Vinh Sơn Phạm Văn Dụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vincent de Paul Phạm Văn Dụ
Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng (1960 - 1998)

Giám mục phụ tá Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng (1960)
Pham Van Du.JPG
Khẩu hiệu: "Theo Chúa trong mọi trường hợp"
Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng
Tòa giám mục Lạng Sơn
Tấn phong 1 tháng 5 năm 1979
Hưu 9 tháng 3 năm 1998
Tiền nhiệm Réginald-André-Paulin-Edmond Jacques Mỹ
(GM Giám quản tông tòa GP. Lạng Sơn và Cao Bằng)
Kế vị Giuse Ngô Quang Kiệt
(GM chính tòa GP. Lạng Sơn và Cao Bằng, Giám quản GP. Lạng Sơn và Cao Bằng)


"không"
(GM phụ tá Lạng Sơn và Cao Bằng)

Thụ phong 8 tháng 9 năm 1948
Ngày sinh 14 tháng 10 năm 1922
Ngày mất 2 tháng 9, 1998 (75 tuổi)
Nơi an táng Tòa Giám mục Lạng Sơn
Quốc tịch Việt Nam
Giáo hội Công giáo Rôma
Quê quán Phát Diệm, Việt Nam
Thánh quan thầy Vinh Sơn

Vinh Sơn Phạm Văn Dụ (1922 - 1998) là một Giám mục Công giáo Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Tiên khởi của Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng.

Bước đầu tu hành[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 14 tháng 10 năm 1922, tên thánh là Vinh Sơn Phaolô (Vincent de Paul), trong một gia đình Công giáo tại Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình. Hầu hết các anh em trong gia đình ông đều có chí hướng đi tu.

Lúc còn nhỏ, ông theo học trường đệ tử dòng Phanxicô Thanh Hóa. Năm 1939, ông xin vào Tiểu chủng viện Thánh Têrêxa Lạng Sơn trong chương trình lớp đệ nhị sau đó là Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội.

Ông được Giám mục Hedde (tên Việt: Minh) phong chức linh mục ngày 8 tháng 9 năm 1948. Sau khi thụ phong, ông được bổ nhiệm làm Phó xứ tại Đồng Đăng. Sau khi chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát miền Bắc Việt Nam, các giáo sĩ nước ngoài lần lượt phải rời miền Bắc. Tại giáo phận Lạng Sơn, Giám mục Jacques (tên Việt:Mỹ), các linh mục Nerdeux (tên Việt:), Guibert (tên Việt:Hiền) lần lượt rời giáo phận sang Lào vào năm 1958. Ngày 29 tháng 5 năm 1959, Linh mục Vincent Phạm Văn Dụ được Tòa Thánh Vatican đặt lên chức Tổng quản địa phận để hỗ trợ Giám mục Hedde Minh. Không lâu sau, ông được bổ nhiệm lên làm Chánh xứ Thất Khê.

Vị Giám mục lặng lẽ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 3 năm 1960, ông được Tòa Thánh phong làm Giám mục Hiệu tòa Boseta. Ngày 4 tháng 5 năm 1960, Giám mục Hedde Minh qua đời, ông được kế nhiệm làm giám quản Tông tòa. Ngày 26 tháng 11 năm 1960, cùng với việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, ông được đặt lên làm Giám mục chính tòa Lạng Sơn.

Do hoàn cảnh chiến tranh và những trở ngại từ chính quyền, dù đã được bổ nhiệm nhưng ông vẫn chưa có điều kiện tấn phong Giám mục. Lúc này, ngoài Giám mục Dụ chỉ còn 3 linh mục phục vụ trong địa phận Lạng Sơn. Suốt thời gian này, ông sống âm thầm một mình, rất ít liên lạc với thế giới bên ngoài. Năm 1979, Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, quân Trung Quốc vượt biên giới tấn công vào Việt Nam. Ông cùng với một số giáo dân tản cư về Bắc Ninh. Trong dịp này, Giám mục Giáo phận Bắc NinhPhaolô Giuse Phạm Đình Tụng đã làm lễ tấn phong Giám mục cho ông trong một nhà nguyện nhỏ tại Tòa Giám mục Bắc Ninh ngày 1 tháng 3 năm 1979.[1]

Sau lễ tấn phong, ông đã trở về Thất Khê, tiếp tục sống lặng lẽ. Mãi đến năm 1990, ông mới về nhận nhiệm sở tại Lạng Sơn sau 31 năm ẩn dật tại Thất Khê. Lý giải việc này, Tạp chí "Các Giáo hội Á Châu" số 101 ngày 16 tháng 12 năm 1990 cho biết bấy giờ chính quyền Việt Nam đã thừa nhận ông là Giám mục Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng sau khi phái đoàn Hồng y Etchegaray gặp gỡ và thương lượng với chính phủ. Ngày 19 tháng 8 năm 1991, ông sang Rôma để triều yết Giáo hoàng và nhân tiện chữa bệnh. Ngày 7 tháng 12 năm đó, ông trở về Việt Nam và dọn về ở Tòa Giám mục Lạng Sơn.

Năm 1997, sức khoẻ của ông ngày một giảm sút. Ngày 9 tháng 3 năm 1998, Toà Thánh phê chuẩn đơn xin nghỉ hưu, ông qua đời lúc 0 giờ 45 ngày 2 tháng 9 năm 1998, sau 38 năm phục vụ giáo hội.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]