MW), Nhà máy Thủy điện Hủa Na (180 MW), Nhà máy Thủy điện Đăkđrinh (125 MW) và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 (1.200 MW).[198]

Theo thống kê từ BP, Việt Nam nằm trong danh sách 52 quốc gia có trữ lượng dầu thô xác minh. Vào năm 2015, trữ lượng này là khoảng 4,4 tỷ thùng, xếp Việt Nam ở vị trí thứ nhất tại Đông Nam Á, trong khi trữ lượng khí đốt xác minh là khoảng 0,6 nghìn tỷ mét khối (tcm), xếp thứ ba tại Đông Nam Á sau IndonesiaMalaysia.[199]

Viễn thông

Các dịch vụ viễn thông tại Việt Nam do Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (sau này là VNPT) cung cấp toàn bộ, đây là một công ty thuộc sở hữu nhà nước.[200] VNPT đã duy trì vị thế độc quyền cho đến năm 1986. Lĩnh vực viễn thông được cải cách vào năm 1995 khi chính phủ Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách cạnh tranh với việc thành lập hai công ty viễn thông trong nước là Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel, thuộc sở hữu hoàn toàn của Bộ Quốc phòng Việt Nam) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT hay SaigonPostel), với 18% cổ phần do VNPT sở hữu.[200] Vị thế độc quyền của VNPT cuối cùng đã bị chính phủ chấm dứt vào năm 2003 bằng việc ban hành một nghị định.[201] Đến năm 2012, ba nhà mạng viễn thông hàng đầu tại Việt Nam là Viettel, VinaphoneMobiFone. Các công ty còn lại bao gồm: EVNTelecom, Vietnammobile và S-Fone.[202] Với sự chuyển dịch sang một nền kinh tế định hướng thị trường hơn, thị trường viễn thông Việt Nam liên tục được cải cách để thu hút đầu tư nước ngoài, bao gồm việc cung cấp dịch vụ và thiết lập cơ sở hạ tầng viễn thông trên toàn quốc.[203]

Cấp nước và vệ sinh

Dòng suối chảy xuống đồi với một cây cầu bắc qua
Tại các khu vực nông thôn của Việt Nam, hệ thống nước máy được vận hành bởi nhiều tổ chức bao gồm một tổ chức quốc gia, các ủy ban nhân dân (chính quyền địa phương), các nhóm cộng đồng, hợp tác xã và các công ty tư nhân.

Việt Nam có 2.360 con sông với lưu lượng xả trung bình hàng năm là 310 tỷ m3. Mùa mưa chiếm 70% lượng xả trong năm.[204] Dựa trên một cuộc khảo sát năm 2008 của Hội Cấp thoát nước Việt Nam (VWSA), năng lực sản xuất nước hiện tại đã vượt quá nhu cầu. Khoảng một phần ba trong số 727 thị trấn huyện lỵ có một hình thức cung cấp nước máy nào đó.[205] Đang có những lo ngại về độ an toàn của các nguồn nước hiện có cho các hệ thống cấp nước đô thị và nông thôn. Hầu hết các nhà máy công nghiệp đều xả nước thải chưa qua xử lý trực tiếp vào các nguồn nước. Ở những nơi chính phủ không thực hiện các biện pháp để giải quyết vấn đề, hầu hết nước thải sinh hoạt được thải ngược lại môi trường mà không qua xử lý và làm ô nhiễm nguồn nước mặt.[205]

Trong những năm qua, đã có một số nỗ lực và sự hợp tác giữa các trường đại học trong và ngoài nước để phát triển việc tiếp cận nước sạch trong nước bằng cách áp dụng các hệ thống lọc nước. Có một mối lo ngại ngày càng tăng trong người dân địa phương về các vấn đề sức khỏe cộng đồng liên quan đến ô nhiễm nước do ô nhiễm và nồng độ asen trong các nguồn nước ngầm.[206] Chính phủ Hà Lan đã cung cấp viện trợ, tập trung đầu tư chủ yếu vào các lĩnh vực liên quan đến nước, bao gồm cả các dự án xử lý nước.[207][208][209] Về vấn đề vệ sinh, 78% dân số Việt Nam có quyền tiếp cận với "vệ sinh cải thiện" - 94% dân số đô thị và 70% dân số nông thôn. Có khoảng 21 triệu người trong cả nước thiếu quyền tiếp cận với vệ sinh "cải thiện" theo một cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2015.[210] Vào năm 2018, Bộ Xây dựng cho biết ngành cấp thoát nước của đất nước đã áp dụng các phương pháp công nghệ cao và công nghệ thông tin (CNTT) vào các vấn đề vệ sinh và đối mặt với những vấn đề như hạn chế về kinh phí, biến đổi khí hậu và ô nhiễm.[211] Bộ Y tế cũng đã thông báo rằng các đơn vị thanh tra nước sẽ được thành lập trên toàn quốc bắt đầu từ tháng 6 năm 2019. Việc thanh tra sẽ được thực hiện mà không báo trước, vì đã có những trường hợp liên quan đến các vấn đề sức khỏe do nguồn cấp nước bị ô nhiễm.[212]

Nhân khẩu

Dân số

Tỷ lệ tăng dân số Việt Nam giai đoạn 1980 – 2014

Tổng số dân của Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người, trong đó dân số nam là 47.881.061 người (chiếm 49,8%) và dân số nữ là 48.327.923 người (chiếm 50,2%). Với kết quả này, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới.[213] Năm 2021, dân số ước tính vào khoảng 98 triệu người.[214] Năm 2022, dân số ước tính vào khoảng 99,46 triệu người.[214] Việt Nam có 54 dân tộc trong đó người Kinh chiếm đa số với gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển. Các dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chămngười Khmer, phần lớn tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Trong số này, đông dân nhất là các dân tộc Tày, Thái, Mường... người Ơ Đu có số dân ít nhất. Có các dân tộc mới di cư vào Việt Nam vài trăm năm trở lại đây như người Hoa. Người Hoangười Ngái là hai dân tộc duy nhất có dân số giảm giai đoạn 1999 – 2009.

Theo điều tra của Tổng cục thống kê thì vùng đông dân nhất Việt Nam là đồng bằng sông Hồng với khoảng 22,5 triệu người, kế tiếp là bắc Trung bộduyên hải nam Trung bộ với khoảng 20,1 triệu người, thứ 3 là Đông Nam bộ với 17,8 triệu người, thứ 4 là đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,2 triệu người. Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,8 triệu người. Theo điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ (IPS) 2019 thì 34,4% dân số Việt Nam đang sinh sống tại thành thị và 65,6% cư trú ở nông thôn.[215] Về tỉ số giới tính trung bình vào năm 2019 là 99,1 nam/100 nữ. Theo nhận xét của tờ The Economist, mức độ giảm dân số do sinh suất tụt giảm tạo ra viễn cảnh lão hóa ở Việt Nam với tỉ lệ người cao niên hơn 60 tuổi dự đoán sẽ tăng từ 12% (2018) lên 21% (2040). Đỉnh dân số lao động của Việt Nam là vào năm 2013, sau đó sẽ giảm. Tỉ lệ trẻ/già bị cho là gây chao đảo về tài chính để cung cấp dịch vụ y tế và cấp dưỡng khi 90% người cao niên không có khoản tiết kiệm nào cả khi ngân sách nhà nước chỉ phụ cấp cho người hơn 80 tuổi với bình quân vài USD/tuần.[216][217]

 
20 thành phố hoặc thị xã lớn nhất tại Việt Nam
Hạng Tên Trực thuộc Dân số Hạng Tên Trực thuộc Dân số
Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh
Hà Nội
Hà Nội
1Thành phố Hồ Chí MinhTrung ương8.993.08211VinhNghệ An473.275 Hải Phòng
Hải Phòng
Cần Thơ
Cần Thơ
2Hà NộiTrung ương8.053.66312Thanh HóaThanh Hóa436.833
3Hải PhòngTrung ương2.028.51413Nha Trang (thành phố)Khánh Hòa422.601
4Cần ThơTrung ương1.235.17114Buôn Ma Thuột (thành phố)Đắk Lắk375.590
5Đà NẵngTrung ương1.134.31015Tân UyênBình Dương370.512
6HuếTrung ương1.128.62016Vũng TàuBà Rịa – Vũng Tàu357.124
7Biên Hòa (thành phố)Đồng Nai1.055.41417Thái NguyênThái Nguyên340.403
8Thủ ĐứcThành phố Hồ Chí Minh1.013.79518Bắc GiangBắc Giang326.354
9Thuận An (thành phố)Bình Dương596.22719Thủy Nguyên (thành phố)Hải Phòng333.810
10Dĩ AnBình Dương474.68120Hạ LongQuảng Ninh322.710
  1. Một số thành phố được mở rộng hoặc thành lập sau tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, bao gồm Thủ Đức, Thuận An, Huế, Dĩ An, Vinh, Tân Uyên, Thanh Hóa, Thủy Nguyên, Bắc Giang, Hạ Long.
  2. Không bao gồm dân số quy đổi (tính cả những người tạm trú).

Ngôn ngữ

Bản đồ các sắc tộc ngôn ngữ tại Đông Nam Á lục địa

Ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam là tiếng Việt, một ngôn ngữ thanh điệu thuộc ngữ hệ Nam Á và là tiếng mẹ đẻ của người Việt. Hiến pháp không quy định chữ viết quốc gia hay văn tự chính thức. Văn ngôn với chữ Hán ghi âm Hán-Việt được dùng trong các văn bản hành chính trước thế kỷ 20. Chữ Nôm dựa trên chất liệu chữ Hán để ghi âm thuần Việt hình thành từ khoảng thế kỷ 7 tới thế kỷ 13,[219][220][221] kết hợp với chữ Hán thành bộ chữ viết phổ thông cho tiếng Việt trước khi Việt Nam bị Thực dân Pháp xâm lược. Các tác phẩm thời kỳ trung đại của Việt Nam đều được ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm, tiêu biểu có Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết bằng chữ Hán hay Truyện Kiều của Nguyễn Du sáng tác bằng chữ Nôm.[222] Chữ Quốc ngữchữ Latinh được các nhà truyền giáo Dòng Tên như Francisco de PinaAlexandre de Rhodes phát triển vào thế kỷ 17 dựa trên bảng chữ cái của tiếng Bồ Đào Nha, sau này được phổ biến thông qua các quy định bảo hộ cùng tiếng Pháp của chính quyền thuộc địa thời Pháp thuộc.[219][223] Các nhóm sắc tộc thiểu số ở Việt Nam nói một số ngôn ngữ ví dụ như tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Mường, tiếng H'Mông, tiếng Chăm, và tiếng Khmer. Các hệ ngôn ngữ ở Việt Nam bao gồm Nam Á, Kra-Dai, Hán-Tạng, H'Mông-MiềnNam Đảo. Một số ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam cũng được hình thành tại các thành phố lớn.

Việt Nam tuy là thành viên của Cộng đồng Pháp ngữ, nhưng tiếng Pháp từ vị thế ngôn ngữ chính thức của chế độ thuộc địa đã suy yếu nhanh chóng và nhường chỗ cho tiếng Anh làm ngoại ngữ chính. Với mối quan hệ với các nước phương Tây đã thay đổi và những cải cách trong quản trị về kinh tế và giáo dục, tiếng Anh có thể sử dụng như ngôn ngữ thứ hai và việc học tiếng Anh giờ đây bắt buộc tại hầu hết các trường học bên cạnh hoặc thay thế cho tiếng Pháp.[224][225] Tiếng Nga, tiếng Đức được giảng dạy trong một số ít trường trung học phổ thông.[226] Tiếng Nhật, tiếng Trungtiếng Hàn cũng trở nên thông dụng hơn khi mối quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Á được tăng cường.[227][228][229]

Tôn giáo

Tôn giáo tại Việt Nam (2019)

  Công giáo (6.10%)
  Tin Lành (1.00%)
  Phật giáo (4.79%)
  Hòa Hảo (1.02%)
  Cao Đài (0.58%)
  Khác (0.19%)

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáotín ngưỡng. Đa số người Việt Nam không thuộc tổ chức tôn giáo nào nhưng đồng thời nhiều người trong số họ thực hành tín ngưỡng dân gian. Phật giáo du nhập vào cùng với Nho giáoĐạo giáo (gọi chung là tam giáo) có ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam. Phật giáo Việt Nam đa số thuộc Đại thừa và từng có vị thế như quốc giáo thời Nhà LýNhà Trần. Nho giáo đạt vị trí độc tôn dưới thời Lê sơ và Nguyễn sơ.[230] Một số tư tưởng Nho giáo cho tới nay vẫn giữ vai trò nhất định trong trật tự xã hội Việt Nam.Công giáo truyền vào từ thế kỷ 16; nền tảng của Công giáo Việt Nam được thiết lập vững chắc vào thế kỷ 17 bởi các thừa sai Dòng Tên Bồ Đào NhaÝ.[231] Tin Lành truyền giảng tại Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 bởi Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp. Ấn Độ giáo và sau này Hồi giáo truyền vào Chăm Pa. Bên cạnh các tôn giáo thế giới, Việt Nam còn có một số tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đàiđạo Hòa Hảo.

Tội phạm

Việt Nam có tỷ lệ tội phạm ở mức thấp hơn một số quốc gia phát triển.[232] Năm Cam, Khánh Trắng là một số ví dụ về băng nhóm tội phạm có tổ chức.

Việt Nam là địa điểm có các đầu dây mại dâm, ma túy.[233] Việt Nam chịu ảnh hưởng từ những địa danh buôn bán ma túy như Tam giác vàng và Trăng lưỡi liềm vàng. Theo một số quan chức nhận xét thì các hoạt động buôn bán ma túy càng ngày càng tinh vi và phức tạp.[233] Việt Nam tham gia các hội nghị quốc tế bàn thảo vấn đề trên như "Hội nghị quốc tế phòng, chống ma túy, khu vực nhóm công tác Viễn Đông" do mình chủ trì với sự hợp tác của 19 nước lân cận. Năm 2012, cả nước có ước tính khoảng 170 nghìn người nghiện ma túy.[233] Theo sự phát triển của kinh tế – xã hội, tội phạm có xu hướng tăng. Các vấn đề liên quan đến cá độ trong hoạt động thể thao rơi phần nhiều ở bóng đá.[234] một loại hình tội phạm khác đó là tham nhũng với một số vụ án như PMU 18, Vinashin, Việt Á, chuyến bay giải cứu. Việt Nam hiện vẫn duy trì án tử hình.

Giáo dục

Đại học Bách khoa Hà Nội

Tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho giáo dục tăng từ 10,89% năm 2005 lên đến 12,05% năm 2010 và 16,85% năm 2012.[235]

Ở Việt Nam có 5 cấp học: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại họcsau đại học. Các trường đại học chủ yếu tập trung ở Hà NộiTP. Hồ Chí Minh. Theo kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2013, điểm trung bình môn Khoa học của học sinh Việt Nam ở độ tuổi 15 năm 2012 đứng thứ 8 thế giới.[236] Có ý kiến cho rằng kết quả này không phản ánh đúng chất lượng giáo dục Việt Nam vì các trường phổ thông theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho kỳ thi PISA từ trước.[237][238]

Với bậc đại học, Việt Nam có tổng 376 trường cao đẳng, đại học trên cả nước trong đó Bộ Giáo dục trực tiếp quản lý 54 trường. 3 cơ sở đại học lớn nhất quốc gia gồm Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội. Năm 1988, Bộ Đại học ra Quyết định cho phép thành lập Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long, trường đại học dân lập đầu tiên tại Việt Nam và đến năm 2017, toàn Việt Nam có 84 trường dân lập, tư thục.[239] Tổng số sinh viên bậc đại học đến năm học 2016–2017 là 1.767.879 người.[240]

Y tế

Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội

Về cơ sở hạ tầng, tính đến năm 2010, toàn Việt Nam có 1.030 bệnh viện, 44 khu điều dưỡng phục hồi chức năng, 622 phòng khám đa khoa khu vực;[241] với khoảng 246.300 giường bệnh.[242] Bên cạnh các cơ sở y tế nhà nước đã bắt đầu hình thành một hệ thống y tế tư nhân bao gồm 19.895 cơ sở hành nghề y, 14.048 cơ sở hành nghề dược, 7.015 cơ sở hành nghề y học cổ truyền, 5 bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần giảm quá tải ở các bệnh viện nhà nước.[243] Mạng lưới y tế cơ sở của Việt Nam đã có 80% số thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số xã có trạm y tế trong đó gần 2/3 xã đạt chuẩn quốc gia.[244]

Về nhân lực trong ngành, Việt Nam hiện có hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước. Mỗi năm có hàng nghìn bác sĩ và dược sĩ đại học tốt nghiệp ra trường. Ngoài ra còn có hệ thống các trường đào tạo kỹ thuật viên trung học y, dược, nha tại các địa phương. Số lượng cán bộ nhân viên ngành y tế đã có 250.000 người trong đó có 47.000 người có trình độ đại học các loại.[245]

Một số tổ chức quốc tế tài trợ vốn ODA và một số Tổ chức phi chính phủ (NGO) đã hỗ trợ cho Ngành Y tế của Việt Nam, tính đến năm 2010, Bộ Y tế Việt Nam đang quản lý 62 dự án ODA và trên 100 dự án NGO với tổng kinh phí hơn một tỷ USD, các dự án phân bố ở các vùng miền.[246] Y tế Việt Nam có tham nhũng ở một số cấp độ, có thể tìm thấy trong cả 3 lĩnh vực quản lý nhà nước, dịch vụ tại cơ sở y tế và quản lý bảo hiểm y tế.[247]

Thống kê năm 2016, người Việt có tuổi thọ trung bình 75,6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Singapore.[248]

Văn hóa

Múa rối nước – một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian

Việt Nam có nền văn hóa đa dạng: từ vùng đồng bằng sông Hồng và vùng ThanhNghệ với văn hóa làng xã và văn minh lúa nước đến những sắc thái văn hóa các dân tộc miền núi tại Tây BắcĐông Bắc, đến nền văn hóa Chăm Pa của người Chăm tại Nam Trung Bộ, các bộ tộc Tây Nguyên, cùng vùng đất mới Nam Bộ kết hợp với văn hóa các sắc tộc Hoa, Khmer.

Về khía cạnh truyền thống, văn hóa chủ lưu của người Việt được coi là thuộc vùng văn hóa Á Đông (cùng với Trung Quốc, Triều TiênNhật Bản). Với lịch sử hàng nghìn năm, từ văn hóa bản địa thời Hồng Bàng đến những ảnh hưởng của Trung QuốcĐông Nam Á đến những ảnh hưởng của Pháp thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế kỷ 21, Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử.

54 dân tộc có những phong tục, những lễ hội mang ý nghĩa sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, sự khoan dung trong tư tưởng tôn giáo, tính cặn kẽ và ẩn dụ trong ngôn ngữ của văn học, nghệ thuật.

Âm nhạc

Nghệ thuật ca trù

Âm nhạc truyền thống khác nhau giữa các vùng miền của Việt Nam. Âm nhạc cổ điển ở miền Bắc là hình thức âm nhạc lâu đời nhất Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam có thể chịu ảnh hưởng bởi truyền thống âm nhạc Trung Quốc, Triều Tiên, Mông CổNhật Bản. Nhã nhạc là hình thức ca nhạc cung đình. Ca trù là một loại hình diễn xướng âm nhạc giàu chất liệu thi ca. Chèo, tuồng, cải lương là hình thức sân khấu ca nhạc cổ. Xẩm là một loại nhạc dân gian. Quan họ có ở Bắc NinhBắc Giang. Chầu văn là hình thức ca nhạc hầu đồng. Nhạc dân tộc cải biên là một hình thức của âm nhạc dân gian Việt Nam xuất hiện từ những năm 1950. UNESCO công nhận nhã nhạc Huế, ca trù, quan họ, hát xoan, đờn ca tài tử Nam Bộ, ví giặm Nghệ Tĩnh, bài chòi, cồng chiêng Tây Nguyên, hát then là những di sản văn hóa phi vật thể. Các nhạc cụ truyền thống có thể kể đến đàn bầu, đàn gáo, đàn nguyệt, đàn đá, trống, phách,...

Thế kỷ 20 xuất hiện các thể loại tân nhạc Việt Nam. Thời Chiến tranh Việt Nam, miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) phổ biến nhạc đỏ, trong khi nhạc vàng phát triển tại miền Nam (Việt Nam Cộng hòa). Âm nhạc hiện đại có tên gọi V-pop là thể loại ca nhạc tiếng Việt rất phổ biến trên các phương tiện truyền thông ngày nay, với các ca sĩ như Đàm Vĩnh Hưng, Đông Nhi, Sơn Tùng M-TP, Min, Mỹ Tâm hay các diva như Thanh Lam, Hồng Nhung, Trần Thu HàMỹ Linh.

Trang phục

Áo dài, trang phục truyền thống

Áo dài là trang phục truyền thống phổ biến ở Việt Nam, thường được nữ giới mặc trong những dịp như đám cướilễ hội. Áo dài trắng là đồng phục bắt buộc cho nữ sinh trung học ở một số trường trung học phổ thông tại Việt Nam, ít nhất là phải mặc trong tiết Chào cờ. một số ví dụ khác về trang phục tại Việt Nam bao gồm áo giao lĩnh, áo tứ thân, áo ngũ cốc, yếm, áo bà ba, áo gấm, áo Nhật Bình,... Mũ nón bao gồm nón lánón quai thao. Các trang phục của người dân tộc thiểu số cũng có thể sử dụng.

Ẩm thực

Phở (đôi khi ăn kèm với quẩy) – món ăn tiêu biểu của ẩm thực Việt Nam

Ẩm thực Việt Nam có sự kết hợp của 5 yếu tố cơ bản: cay, chua, đắng, mặn và ngọt. Nước mắm, nước tương,... là một trong những nguyên liệu tạo hương liệu trong món ăn.

Phong cách nấu ăn trong ẩm thực Việt Nam có thể có các nguyên liệu tươi hơn, dùng dầu ít hơn và phụ thuộc hơn vào rau thơm, rau quả.

Một đặc điểm để phân biệt ẩm thực Việt Nam với các nước khác là ẩm thực Việt Nam chú trọng ăn ngon, đôi khi không đặt mục tiêu hàng đầu là ăn bổ. Bởi vậy trong hệ thống có thể có ít hơn những món cầu kỳ, hầm nhừ, ninh kỹ như trong ẩm thực Trung Quốc cũng như không thiên về bày biện có tính thẩm mỹ cao như trong ẩm thực Nhật Bản mà thiên về phối trộn gia vị hoặc sử dụng những nguyên liệu dai, giòn (ví dụ như chân cánh gà, phủ tạng động vật, trứng vịt lộn,...).

Thể thao

Vovinam - môn võ tiêu biểu của Việt Nam

Các môn thể thao truyền thống Việt Nam có đấu vật, võ thuật, đá cầu, cờ tướng,... Ở một số khu vực tập trung người dân tộc thiểu số có bắn nỏ, đẩy gậy. Một số môn thể thao hiện đại có sự phổ biến như bóng đá, bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, billiards, cờ vua,... Bóng đá là môn thể thao được người Việt Nam quan tâm, chơi và theo dõi nhiều nhất.

Tại các kỳ Olympic mùa hè, Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng hòa tham gia từ năm 1952 đến năm 1972 nhưng không có huy chương, còn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không tham gia lần nào. Sau khi thống nhất vào năm 1975, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 1980, có huy chương đầu tiên là huy chương bạc vào năm 2000 bởi võ sĩ Taekwondo Trần Hiếu Ngân, và giành được huy chương vàng đầu tiên vào năm 2016 của Hoàng Xuân Vinh trong môn bắn súng. Ở Olympic người khuyết tật, Việt Nam tham gia từ năm 2000 và cũng có huy chương vàng đầu tiên do lực sĩ Lê Văn Công ở môn cử tạ đạt được vào năm 2016.[249] Do là nước nhiệt đới, Việt Nam không phát triển các môn thể thao mùa đông (như trượt băng), cũng như chưa từng tham gia Olympic mùa đông.

Ngày lễ

Các ngày nghỉ lễ ở Việt Nam
Ngày thángSố ngàyTên
1 tháng 11Tết Dương Lịch
30 tháng 12 (29 tháng 12 nếu tháng thiếu) đến 4 tháng 1 (âm lịch)5-15Tết Nguyên Đán
10 tháng 3 (âm lịch)1Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
30 tháng 4Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
1 tháng 5Ngày Quốc tế Lao động
2 tháng 9 2 Ngày Quốc khánh
24 tháng 11 1 Ngày Văn hóa Việt Nam

Ghi chú

  1. Hiến pháp Việt Nam 2013, điều 5.3[1]
  2. Diện tích của Việt Nam được đề cập ở đây dựa trên số liệu thống kê diện tích đất đai do chính phủ Việt Nam cung cấp. Hiện cũng tồn tại các con số thay thế khác. Theo CIA World Factbook, tổng diện tích của Việt Nam là 331.210 ki-lô-mét vuông,[5] trong khi BBC trích dẫn một phép đo là 331.699 ki-lô-mét vuông.[6]
  3. theo Danh sách quốc gia theo diện tích

Chú thích

  1. "CHƯƠNG I – CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ – HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM". CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2019.
  2. Tổng cục Thống kê Việt Nam 2019.
  3. "2019 Report on International Religious Freedom: Vietnam". U.S. Department of State.
  4. "Phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2022" [Approval and announcement of land area statistics for 2022]. Quyết định số 3048/QĐ-BTNMT 2022 (PDF). Bộ Tài nguyên và Môi trường.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  5. 1 2 "Việt Nam". The World Factbook (bằng tiếng Anh). Cơ quan Tình báo Trung ương. ngày 17 tháng 1 năm 2024. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2024.
  6. 1 2 "Hồ sơ quốc gia Việt Nam". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 24 tháng 2 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2021.
  7. "Vietnam Geography Profile 2018". IndexMundi (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 7 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  8. Infographic social-economic situation in the 4th quarter and 2025 (Báo cáo). Cục Thống kê. tháng 1 năm 2026.
  9. 1 2 3 4 5 6 "World Economic Outlook Database (April 2026 Edition)". www.imf.org. Quỹ Tiền tệ Quốc tế. ngày 14 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2026.
  10. "Socioeconomic Indicators - Vietnam | Market Forecast". Statista (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2025.
  11. "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc . ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  12. "Hiến pháp năm 2013". CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT. ngày 28 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2023.
  13. TTXVN (ngày 29 tháng 1 năm 2019). "25 năm ngày Hoa Kỳ dỡ bỏ cấm vận với Việt Nam". vnanet.vn. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021.
  14. Truth & Transparency Foundation (ngày 28 tháng 1 năm 2021). "2020 Corruption Perceptions Index - Vietnam". www.transparency.org. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  15. Nhật Linh (ngày 15 tháng 4 năm 2021). "Hơn 60% người già Việt Nam không có lương hưu". Báo điện tử VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2021.
  16. "World Report 2019: Rights Trends in Vietnam". Human Rights Watch (bằng tiếng Anh). ngày 15 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  17. Woods 2002, tr. 38.
  18. Xie, Xuanjun (2015). 日本"起源于中国考 (A Research On Japan's Origin with China) (bằng tiếng Trung). Lulu.com. tr. 179. ISBN 978-1-329-31163-3. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 4 năm 2016. 先是,阮福映表請以「南越」二字錫封
  19. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên 第179页
  20. 郭振铎, 张笑梅. 越南通史. 北京: 中国人民大学出版社, năm 2001. ISBN 7-300-03402-0. Trang 536.
  21. Tonnesson & Antlov 1996, tr. 117.
  22. Tonnesson & Antlov 1996, tr. 126.
  23. "Website Chính phủ Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
  24. "Bộ Ngoại giao Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2020.
  25. "Vietnam noun – Definition, pictures, pronunciation and useage notes". Oxford Learner's Dictionaries. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  26. "Vietnamese noun – Definition, pictures, pronunciation and useage notes". Oxford Learner's Dictionaries.
  27. "Viet Nam – Did you spell it correctly?". Oxford Learner's Dictionaries. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2021.
  28. "Viet Namese – Did you spell it correctly?". Oxford Learner's Dictionaries.
  29. "VN - Viet Nam". Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2023.
  30. Đoàn Xuân Hưng. "Thông tư 03/2009/TT-BNG hướng dẫn dịch Quốc hiệu, tên các cơ quan, đơn vị và chức danh lãnh đạo, cán bộ công chức trong hệ thống hành chính nhà nước sang tiếng Anh để giao dịch đối ngoại" (PDF). Bộ Công thương. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2023.
  31. "Vietnam in Other Languages". 101languages.net. ngày 6 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2021.
  32. "Do You Know How to Say Vietnam in Different Languages?". www.indifferentlanguages.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2021.
  33. 1 2 3 4 "Origin of Vietnamese People". American Technologies, Inc. (Business Collaboration Services) (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  34. Cooke, Li & Anderson 2011, tr. 46
  35. Ngô Văn Thạo, tr. 823-824
  36. "History of Vietnam: Chinese Colonization". Windows on Asia (Asian Studies Center, Michigan State University) (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  37. Hà Anh Thư 2000, tr. 29
  38. "Spears offer insight into early military strategy". Việt Nam News (bằng tiếng Anh). Thông tấn xã Việt Nam. ngày 22 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  39. Việt Nam sử lược (越南史略), Trần Trọng Kim tr. 99.
  40. Eugene Page & M. Sonnenburg, tr. 723
  41. Đại Việt sử lược, tr. 52
  42. Nguyễn Khắc Ngữ (1988). Tây-phương tiếp-xúc với Việt-nam, Cuốn 1: Bồ-đào-nha, Tây-ban-nha và Hòa-lan giao-tiếp với Đại-Việt (thế kỷ XVI, XVII, XVIII). Montréal, Canada: Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam.
  43. Jacques, Roland (2002). Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 – Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu'en 1650 (bằng tiếng Anh và Pháp). Bangkok, Thái Lan: Orchid Press. ISBN 974-8304-77-9.
  44. Keith, Charles (2012). Catholic Vietnam: A Church from Empire to Nation. University of California Press. tr. 18–21. ISBN 9780520272477.
  45. "French Counterrevolutionary Struggles: Algeria and Indochina" (PDF). United States Army Command and General Staff College (bằng tiếng Anh). 1968. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  46. Hirschman, Charles; Preston, Samuel; Vũ Mạnh Lợi (1995). "Vietnamese Casualties During the American War: A New Estimate" (PDF). Population and Development Review (bằng tiếng Anh). 21 (4). Population Council: 783–812. JSTOR 2137774. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2010.
  47. "Cựu hoàng Bảo Đại và những canh bạc đế vương". Báo Diễn đàn Doanh nghiệp. ngày 25 tháng 5 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  48. Nash, Gary B.; Jeffrey, Julie Roy; Howe, John R.; Frederick, Peter J.; Davis, Allen F.; Winkler, Allan M.; Mires, Charlene; Pestana, Carla Gardina (2007). The American People, Concise Edition Creating a Nation and a Society, Combined Volume (bằng tiếng Anh) (ấn bản thứ 6). New York: Longman. ISBN 978-0205568437.
  49. Doyle, Robert C. (2010). The Enemy in Our Hands: America's Treatment of Enemy Prisoners of War from the Revolution to the War on Terror (bằng tiếng Anh). University Press of Kentucky. tr. 269. ISBN 978-0-8131-2589-3.
  50. Neher, Clark D. "Vietnam War". Southeast Asia Digital Library (bằng tiếng Anh). Đại học Bắc Illinois. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  51. Browne, Malcolme W. (ngày 13 tháng 10 năm 1999). "Saigon's Finale". The New York Times (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  52. F. Martin, Michael (ngày 29 tháng 10 năm 2009). "U.S.-Vietnam Economic and Trade Relations: Issues for the 111th Congress" (PDF). CRS Report for Congress. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2015.
  53. Thayer, Carlyle (1991). "Renovation and Vietnamese society: The changing roles of government and administration". Trong Forbes, Dean K. (biên tập). Doi Moi: Vietnam's Renovation, Policy, and Performance. Australian National University. Department of Political and Social Change. tr. 21–33. ISBN 978-0731513031.
  54. Nasuchon 2008, tr. 7.
  55. Protected Areas and Development Partnership 2003, tr. 13.
  56. Frohlich và đồng nghiệp 2013, tr. 5.
  57. Natural Resources and Environment Program 1995, tr. 56.
  58. AgroViet Newsletter 2007.
  59. Huu Chiem 1993, tr. 183.
  60. Hong Truong, Ye & Stive 2017, tr. 757.
  61. Vietnamese Waters Zone.
  62. Cosslett & Cosslett 2017, tr. 13.
  63. Van De và đồng nghiệp 2008.
  64. Vietnam National Administration of Tourism 2014.
  65. Boobbyer & Spooner 2013, tr. 173.
  66. Cosslett & Cosslett 2013, tr. 13.
  67. Anh 2016a.
  68. The Telegraph.
  69. James Owen (ngày 9 tháng 7 năm 2009). "World's Biggest Cave Found in Vietnam". National Geographic. Washington, D.C. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2025.
  70. Natasha Geiling (ngày 1 tháng 10 năm 2014). "From the Biggest to the Longest, Five Amazing Caves to Visit". Smithsonian. Washington, D.C. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2025.
  71. Vu 1979, tr. 66.
  72. Riehl & Augstein 1973, tr. 1.
  73. "Vietnam Climate". WorldData.info. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2023.
  74. "MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ ĐỊA LÝ VIỆT NAM". Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2018.
  75. "Vietnam". Country Nuclear Power Profiles: 2012 Edition. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2018.
  76. "Climate". Tổng cục Du lịch Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2018.
  77. 1 2 Buleen 2017.
  78. Vietnam Net 2018a.
  79. "Vietnamese amazed at snow-capped northern mountains". VnExpress. ngày 11 tháng 1 năm 2021.
  80. 1 2 Thi Anh.
  81. Overland 2017.
  82. "Report: Flooded Future: Global vulnerability to sea level rise worse than previously understood". climatecentral.org. ngày 29 tháng 10 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2019.
  83. 1 2 3 4 5 6 Ministry of Natural Resources and Environment.
  84. UNESCO World Heritage Convention 1994.
  85. UNESCO World Heritage Convention 2003.
  86. BirdLife International 2016.
  87. Kinver 2011.
  88. 1 2 Dall 2017.
  89. Dang Vu & Nielsen 2018.
  90. Nam Dang & Nielsen 2019.
  91. Banout và đồng nghiệp 2014.
  92. 1 2 Cerre 2016.
  93. Brown 2018.
  94. AFP staff 2016.
  95. MacLeod 2012.
  96. United States Agency for International Development.
  97. Stewart 2018.
  98. Viet Nam News 2018a.
  99. Nikkei Asian Review 2018.
  100. NHK World-Japan 2018.
  101. Agent Orange Record.
  102. Grantham, H. S.; và đồng nghiệp (2020). "Anthropogenic modification of forests means only 40% of remaining forests have high ecosystem integrity – Supplementary Material". Nature Communications. 11 (1): 5978. Bibcode:2020NatCo..11.5978G. doi:10.1038/s41467-020-19493-3. ISSN 2041-1723. PMC 7723057. PMID 33293507.
  103. Berg và đồng nghiệp 2007.
  104. Merola và đồng nghiệp 2014.
  105. Miguel & Roland 2005.
  106. Chính phủ Vương quốc Anh 2017.
  107. LM Report 2000.
  108. United Nations Development Programme 2018.
  109. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ 2006.
  110. Van Thanh 2016.
  111. 1 2 3 4 5 6 Chính phủ Việt Nam (II).
  112. Greenfield 1994, tr. 204.
  113. Baccini, Impullitti & Malesky 2017.
  114. The Economist 2008.
  115. Embassy of Vietnam in USA.
  116. Bộ Tư pháp Việt Nam 1999.
  117. "Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, từ ngày 12/6, cả nước còn 34 tỉnh, thành phố". Quốc hội Việt Nam. ngày 12 tháng 6 năm 2025. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2025.
  118. 1 2 3 Thayer 1994.
  119. Thanh Hai 2016, tr. 177.
  120. Garlick, Jeremy (2024). Advantage China: Agent of Change in an Era of Global Disruption. Bloomsbury Academic. ISBN 978-1-350-25231-8.
  121. Bộ Ngoại giao Việt Nam 2018.
  122. Bộ Ngoại giao Việt Nam 2013.
  123. 1 2 Bộ Ngoại giao Việt Nam 2007.
  124. Bộ Ngoại giao Việt Nam 2014.
  125. Bich Loan 2007.
  126. Dayley 2018, tr. 98.
  127. Mitchell 1995.
  128. Garamone 2016.
  129. Hutt 2020.
  130. Tran 2020.
  131. "Tại sao Việt Nam sẽ không chọn bên chống lại Trung Quốc". The Diplomat (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
  132. "Hoa Kỳ có đang mất vị thế tại Việt Nam? Nga, Triều Tiên và Trung Quốc đang chiếm ưu thế". The New York Times (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2025.
  133. Cornell University.
  134. Kim Phuong 2014, tr. 1.
  135. Kimura 1986.
  136. Adhikari, Kirkpatrick & Weiss 1992, tr. 249.
  137. Van Tho 2003, tr. 11.
  138. Litvack, Litvack & Rondinelli 1999, tr. 31.
  139. Freeman 2002.
  140. Litvack, Litvack & Rondinelli 1999, tr. 33.
  141. 1 2 Van Tho 2003, tr. 5.
  142. Hoang Vuong & Dung Tran 2009.
  143. Hoang Vuong 2014.
  144. Largo 2002, tr. 66.
  145. International Monetary Fund 1999, tr. 23.
  146. Cockburn 1994.
  147. Pincus 2015, tr. 27; bài báo này đề cập đến lý thuyết thương mại quốc tế gọi là "Xả dư thừa" (Vent for surplus).
  148. Quang Vinh, tr. 13.
  149. "WTO | Accessions: Viet Nam". www.wto.org. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
  150. Asian Development Bank 2010, tr. 388.
  151. Thanh Nien 2010.
  152. Vierra & Vierra 2011, tr. 5.
  153. 1 2 Vandemoortele & Bird 2010.
  154. Cuong Le và đồng nghiệp 2010, tr. 23.
  155. H. Dang & Glewwe 2017, tr. 9.
  156. Vandemoortele 2010.
  157. UPI.com 2013.
  158. Fong-Sam 2010, tr. 26.
  159. Viet Nam News 2018b.
  160. Vietnam News Agency 2018.
  161. Tuoi Tre News 2012.
  162. Vietnam Net 2016a.
  163. Mai 2017.
  164. Đài Tiếng nói Việt Nam 2018c.
  165. Nielsen 2007, tr. 1.
  166. Summers 2014.
  167. Truong, Vo & Nguyen 2018, tr. 172.
  168. "Fisheries Country Profile: Vietnam". Southeast Asian Fisheries Development Center. tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2021.
  169. 1 2 DigInfo 2007.
  170. 1 2 Borel 2010.
  171. Viet Nam News 2010.
  172. Vietnam National Space Centre 2016.
  173. Vietnam Academy of Science and Technology 2017.
  174. Raslan 2017.
  175. UNESCO Media Services 2016.
  176. "GII Innovation Ecosystems & Data Explorer 2025". WIPO. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  177. Dutta, Soumitra; Lanvin, Bruno (2025). Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads (bằng tiếng Anh). World Intellectual Property Organization. tr. 19. doi:10.34667/tind.58864. ISBN 978-92-805-3797-0. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  178. "Global Innovation Index". INSEAD Knowledge. ngày 28 tháng 10 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2021.
  179. 1 2 UNESCO Publishing, tr. 713–714.
  180. 1 2 Tổng cục Du lịch Việt Nam 2018.
  181. Quy 2018.
  182. Terzian 2018.
  183. Crook 2014, tr. 7.
  184. 1 2 3 Tổng cục Thống kê Việt Nam 2010.
  185. Huu Duc và đồng nghiệp 2013, tr. 2080.
  186. Tổng cục Thống kê Việt Nam 2011.
  187. Linh Le & Anh Trinh 2016.
  188. Sohr và đồng nghiệp 2016, tr. 220.
  189. Chin 2018.
  190. Hoang 2016, tr. 1.
  191. Vietnam Investment Review 2018.
  192. Ha, Giang & Denslow 2012.
  193. Index Mundi 2018.
  194. Intellasia 2010.
  195. Electricity of Vietnam 2017, tr. 10.
  196. 1 2 Electricity of Vietnam 2017, tr. 12.
  197. Nikkei Asian Review.
  198. Viet Trung, Quoc Viet & Van Chat 2016, tr. 70.
  199. Viet Trung, Quoc Viet & Van Chat 2016, tr. 64.
  200. 1 2 Pham 2015, tr. 6.
  201. Pham 2015, tr. 7.
  202. Viet Nam News 2012.
  203. Oxford Business Group 2017.
  204. British Business Group Vietnam 2017, tr. 1.
  205. 1 2 British Business Group Vietnam 2017, tr. 2.
  206. University of Technology Sydney 2018.
  207. Government of the Netherlands 2016.
  208. Government of the Netherlands 2018.
  209. Anh 2018.
  210. UNICEF 2015.
  211. Viet Nam News 2018c.
  212. Viet Nam News 2018d.
  213. Trung tâm Tư liệu và Dịch vụ Thống kê, Tổng cục Thống kê. "Công bố kết quả Tổng điều tra dân số 2019". Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2019.{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết)
  214. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên :0
  215. "Dân số Việt Nam vượt mốc 90 triệu người". Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2015.
  216. "Xu hướng phát triển dân số Việt Nam: Chưa giầu đã già". RFI. ngày 14 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  217. THIÊN THANH (ngày 26 tháng 11 năm 2017). "Đối diện nguy cơ về dân số". Báo Nhân Dân. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2019.
  218. General Statistics Office (2019). Kết quả Toàn bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 (Completed Results of the 2019 Viet Nam Population and Housing Census). Statistical Publishing House. ISBN 978-604-75-1532-5. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2021.
  219. 1 2 Zwartjes 2011, tr. 292.
  220. Choy 2013, tr. 340.
  221. Dinh Tham 2018, tr. 67.
  222. Ozolinš 2016, tr. 130.
  223. Jacques 1998, tr. 21.
  224. Van Van, tr. 9.
  225. Bộ thương mại quốc tế Vương quốc Anh 2018.
  226. Van Van, tr. 8.
  227. Wai-ming 2002, tr. 3.
  228. Anh Dinh 2016, tr. 63.
  229. Hirano 2016.
  230. Lý, Tùng Hiếu (2015). "Ảnh hưởng của Nho giáo trong văn hóa Việt Nam". Tạp chí Khoa học xã hội. Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  231. Tran, Anh Q. (2018). "The Historiography of the Jesuits in Vietnam: 1615–1773 and 1957–2007". Brill. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2020.
  232. "Vietnam was among 8 safest destinations: MSN Travel". Tuổi Trẻ News (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  233. 1 2 3 Khánh Hiền (ngày 5 tháng 12 năm 2012). "Việt Nam chịu ảnh hưởng của các điểm "nóng" tội phạm ma túy – Pháp luật – Dân trí". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2015.
  234. "Tệ lô đề ở Việt Nam lên báo nước ngoài – VnExpress". VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  235. "Niên giám Thống kê 2013". Tổng cục Thống kê Việt Nam. Trung tâm Tư liệu Thống kê. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  236. Xuân, Vũ (ngày 4 tháng 12 năm 2013). "Học sinh Việt Nam vượt Mỹ về Toán và Khoa học". Báo điện tử Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  237. "Việt Nam vượt Mỹ, Úc nhờ... luyện 'gà chọi'?". VietNamNet. ngày 18 tháng 5 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  238. "Bộ Giáo dục bất ngờ với kết quả xếp hạng học sinh". VietNamNet. ngày 4 tháng 12 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  239. "Muốn thành lập trường đại học tư thục phải có 1.000 tỷ đồng". Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  240. "Những con số biết nói về giáo dục đại học Việt Nam". Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.
  241. "Số cơ sở khám, chữa bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)" (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). ngày 6 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  242. "Số giường bệnh (chưa kể cơ sở tư nhân)" (Thông cáo báo chí). Tổng cục Thống kê (Việt Nam). ngày 6 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012.
  243. Thái, Bình (ngày 1 tháng 9 năm 2014). "Nỗ lực giảm tải và những tín hiệu vui". Báo Sức khỏe & Đời sống. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  244. Văn, Hải (ngày 27 tháng 2 năm 2010). "Ngành Y tế 55 năm làm theo lời Bác dạy". VOVNEWS.VN. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  245. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên autogenerated2001
  246. "Năm 2009, ngành y tế triển khai hiệu quả các nguồn vốn viện trợ". Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. ngày 4 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  247. Minh, Quang (ngày 26 tháng 11 năm 2009). "Tham nhũng trong ngành y tế nghiêm trọng". Tuổi Trẻ Online. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
  248. Minh Anh (ngày 29 tháng 9 năm 2016). "Người Việt thọ 75,6 tuổi, đứng thứ 2 khu vực". VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2021.
  249. "Việt Nam có thêm 2 huy chương ở Paralympics". Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2018.

Nguồn

Sách in

Nguồn từ nhà nước và chính phủ

Nghiên cứu khoa học

Tin tức và tạp chí

Websites

Free content

 Bài viết này có chứa văn bản từ một tác phẩm có nội dung tự do. Dưới giấy phép CC BY-SA IGO 3.0. Văn bản lấy từ UNESCO Science Report: towards 2030, 713–714, UNESCO, UNESCO Publishing.
Bản mẫu:US DOS Background Notes

Liên kết ngoài